Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2026

Hồi ức : BỮA SÁNG NGÀY XƯA - St trên FB.

   


BỮA SÁNG NGÀY XƯA. 

Năm 1990 – Bữa sáng ngày xưa và bữa sáng bây giờ: Cái đói đi học, cái no lại khó ăn**

“Hồi đó tụi nhỏ đi học bụng đói queo… còn giờ no đủ lại phải năn nỉ từng muỗng.”

Bữa sáng hồi đó nói thiệt… nhiều khi không có gì gọi là bữa sáng.

Đứa thì vét chén cơm nguội chan nước mắm, ăn đỡ rồi xách cặp đi học.

Đứa nghèo hơn nữa, chỉ uống ca nước lã cho đỡ xót ruột rồi đi luôn.

Đường đất dài thâm thẩm, hai bên ruộng lúa mênh mông. Bụng đói cồn cào mà vẫn ráng đi cho kịp giờ.

Vô tới lớp, bụng réo từng cơn cũng hổng dám nói. Chỉ cúi đầu học, lâu lâu nuốt nước miếng cho đỡ đói. Thấy bạn có cục khoai, miếng chuối mà thèm đứt ruột… rồi cũng quay mặt đi, làm bộ hổng thấy.

Cái nghèo hồi đó nó vậy đó – im im mà thấm dữ lắm.

Còn bây giờ…

Bàn ăn sáng đầy đủ: hủ tiếu nóng hổi, ổ bánh mì thơm lừng, ly sữa còn bốc khói....

Mà con nít lại hổng chịu ăn.

Phải đút từng muỗng, phải năn nỉ: “Ăn đi rồi lát má mua đồ chơi, cho coi điện thoại…”

Có khi ăn một bữa sáng mà kéo dài gần cả tiếng.

Ngày xưa – thiếu ăn nhưng hổng dám bỏ học.

Ngày nay – đủ đầy mà ăn uống lại thành chuyện khó.

Chén cơm nguội năm xưa tuy đạm bạc…

mà nuôi lớn cả một tuổi thơ nghèo, nhớ quài !...

Thạnh Phú hôm nay (FB) 

Suy ngẫm : CHUYỆN 2 CÁI KẸP - St trên FB.

 



CHUYỆN 2 CÁI KẸP 

Con người từng biết cách làm ra những thứ để gắn bó lâu dài.

ha tôi đưa cho tôi hai chiếc kẹp phơi đồ.

Ông nói nhẹ:

“Nhìn đi… đây là câu chuyện của cả một thời.”

Một tay, ông đặt chiếc kẹp từ những năm 1960. Gỗ đặc, cứng cáp. Bề mặt đã mòn đi theo năm tháng, nhưng lại mịn màng theo cách rất riêng. Sáu mươi năm trôi qua, nó vẫn kẹp chắc như ngày đầu.

Tay còn lại là chiếc kẹp của năm 2025. Nhẹ hơn, gỗ nhạt màu, cảm giác mong manh. Lò xo nhỏ, lỏng lẻo. Trên bao bì ghi “siêu bền”, khiến cha tôi chỉ nhướng mày.

Nhìn qua, chỉ là hai chiếc kẹp.

Nhưng thật ra, chúng đang kể một câu chuyện lớn hơn nhiều.

Một bên là thứ được làm ra để dùng lâu.

Một bên là thứ được làm ra để… sớm hỏng.

Từ chỗ trân trọng độ bền, con người dần chuyển sang tiêu dùng nhanh.

Từ tay nghề và sự chăm chút, mọi thứ bị kéo về giá rẻ và sản xuất hàng loạt.

Từ trách nhiệm, chuyển thành thói quen mua rồi bỏ.

Người ta tạo ra sản phẩm mà chính họ biết sẽ không bền.

Để rồi ta phải quay lại mua lần nữa.

Mọi thứ hỏng đi rất khẽ.

Sợi dây sờn dần.

Bản lề nứt ra.

Lò xo yếu đi.

Không phải vì ta muốn nhiều hơn.

Mà vì thứ cũ chưa từng được làm để tồn tại lâu.

Hệ quả hiện ra khắp nơi.

Bãi rác đầy lên.

Ví tiền vơi đi.

Và sâu hơn nữa, trong suy nghĩ của mỗi người…

Ta bắt đầu quen với việc mọi thứ đều tạm bợ.

Không có gì cần giữ lâu.

Rồi tôi tự hỏi…

Liệu cách nghĩ này có dừng lại ở đồ vật không?

Hay nó len vào cả cách ta đối xử với nhau.

Với các mối quan hệ.

Với cộng đồng.

Với ngôi nhà mình sống.

Thậm chí… với chính Trái Đất.

Như thể mọi thứ đều có thể thay thế.

Có thể bỏ đi.

Nhưng không nhất thiết phải như vậy.

Chiếc kẹp cũ kia nhắc tôi nhớ rằng…

Con người từng biết cách làm ra những thứ để gắn bó lâu dài.

Và nếu đã từng làm được, thì vẫn có thể làm lại.

Chất lượng vẫn còn giá trị.

Sự chăm chút vẫn có ý nghĩa.

Ý định khi tạo ra một thứ gì đó… vẫn quan trọng.

Ta có thể chọn làm thứ gì đó để sửa được, để truyền lại, để giữ lại.

Hai chiếc kẹp nằm gọn trong lòng bàn tay.

Nhưng câu chuyện của chúng thì lớn hơn rất nhiều.

Nó nói về lựa chọn.

Và về thế giới mà những lựa chọn đó đang âm thầm tạo ra.

ST TRÊN FB. 

Cuộc sống : CÁI MÁY ATM - St trên mạng.

 


"CÁI MÁY ATM"

Khi tôi hỏi ngày cưới của con trai mình, con dâu trả lời: “Tụi con cưới hôm qua rồi. Chỉ dành cho VIP thôi.” Một tuần sau, nó gọi điện đòi tiền thuê nhà. Tôi nói: “Mẹ đã cảnh báo con rồi mà…?”

​Những câu nói đó đập vào tôi đau điếng.

"​Chỉ dành cho VIP".

​Tôi đứng trong chính căn bếp của mình, tuổi đã ngoài bảy mươi mốt, nhìn chằm chằm vào người phụ nữ suốt ba năm qua đã lĩnh tiền của tôi và gọi tôi là “mẹ” khi cần tiền. Con trai tôi, Ethan, đứng sau nó, im lặng, mắt dán xuống sàn.

​Chúng đã không mời tôi. Thậm chí không báo cho tôi biết.

​Và giờ thì chúng đang cười toe toét.

​Trong suốt ba mươi sáu tháng, tôi đã trả $1.800 tiền thuê nhà cho chúng. Tôi trả tiền chợ, sửa xe, thậm chí cả chiếc váy cưới màu hoa oải hương của nó—chiếc váy tôi sẽ không bao giờ được thấy nó mặc. Bảy mươi bảy nghìn năm trăm đô la “viện trợ”, mỗi xu đều được ký tên dưới danh nghĩa tình yêu.

​“Chỉ gia đình thôi,” nó nhắc lại, giọng ngọt như mật, độc như nọc. “Gia đình thực sự.”

​Tôi không khóc. Tôi chỉ gật đầu, bởi cuối cùng tôi đã hiểu vị trí của mình: không phải mẹ, không phải khách mời—chỉ là cây ATM không đáy.

​Một tuần sau, điện thoại reo. Giọng nó vui vẻ, thản nhiên. “Tiền thuê nhà trễ rồi. Mẹ chuyển khoản chưa?”

​Tôi nhìn ra biển qua khung cửa sổ, nhìn căn biệt thự mà Harold và tôi đã xây nên bằng bốn mươi năm lao động và năm mươi năm tin tưởng. “Mẹ đã cảnh báo con rồi mà?” tôi nói khẽ.

​Nó khựng lại. “Cảnh báo con chuyện gì?”

​“Điều kiện.”

​Cạch. Im lặng.

​Tối hôm đó, tôi ngồi vào bàn ăn—cái bàn từng rộn rã tiếng cười—và trải hết các hóa đơn ra. Ba mươi sáu tờ séc thuê nhà. Hóa đơn đi chợ. Hóa đơn sửa chữa. Cuốn sổ cái ghi lại sự hào phóng của chính tôi. Tổng số tiền nhìn chằm chằm vào tôi như một vết thương: $77.500. Tình mẫu tử của tôi, được tính bằng con số.

​Tôi nhìn chiếc ghế trống của Harold. “Tôi chỉ là một cái máy rút tiền thôi,” tôi lầm bầm. Và rồi, lần đầu tiên, tôi mỉm cười. Bởi vì cái máy đó đã hỏng rồi.

​Khi chúng yêu cầu chìa khóa căn biệt thự năm triệu đô la của tôi, tôi không la hét. Không van xin. Tôi bảo chúng có thể lấy—sau khi đáp ứng điều kiện của tôi. Sáu tháng tiền thuê nhà tự trả, và một thỏa thuận ký kết từ bỏ mọi quyền thừa kế.

​Sự im lặng ở đầu dây bên kia thật tuyệt vời.

​Ba ngày sau, xe của chúng vẫn chạy thẳng vào đường lái xe—nó đeo kính râm, còn thằng con tôi thì tránh nhìn vào mắt tôi. Chúng bước qua cửa nhà tôi như những kẻ chinh phạt.

​“Rộng rãi thật,” nó lẩm bẩm. “Hoàn hảo để tiếp đãi khách.”

​“Đây là nhà của tôi,” tôi nói.

​“Không lâu nữa đâu,” nó cười toe. “Chìa khóa, làm ơn.”

​Tôi nhìn nó và nhìn thằng con trai mà tôi đã nuôi lớn bên cạnh nó, và tôi cảm thấy bốn mươi năm kiên nhẫn của mình đã hóa thành thép. “Chỉ VIP mới được giúp đỡ. Con nhớ chứ?”

​Nụ cười nhếch mép của nó lung lay. Ethan đỏ mặt. “Mẹ, đừng làm mọi chuyện khó khăn hơn—”

​“Khó khăn hơn?” Giọng tôi bình tĩnh, nhưng không khí như rung lên. “Mẹ đã làm mọi thứ dễ dàng cho các con rồi. Bảy mươi bảy nghìn năm trăm đô la dễ dàng. Cái máy hỏng rồi, giờ không còn gì nữa.”

​Mặt nó méo đi. “Mẹ sẽ hối hận đấy.”

​“Mẹ đã hối hận rồi,” tôi nói.

​Chúng rời đi trong im lặng, bánh xe văng tung tóe sỏi đá. Lần đầu tiên, ngôi nhà trở nên yên tĩnh—và an toàn.

​Sáng hôm sau, tôi đến ngân hàng. Tôi hủy bỏ mọi khoản chuyển khoản tự động, mọi sự rò rỉ âm thầm mà tôi đã cho phép. Giám đốc nhìn tôi với ánh mắt giống như sự tôn trọng. “Bà Clark,” anh ta nói, “đã đến lúc bà giữ lại thứ gì đó cho riêng mình rồi.”

​Tối hôm đó, khi tôi khóa những cánh cửa mới của biệt thự, tiếng sóng biển gầm gừ bên ngoài như một tràng pháo tay. Tôi không phải là nạn nhân. Tôi không phải là ngân hàng. Tôi là một người phụ nữ có điều kiện—và có giới hạn.

​Khi điện thoại reo lần nữa, tôi để nó kêu.

​Bởi vì cuối cùng tôi đã nhớ ra quy tắc quan trọng nhất:

Yêu không có nghĩa là phải đầu hàng.

​Và cái máy ATM kia?

Nó vẫn tiếp tục hỏng.

St trên mạng. 

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2026

Nhìn ra : BẮT ĐẦU TỪ $70... - St trên mạng.

 


BẮT ĐẦU TỪ $70...

Cậu Bé Ryan: Bắt Đầu Từ $70 Để Thay Đổi Thế Giới

Cậu bé chỉ mới sáu tuổi khi quyết định thay đổi thế giới.

Tên cậu là Ryan Hreljac, sinh ra ở Canada vào tháng 5 năm 1991.

Một ngày nọ, trong lớp học, cô giáo giải thích về cuộc sống của trẻ em ở châu Phi: rất nhiều em chết vì khát, trong khi cậu chỉ cần mở vòi nước là có nước uống. Những lời này đã khắc sâu trong tâm trí cậu bé. Với sự nghiêm túc của một đứa trẻ, Ryan hỏi:

“Thưa cô, xây một cái giếng để cho những đứa trẻ đó có nước uống thì tốn bao nhiêu tiền ạ?”

Câu trả lời thật đơn giản: khoảng 70 đô la.

Ryan chạy về nhà và tuyên bố với mẹ mình, Susan, rằng cậu cần số tiền này. Mẹ cậu mỉm cười và nói rằng cậu phải tự mình kiếm lấy. Bà giao cho cậu những việc nhà lặt vặt, mỗi tuần kiếm được vài đô la tiền công.

Sau vài tháng, Ryan đã gom đủ 70 đô la và đến tổ chức từ thiện WaterCan. Tại đó, cậu mới biết sự thật: chi phí thực sự để xây một cái giếng không phải là 70 đô la, mà là 2.000 đô la.

Mẹ cậu cố gắng giải thích rằng việc kiếm số tiền lớn như vậy là điều không thể. Nhưng Ryan đã không bỏ cuộc. “Vậy thì con sẽ quay lại khi con kiếm đủ tiền,” cậu nói, với quyết tâm của một người trưởng thành.

Và cậu đã giữ lời hứa. Cậu tiếp tục làm việc, gõ cửa nhà hàng xóm, vận động các bạn cùng lớp. Quyết tâm của cậu đã truyền cảm hứng cho tất cả mọi người: anh chị em, bạn bè, thầy cô.

Vào tháng 1 năm 1999, nhờ nỗ lực không ngừng nghỉ của cậu bé, chiếc giếng đầu tiên đã được đào tại một ngôi làng ở miền bắc Uganda.

Sau khi dự án hoàn thành, trường học của Ryan đã quyết định kết nghĩa với trường học của ngôi làng đó. Qua đó, Ryan làm quen với Akana, một cậu bé người Uganda phải đi bộ hàng cây số mỗi ngày để đến trường.

Cảm động trước câu chuyện này, Ryan xin phép cha mẹ cho cậu được gặp Akana. Năm 2000, cậu đặt chân đến châu Phi và thấy hàng trăm người đang chờ đợi cậu, xếp thành một hàng danh dự dài và hô vang tên cậu.

“Họ thực sự biết tên con sao?” cậu bé hỏi, không thể tin được.

“Không chỉ ở đây. Trong vòng một trăm cây số, ai cũng biết tên con,” người hướng dẫn trả lời.

Ngày nay, Ryan đã 33 tuổi. Cậu điều hành quỹ từ thiện của riêng mình và đã góp phần xây dựng hơn 400 giếng nước tại châu Phi, mang lại nước uống, sự sống và hy vọng cho hàng trăm nghìn người.

Sự cam kết của cậu không chỉ dừng lại ở đó: cậu còn hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo cộng đồng địa phương cách quản lý và bảo trì nguồn nước quý giá này.

Trong khi chúng ta thường để bản thân bị cuốn vào những điều phù phiếm, câu chuyện của Ryan nhắc nhở chúng ta ý nghĩa thực sự của việc trở thành một anh hùng: đó là có đủ can đảm để không quay mặt làm ngơ và tin rằng ngay cả đôi tay của một đứa trẻ cũng có thể thay đổi số phận của rất nhiều người.

St trên mạng. 

Thơ : TRONG MẮT ANH - Tây Sơn.

 .               



TRONG MẮT ANH

                       

Anh choàng tấm lụa hồng lên thân ngọc

Giữ hương xuân trên suối tóc hò reo

Vuốt quanh eo cho quá khứ bay vèo

Rèm mi khép giọt lệ treo nhún nhảy


Tay nâng niu đôi môi hồng mấp máy

Ngực căng tròn mây mẩy vị trinh nguyên

Mặc đời gieo vào em mấy tật nguyền

Đàn bà cũ buồn riêng chưa liền sẹo


Trong mắt anh khoảng trời yêu thật khéo

Tay dịu dàng gọt đẽo những nếp nhăn

Gạn đục Em trong trắng tựa chị hằng

Gom lại đủ thuở tròn trăng tinh khiết


Tan vào nhau, chảy vào nhau mãnh liệt

Thu nhúng nhường Xuân ghì siết lên ngôi

Trong mắt yêu hai nửa quá tuyệt vời 

Tình không cũ Em với Tôi không cũ.

TÂY SƠN.

Hồi ức : KÝ ỨC TUỔI THƠ - St trên FB.

 



KÝ ỨC TUỔI THƠ. 

“Có những vị ngọt… cả đời này mình không bao giờ ăn lại được nữa.”

Hồi cỡ năm 1996…

Trong cái sóng chén (tủ gạc-măng-rê cũ) của má, lúc nào cũng có một hũ đường cát.

Người lớn để nấu ăn…

Còn tụi nhỏ tụi tui thì coi như “của để dành”.

Mỗi lần trưa đứng bóng, nhà im re,

má nằm võng quạt phe phẩy ngoài mé hè…

tụi tui lén lén mở tủ.

Cái tiếng “cọt kẹt” nhỏ xíu thôi,

mà nghe như vang khắp nhà.

Xúc lẹ một muỗng đường,

bỏ cái rẹt vô miệng…

ngọt lịm, dính cả đầu lưỡi,

mà thấy vui mắc cười, đứa này nhéo đứa kia để nhịn cười.

Ăn xong còn lấy tay vuốt lại cho mặt đường bằng phẳng,

tưởng đâu má hổng hay.

Ai dè…

má chỉ cần liếc một cái là biết liền.

Có bữa bị rầy, đứng cúi đầu,

miệng còn dính đường…

mà trong lòng thì vừa sợ, vừa mắc cười.

Giờ lớn rồi…

muốn ăn ngọt cỡ nào cũng có.

Mà lạ cái…

không còn thấy ngon như hồi đó nữa.

Chắc tại…

không còn cái tủ gỗ cũ mỗi lần mở là nghe “cọt kẹt”…

không còn những buổi trưa nín thở đi ăn vụng…

và…

cũng không còn má đứng đó,

giả bộ la… rồi quay đi lau nước mắt.

Tự nhiên nhớ quá…

mà không biết tìm lại ở đâu.


St trên FB. 

 



KINH XÁNG XÀ NO

(Mời đọc cho biết kẻo đi hết đồng bằng sông Cửu long mà không biết chi ... ?!)


    Là con kênh vừa rộng vừa sâu lại vừa thẳng chảy qua TP Vị Thanh, thủ phủ tỉnh Hậu Giang mới, cách TP Cần Thơ tròn vo 40 km. Nghe đồn, thỉnh thoảng từ dòng kênh này vọng lên câu hò dài thõng thượt, buồn man mác:

Hò ơ… 

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

Anh có thương em thì mua một con đò

Để em qua lại thăm dò ý anh

Hò ơ…

    Kinh hay kênh?

    Thằng Tây gọi sông nhân tạo (do người đào mới hoặc nạo vét rạch cũ) là canal, dân Ăng Lê kêu là channal, dân ta phiên âm thành kênh. Thế mới có bài hát “Con kênh ta đào chưa có nước chảy qua”. Người Nam Bộ có thói đọc trại: nhân thành nhơn, kính thành kiếng, và kênh thành kinh.

    Xáng và xáng cạp là sao?

    Thằng Tây gọi tàu thủy chở hàng là chaland, dân ta phiên âm là xà lan, người Nam Bộ gọi là xáng cho đơn giản. Xáng cạp là cái xáng có cần cẩu để nạo vét sông, cái miệng há ra cạp đất. Ở Nam Bộ đi đâu cũng thấy kinh xáng (là kinh đào bằng xáng cạp, không phải bằng sức người), cầu xáng (bắc qua kinh xáng) và các địa danh ngồ ngộ: ấp Xáng Mới (nơi kinh xáng mới đào), xóm Xáng Chìm (nơi có chiếc xáng bị chìm), chợ Xáng Nổ (nơi bị nổ máy xáng khi thi công), v.v. Cũng từ đó xuất hiện câu tục ngữ "Ăn như xáng múc, làm như lục bình trôi" và câu hò của chàng trai Hai Lúa ra cái vẻ chung tình:

Hò ơ...

Chừng nào chiếc xáng nọ bung vành

Tàu Tây kia liệt máy anh mới đành bỏ em

Hò ơ...

    Sao lại Xà No?

    Người Khmer gọi sông nhỏ là preak (rạch), xóm làng là srok (sóc), cây điên điển là snor (xà no). Xưa có con rạch chảy qua một làng có hàng điên điển (hoa vàng rộm, nấu canh chua cá lóc ngon hết sảy) kín hai bờ, người Khmer gọi là Preak Srok Snor, nghĩa là Sông nhỏ chảy qua làng điên điển. Người Việt phiên âm là Rạch Xà No.

    Chiếm xong 3 tỉnh miền Tây, Pháp xúc tiến ngay việc khai thác thuộc địa, thuê dân ta đào các kinh Trà Ôn (1875), Chợ Gạo (1877), Ô Môn (1896) để tưới tiêu và giao thông thủy. Năm 1901 Pháp dùng xáng cạp nạo vét rạch Xà No và đào nối dài, thế là có tên Kinh Xáng Xà No. Sách Lịch sử khẩn hoang miền Nam ghi: “Kinh Xà No thi công đến tháng 7-1903 thì hoàn thành. Bề ngang trên mặt rộng 60 mét, đáy 40 mét... Xáng đào chạy bằng hơi nước với những giàn gàu bằng sắt. Máy của xáng mạnh 350 mã lực, mỗi gàu múc được 375 lít, thổi bùn ra xa 60 mét. Từ xa trông chiếc xáng giống như chiến hạm, máy nổ ầm ầm vang xa năm ba cây số ngàn”.

    Ngàn là sao?

    Là nghìn, người Nam Bộ gọi trại ra ngàn.

    Để mở rộng diện tích canh tác, cứ 1.000 mét dọc theo kinh Xà No lại đào 1 kinh nhỏ cắt ngang, gọi là kinh sườn lớn. Giữa 2 kinh sườn lớn, cách đều 500 mét lại có 1 kinh sườn nhỏ. Nơi có kinh sườn lớn đầu tiên gọi là ngã tư Một Ngàn (cách điểm xuất phát 1.000 mét), rồi đến Một Ngàn Rưỡi, Hai Ngàn… Khi đến ngã tư Mười Bốn Ngàn Rưỡi thì mệt quá, không đếm nữa. Bởi thế nay mới có thị trấn Một Ngàn, chợ Ba Ngàn Rưỡi, vàm Chín Ngàn, v.v.

    Vàm là gì?

    Là rẻo đất nơi kinh sườn gặp kinh chính hay sông nhỏ đổ ra sông lớn. Bởi thế mới có các địa danh: thị trấn Vàm Láng, cầu Vàm Cống, sông Vàm Cỏ, v.v. Kinh Xà No là đầu mối giao thông thủy rất quan trọng, dân kéo đến các vàm định cư đông đúc, thế là có chợ Vàm Xáng (lập năm 1907), chợ Bảy Ngàn (1909) và xuất hiện một nghề đặc trưng chèo thuyền bán hàng dạo từ vàm nọ đến vàm kia: nghề bán vàm.

    Sao lại Hậu Giang?

    Là “sông gặp sau". Thời các chúa Nguyễn mang gươm đi mở cõi, vào đến đây thấy 2 dòng sông to vật vã, bèn gọi dòng sông gặp trước là Tiền Giang, sông gặp sau là Hậu Giang.

    Tỉnh Hậu Giang hiện nay mang tên tỉnh Chương Thiện từ 1961. Năm 1976 người ta làm ăn lớn, nhập 2-3 tỉnh làm một. Bí tên để đặt, họ lấy béng tên sông tên núi đặt cho tỉnh mới, ví như các tỉnh Hoàng Liên Sơn, Sông Bé, Tiền Giang, Hậu Giang, v.v. Nhập chán thì tách. Năm 1991 tỉnh Hậu Giang tách thành 2 tỉnh Sóc Trăng và Cần Thơ. Năm 2003 tỉnh Cần Thơ lại tách đôi thành tỉnh Hậu Giang mới và TP trực thuộc TƯ Cần Thơ.

    Thật éo le, nếu như TP Cần Thơ trải dài theo hữu ngạn sông Hậu Giang thì tỉnh Hậu Giang chỉ có một đoạn rất chi là ngắn dính với dòng sông mà nó mang tên. Bù lại, trong số 10 tỉnh ở Nam Bộ cùng có huyện Châu Thành thì Hậu Giang được hẳn 2 huyện: Châu Thành và Châu Thành A. 

    Ngộ quá hể!

    (Chuyện cũ viết lại).


Tố Ngọc Trần Sưu tầm

Hương xưa : TÔI VÀ SÀI GÒN... - Đỗ Duy Ngọc.

 

TÔI VÀ SÀI GÒN…

( Hình ảnh minh họa st trên mạng - Xem cuối bài. )

Tôi vốn không phải là dân Sài Gòn. Tôi là thằng con trai miền Trung vô Sài Gòn kiếm cái chữ từ những năm cuối của thập niên sáu mươi, đầu bảy m của thế kỷ trước. Là thằng sinh viên nghèo tự lập chẳng ai nuôi nên tôi chỉ quanh quẩn ở những xóm lao động của Sài Gòn hoa lệ thời ấy.

Để tiện việc học hành, và vì lúc đấy cũng chẳng có phương tiện di chuyển, tôi bám trụ khu Trương Minh Giảng suốt quãng đời đi học. Cho đến khi đi làm mua nhà, tôi vẫn quanh quẩn khu vực ấy. Thế nên Sài Gòn trong tôi là những xóm nghèo, Sài Gòn với tôi là những người lao động nghèo, những căn nhà nho nhỏ, lụp xụp bên bờ kinh Nhiêu Lộc mà bây giờ không còn nữa. Ngay đống rác ngay chân cầu Trương Minh Giảng thuở xưa cũng là nơi ghi dấu nhiều ký ức cùa tôi một thời đã đi qua không trở lại.

Lúc mới vào Sài Gòn, tôi mê những hàng cây. Những cây me đường Nguyễn Du với những quán cà phê ven vỉa hè. Tôi và bè bạn rong chơi ở đấy suốt đời sinh viên để ngắm những hàng me, để đón những lá me nhỏ xíu rớt trên vai mình, để nhìn những hạt mưa bay bay trên những vòm lá xanh biếc màu ngọc bích và để yêu một thành phố. Tôi cũng mê những buổi chiều đi lang thang sau giờ học ở Đại học Văn khoa, đến cuối đường Gia Long, ở gần nhà thương Grall để ngắm hai hàng cây giao nhau và cuối con đường là chủng viện Công giáo với tường màu gạch đỏ. Cảnh đó giống như một tác phẩm nghệ thuật và lúc đó tôi nghĩ đây là con đường đẹp nhất Sài Gòn. Đi thêm một đoạn nữa, ta ngỡ ngàng với hàng cây cổ thụ vươn cao từ khu Ba Son chạy ra Cường Để, những hàng cây thẳng tắp luôn khiến con đường nhiều bóng mát điểm những bóng nắng loang lổ như một bức ảnh đẹp được chụp bởi một tay máy nghệ sĩ.

Tôi cũng thích bách bộ lang thang đến đường Đoàn Thị Điểm (bây giờ là Trương Định) để ngắm những ngôi nhà sang trọng nhưng rất thanh lịch thấp thoáng sau hàng rào đầy hoa và con đường nhiều bóng râm. 

Nhiều lần đi kiếm cơm ăn ké bạn bè ở Đại học xá Minh Mạng, tôi cũng ngắm nhìn những hàng cây cao vút cạnh ngôi nhà thờ màu đỏ như gợi nhớ một bức tranh nào đó đầy màu sắc của hoạ sĩ Đinh Cường. 

Có nhiều đêm, đi qua ngôi nhà lớn ở đầu đường Trương Minh Giảng tôi nghe tiếng dế gáy ở bụi cỏ và hương ngọc lan thơm ngát từ ngững cây ngọc lan cổ thụ trong sân toà nhà dưới ánh đèn đường mờ đục.

Tiếng dế và hương thơm ngọc lan vẫn nằm trong ký ức của tôi đến tận bây giờ bởi con đường đó gắn với tôi biết bao kỷ niệm của một mối tình không thể nào quên.

Kể nhiều vòm cây khóm lá để thấy ấn tượng đầu tiên của một chàng học trò tỉnh lẻ đến Sài Gòn chính là những con đường với những hàng cây rợp bóng.

Đến bây giờ, tôi đã ở Sài Gòn được gần nửa thế kỷ. Chưa bao giờ có ai hỏi tôi là người gốc Sài Gòn hay là dân Sài Gòn xịn, dù đã ở lâu xứ này, tôi vẫn nói giọng Quảng dù đã nhẹ hơn người chánh gốc Quảng. Ở đất này, ai đã đến và sinh sống ở đây đều là người Sài Gòn. Sài Gòn có nhiều người Bắc di cư năm 1954. Sài Gòn cũng có nhiều người miền Trung từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Bình Định. Sài Gòn còn có rất nhiều người miền Tây lên, từ miền Đông Nam bộ đến. Nhưng dù họ đến từ đâu, họ ở đây đã là dân Sài Gòn, chẳng có ai phân biệt, chẳng có ai thắc mắc. Và đó cũng là đặc điểm đặc biệt của người Sài Gòn khác với Hà Nội.

Đêm đầu tiên khi đặt chân đến Sài Gòn, tôi ngủ trên ghế đá chỗ vườn hoa Tao Đàn. Nửa đêm tôi bị đánh thức bởi hai người cảnh sát. Bởi thời đó thiết quân luật từ nửa đêm, không ai được ra đường. Sau khi đưa giấy tờ và kể lể hoàn cảnh vừa mới từ miền Trung vào đi học, chưa kiếm được người quen. Một anh cảnh sát bảo: Miền Trung à? Ái chà chà, mấy ông sinh viên quê ngoài ấy khoái theo Việt cộng lắm. Tui chẳng biết nói sao đành chịu bị giải về cái bót cảnh sát ở ngay góc chợ Bến Thành. Tui nằm ở đó một đêm, sáng ra có một ông sĩ quan cảnh sát đến, bảo tôi đi học thì gắng mà học hành, đừng nghe lời mấy tay Việt Cộng mà tiêu đời. Ông ta móc bóp, cho tôi tiền ăn sáng và uống cà phê. Đó là cái tình của người Sài Gòn đầu tiên trong đời tôi và gây cho tôi ấn tượng về con người ở xứ này. 

Trong những ngày đói rách, khó khăn của cuộc đời, những người Sài Gòn, những người nghèo Sài Gòn đã bảo bọc, giúp đỡ tôi qua cơn khốn khó. Tôi không quên được cô gái bán cơm ở chợ Trương Minh Giảng. Thuở đó, tôi thất nghiệp, chẳng kiếm ra tiền, chắt bóp, vơ vét túi chỉ đủ gọi dĩa cơm trắng rồi xin miếng xì dầu ăn qua bữa. Ăn được ba hôm như thế thì cô bán cơm hỏi sao không thấy anh ăn thức ăn, đành nói dối tôi ăn chay. Cô ấy chỉ cười, không nói. Nhưng mấy hôm sau, dĩa cơm xì dầu của tôi luôn có dưới lớp cơm trắng khi thì miếng đậu hủ, lúc thì miếng thịt hoặc cái hột vịt kho. Được mấy hôm, tôi mắc cỡ, không dám ra ăn nữa. Sau đó lại kiếm được việc bán báo ở tận đường Phạm Ngũ Lão, tôi không ăn cơm ở đó. Thời gian sau tìm lại thì quán đã đổi chủ rồi, tôi chẳng tìm được lại cô gái bán cơm có nụ cười rất tươi và tấm lòng nhân hậu.

Ăn uống thiếu thốn lại tạng người không khoẻ, tôi hay bệnh vặt. Chính những người hàng xóm rất nghèo của tôi đã giúp tôi qua được những cơn bệnh, giúp tôi có chén cháo, viên thuốc. Cái tình đó tôi làm sao quên. Sau này ở lâu, tôi mới hiểu ra đó là bản chất của người Sài Gòn. Là cái tính ưa giúp người hoạn nạn, giúp kẻ sa cơ, tính ưa làm việc thiện của người Sài Gòn.

Mỗi lần đi xa rời Sài Gòn lâu, nhớ về Sài Gòn tôi chỉ nhớ những hàng cây và những người Sài Gòn tôi đã gặp, đã sống chung với họ một quãng đời. Người ta hay khen Sài Gòn với những cao ốc, những dinh thự, những khu ăn chơi bốc trời, những hàng quán xa hoa, những chiếc xe đắt tiền, những thú vui hoan lạc. Riêng tôi, trong tôi, Sài Gòn là vòm cây xanh lá, là những ngôi nhà bên dòng nước đen và ở đó tôi tìm thấy tình người.

Bây giờ, Sài Gòn đã đổi tên. Thế nhưng tôi vẫn gọi là Sài Gòn như một thói quen, cái tên của ký ức không thể nhạt phai. Người ta đang tìm đủ cách để thành phố này không còn ký ức của Sài Gòn. Nhưng với người Sài Gòn, Sài Gòn mãi mãi là Sài Gòn mà không có một cái tên nào khác có thể thay thế được.


Đỗ Duy Ngọc.



Thứ Tư, 25 tháng 3, 2026

Tuổi thơ : CON DẾ CỒ LỬA - Lê Văn Thông.

 



CON DẾ CỒ LỬA 

Tuổi thơ của tôi bắt đầu bằng những buổi sáng rất sớm, khi trời còn mờ sương và tiếng gà trong xóm bắt đầu gáy. Hồi đó nhà tôi lợp mái bằng cỏ  tranh. Những tấm cỏ tranh cũ lâu lâu lại được dỡ xuống thay mới, rồi đem chất phía sau nhà.

Chính từ những tấm cỏ tranh cũ ấy mà tôi biết đến thế giới của những con dế.

Có một đêm  mưa lớn. Sáng hôm sau, ba tôi ra sau nhà dọn lại đống cỏ tranh. Khi vừa lật mấy tấm cỏ tranh lên, mấy con dế từ trong kẽ rơm rạ nhảy tứ tung. Ba cười, bắt mấy con dế bỏ vào tay tôi và em gái .

“Các con đem bỏ vào lon sữa bò để chơi.”

Từ bữa đó, tôi mê dế lúc nào không hay.

Sáng nào cũng vậy. Khoảng năm giờ, khi nhà ông ngoại tôi sát nhà tôi bắt đầu đọc kinh buổi sáng, tôi đã lồm cồm ngồi dậy. Trời còn mờ tối, tôi chạy ra sau nhà lật ổ rơm, mấy tấm đưng,vạch mấy đống chà cây. Chỉ cần khéo tay một chút là bắt được dế.

Dế ở quê tôi nhiều lắm: dế than màu đen bóng, nhanh và dữ,dế xám thân to, sức khỏe bền bỉ. Còn dế lửa thì đỏ au như than hồng, vừa đẹp vừa hung hăng.

Các bạn nhỏ trong xóm còn có cách gọi riêng. Con dế trống to và khỏe thì  gọi là dế Cồ: Cồ lửa, Cồ than, Cồ xám. Hễ bắt được con nào lớn, càng to là tụi tôi mừng lắm, vì biết chắc đó là một con dế Cồ đá rất dữ.

Bắt được dế, tôi bỏ vào cái hộp gỗ nhỏ. Ba tôi đóng cho bằng mấy miếng ván vụn, khoan vài lỗ nhỏ cho thoáng hơi. Bên trong tôi lót ít rơm khô và lá cỏ non.

Trưa đi học về, tôi lại mở hộp ra xem.

Đêm xuống, đặt cái hộp gỗ bên cạnh giường, tôi thường nghe tiếng dế gáy râm ran trong bóng tối. Tiếng dế kêu từng hồi, nghe vừa vui vừa yên tĩnh, như thể cả tuổi thơ của tôi đang nằm gọn trong cái hộp gỗ nhỏ đó.

Lúc đó em gái tôi đang bệnh nặng, em sốt suốt mấy ngày, nằm li bì trong nhà. Má tôi thức gần như cả đêm để chăm sóc em, còn ba thì chạy đi  tìm thầy thuốc trong xóm.

Có một lần tôi mang cái hộp gỗ lại gần giường cho em xem. Em mở mắt rất chậm, nhìn vào trong hộp rồi hỏi khẽ:

“Anh Hai… con dế lửa đâu?”

Tôi chỉ vào con dế  đang bò trong góc hộp, em mỉm cười rất nhẹ.

“Nó đẹp quá… tối nó có gáy không anh?”

Tôi gật đầu.

em nói nhỏ:

“Vậy anh để gần giường… cho em nghe.”

Nhưng tối hôm đó em sốt cao quá, ngủ mê man. Tiếng dế trong hộp vẫn kêu râm ran, còn em thì nóng mê sản.

Một buổi sáng , tôi gặp một cái hang nhỏ dưới chân gò mối ngoài bãi đất hoang. Nhìn dấu đất , tôi biết chắc trong đó có dế.

Tôi thò tay xuống hang.

Bỗng một cái đau nhói buốt chạy thẳng lên cánh tay.

Một con bò cạp từ trong hang chích tôi.

Cái đau lan rất nhanh, như có dòng lửa chạy trong tay. Tôi choáng váng, ngồi phịch xuống bên gò mối. Trước mắt tôi tối sầm, tai ù đi. Tôi phải nằm tại đó gần năm phút, tay ôm cánh tay đau buốt, thở từng hơi ngắn, rồi mới gượng dậy nổi.

Tôi cúi xuống nhìn lại cái hang.

Một lát sau, từ trong hang bò ra một con dế lửa.

Nó to chưa từng thấy. Cái đầu đỏ au, tròn và to gần bằng ngón tay cái của tôi. Hai cái càng dày và cong, trông dữ dằn như hai cái móc nhỏ.

Tôi nhìn một cái là biết ngay:đây là một con dế Cồ lửa.

Chiều hôm đó, tụi nhỏ trong xóm kéo nhau ra bãi đất trống trước nhà tôi để xem đá dế 

. Con dế của tôi đá thắng hết các con dế của thằng Khoai, thằng Mỹ, thằng Hòn… Nó trở thành vô địch của xóm.

Hôm sau thằng Nghĩa, ở bên xóm chợ, nhà rất giàu, tìm tới. Nó đem theo một con dế than to gần bằng con dế lửa của tôi.

Hai con dế được thả vào cái thùng thiếc.

Một thằng trong đám ngắt một cọng cỏ nhỏ chọc nhẹ vào càng dế để kích nó đá.

Bỗng con dế than lao tới.

Hai cái càng chạm nhau đánh “tách” một cái. Hai con dế quấn lấy nhau xoay vòng trong thùng.

Tụi nhỏ la ầm lên.

Bỗng con dế lửa hất mạnh một cái.

Con dế than loạng choạng lùi lại rồi quay đầu chạy.

Cả đám con nít reo ầm:

“Thắng rồi! Cồ lửa thắng rồi!”

Sau trận đó, thằng Nghĩa kéo tôi ra một góc rồi nói nhỏ:

“Nếu mày bán con dế này cho tao, tao trả năm đồng.”

Tôi nghe mà đứng sững.

Thời đó đi học mỗi ngày má cho tôi năm cắc tiền ăn xôi. Năm đồng đối với tôi lúc ấy lớn lắm, gần như cả một gia tài.

Nhưng tôi vẫn lắc đầu.

Tôi không nỡ bán con dế Cồ lửa của mình.

Vài ngày sau, bệnh của em gái tôi nặng hơn.

Rồi một buổi chiều rất lặng, em tôi ra đi trong căn nhà nhỏ của chúng tôi.

Sau khi em gái tôi mất, tôi như trở thành một con người khác.

Tôi không còn chạy ra bãi đất để tìm dế nữa. Những buổi sáng khi tiếng gà gáy vang lên trong xóm, tôi chỉ ngồi lặng trước hiên nhà.

Cái hộp gỗ nuôi dế vẫn đặt ở góc bàn, nhưng  tôi không buồn mở ra.

Như thể cùng với em gái, một phần tuổi nhỏ của tôi cũng lặng lẽ mất đi.

Tối hôm đó, tôi mang cái hộp gỗ nuôi dế ra sau nhà.

Tôi mở nắp.Dưới ánh đèn leo lét, mấy con dế lần lượt nhảy ra bãi cỏ.

Con dế Cồ lửa là con ra sau cùng.

Nó đứng lại một chút, giương càng lên như thói quen, rồi chậm rãi bò vào đám cỏ tối.

Tôi ngồi nhìn theo thật lâu.

Bỗng tôi nhớ lại câu hỏi của em gái:

“Tối nó có gáy không anh hai ? ”

Đêm đó, dế ngoài bãi cỏ vẫn kêu.

Nhưng em tôi thì không còn nghe nữa.

Con dế Cồ lửa năm ấy đã mất hút giữa đám cỏ đêm.

Còn tôi thì ngồi rất lâu bên bãi cỏ sau nhà, nghe tiếng dế kêu thưa dần trong bóng tối.Đến lúc ấy tôi mới hiểu:Tuổi thơ cũng giống như tiếng dế đêm.

Khi còn nghe, ta cứ tưởng nó sẽ kêu mãi.

Chỉ đến một đêm nào đó, giữa khoảng sân cũ của đời mình, ta mới chợt nhận ra ,tiếng dế vẫn còn ngoài bãi cỏ,nhưng người mà ta từng muốn cho nghe tiếng dế ấy đã không còn nữa.

Và từ đêm đó,

tuổi thơ của tôi

cũng lặng lẽ đi xa


( Tác giả: Lê Văn Thông)

Thơ : THÁNG BA VỀ... - Nhật Hạ.

 



THÁNG BA VỀ...

Tháng Ba về, anh có nhớ gì không?

Cơn mưa xuân giăng mờ trên phố nhỏ

Chiều êm trôi, rực màu hoa gạo đỏ

Nắng dịu dàng gọi kí ức không tên.


Tháng Ba về, em-hoa cỏ dịu êm

Đợi chờ ai, hương nồng hoa bưởi ngọt

Vầng trăng xưa khuyết tròn bao ước hẹn

Tháng Ba về thao thức những riêng mang.


Người nơi nào đã thấy tháng Ba sang

Hoa xoan tím cả một trời thương nhớ

Hoa giấu gì mắt em long lanh thế

Ánh mắt cười, vương vấn dưới hàng mi.


Tháng Ba về, vô tình gió cuốn đi

Những mong ước, câu tình ca dang dở

Tóc em bay bên khung trời rộng mở

Để “hương thầm” bịn rịn... những chờ mong.

   NHẬT HẠ.

Hồi ức : BÁNH TÂY THỜI... - Lê Văn Thông.

 



BÁNH TÂY THỜI TUỔI NHỎ

Trong nhà tôi có một chiếc hộp thiếc cũ đặt trên nóc tủ gỗ. Chiếc hộp màu vàng đã phai màu theo năm tháng, trên nắp in hình những chiếc bánh vuông vức nằm cạnh mấy dòng chữ Tây. Má tôi giữ chiếc hộp ấy rất kỹ. Bên trong thường chẳng có gì ngoài vài thứ lặt vặt như kim chỉ, cúc áo hay mấy tấm hình cũ, vậy mà mỗi lần mở ra, tôi vẫn ngửi thấy thoang thoảng mùi bơ ngọt nhẹ.

Đối với tụi nhỏ chúng tôi, cái hộp thiếc ấy tựa như một lời nhắc lặng lẽ về một thứ bánh ngon mà hiếm khi được ăn. Chỉ cần nhìn thấy chiếc hộp là tôi lại nhớ đến mùi bơ thơm dịu và những chiếc bánh vuông vức mà mình chỉ được nếm rất ít lần trong đời.

Thật ra, hồi đó tôi không thường được ăn bánh ấy ở nhà mình. Tôi có một người dì sống ở Sài Gòn, nhà rất giàu, thuộc hàng giàu có nổi tiếng thời ấy. Mỗi lần má dẫn anh em tôi lên thăm, căn nhà rộng thênh thang với những món đồ sáng choang khiến tụi nhỏ chúng tôi cứ lặng lẽ đi sát bên má, không dám nói lớn.

Những chiếc bánh tây thường nằm trong hộp thiếc đẹp đặt trên bàn. Nhưng tụi tôi không bao giờ được mở hộp. Chỉ khi mấy đứa con của dì ăn dở, còn thừa lại nửa chiếc hay một góc bánh, tụi tôi mới được ăn ké. Tôi vẫn nhớ mình cầm miếng bánh nhỏ xíu mà nhai rất chậm, vừa ăn vừa tiếc, như thể kéo dài thêm một chút hương vị hiếm hoi ấy. Vị bơ dịu nhẹ tan ra trong miệng, ngon đến mức tôi nghĩ đó là thứ bánh dành cho những nhà giàu có, còn anh em tôi chỉ đứng ngoài mà nhìn.

Có một lần má dẫn anh em tôi đến thăm dì, mang theo những con gà mà gia đình tôi chắt chiu nuôi nấng để làm quà. Nhưng vừa thấy chúng tôi, dì buông một câu tỉnh queo:

– Tụi bây đến thăm tao hay tụi bây chỉ đến thăm tiền.

Tôi không hiểu hết ý nghĩa câu nói khi ấy, nhưng tôi thấy má đứng lặng đi một lúc rồi lén quay mặt chỗ khác. Khi ra về, tôi thấy má đưa tay gạt nước mắt. Hình ảnh đó theo tôi suốt nhiều năm sau.

Hôm ấy, trên đường về, tôi lặng im mà trong lòng tự nhủ một điều rất trẻ con: sau này mình sẽ học cho thật giỏi, đi làm có tiền, mua thật nhiều bánh tây cho các em ăn. Vì đối với anh em tôi ngày đó, chiếc bánh tây ấy là một thứ gì xa xỉ và sang trọng, gần như không với tới.

Rồi năm tháng trôi đi. Tôi lớn lên, đi học, rồi đi dạy. Cuộc sống không giàu sang gì, nhưng cũng không còn thiếu thốn như xưa. Mỗi lần về thăm má, ngoài thịt quay bánh hỏi – những món má thích – tôi không bao giờ quên mua thêm một hộp bánh tây. Má thường cười hiền, nói ăn không hết đâu, nhưng tôi biết má vui. Cái hộp bánh nằm trên bàn, yên lặng mà ấm áp như một lời hứa cũ cuối cùng cũng trọn vẹn.

Sau này, khi dẫn con tôi vào siêu thị, tôi thấy bày ra đủ thứ bánh kẹo. Những loại bánh mà một thời tôi từng ao ước nằm ngay trước mắt, chỉ cần đưa tay là lấy được. Con tôi chọn bánh rất nhanh, đôi khi chỉ ăn vài cái rồi bỏ quên, hồn nhiên như thể bánh kẹo vốn dĩ sinh ra để luôn có sẵn như vậy.

Còn tôi, mỗi lần đi ngang quầy bánh tây, vẫn hay dừng lại một chút. Chiếc bánh tây vuông vức vẫn vậy – viền răng cưa đều đặn, mùi bơ  thoảng nhẹ như xưa. Chỉ có điều trong tôi hiện lên hình ảnh đứa bé ngày nào đứng nhìn chiếc hộp thiếc bánh tây trên bàn nhà dì mà lòng buồn man mác.

Bây giờ nghĩ lại, tôi hiểu chiếc hộp thiếc cũ nằm trên nóc tủ năm xưa không chỉ để đựng kim chỉ hay những thứ lặt vặt. Nó giữ lại cho má tôi một chút kỷ niệm của cuộc sống, còn giữ lại cho tôi một giấc mơ nhỏ của tuổi thơ — giấc mơ về những chiếc bánh tưởng chừng rất xa mà rồi cũng có ngày mình có thể mang về đặt lên bàn cho những người thân yêu.

Có những thứ nhỏ bé mà ta mang theo suốt cả cuộc đời. Như chiếc bánh tây năm nào – không chỉ là vị ngọt của bơ, mà còn là ký ức của một đứa trẻ từng đứng ngoài giấc mơ nhỏ của mình, để rồi sau này mới hiểu rằng điều quý nhất không phải là chiếc bánh, mà là quãng đời đã dạy ta biết thương người và biết cố gắng để những người mình thương không còn phải tủi thân như ngày trước.

Và đôi khi, chỉ cần mở  hộp bánh tây, tôi lại thấy thấp thoáng đâu đó mùi bơ dịu nhẹ của tuổi nhỏ – thứ hương thơm tưởng chừng rất mong manh mà theo tôi đi suốt một đời người.


( Lê Văn Thông)

Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

Hồi ức : TẾT QUÊ NỘI - Nhất Chi Mai.

 


TẾT QUÊ NỘI. 

Ngày đó, nhà tui nghèo lắm. Nghèo đến mức Tết trở thành quá đắt đỏ cho cả bảy người ăn Tết cùng nhau. Đưa ông Táo xong, sáng hôm sau, ba má tui tống tiễn cả một đàn chim non về quê nội trú đông.  Thế là bốn “tiểu quỷ” của gia đình bảy miệng ăn lại khăn gói lên đường chịu sự cai trị của nội suốt mấy ngày xuân. 

Nhà nội hồi đó cũng không dư dả gì, nhưng Tết thì vẫn phải ra Tết. Ba ngày đầu năm, bàn thờ lúc nào cũng có rượu, có trà, có bánh mứt. Ngoài sân có  đàn vịt đẻ sẵn sàng làm hậu phương cho mấy mâm cơm tươm tất. Nội tui tin lắm vào chữ “đủ đầy”. Nội nói, đầu năm mà tròn trịa thì cả năm mới yên ổn, no ấm được. Vì tin, nên kiêng. Kiêng giặt giũ mấy ngày Tết, sợ cả năm phải lom khom bên thau nước. Tui lúc đó còn nhỏ, nghe mà ngơ ngác: đồ mặc rồi không giặt thì biết làm sao? Chuyện đem đồ ra tiệm giặt, với tui hồi đó, xa xỉ như một giấc mơ. 

Về quê, chị em tui được thả về với thiên nhiên, sống hoang dã đúng nghĩa. Ban ngày tát đập, bắt cá, chiều lội ruộng mò cua, tối theo đám con nít trong xóm đi bắt chuột. Khi thì mót lúa, lúc lại hái bần ven sông. Cả một kho tàng trò chơi và thức ăn mà con nít Sài Gòn như tui khó lòng tưởng tượng nổi. Tuổi thơ lúc đó không có lịch hẹn, không có đồng hồ, chỉ có mặt trời lặn là tín hiệu trở về nhà. 

Nhưng hấp dẫn nhất, vẫn là mấy cái bao lì xì đỏ au. Nhỏ nhỏ vậy mà có võ. Góp từng đồng lẻ, tích tiểu thành đại, cuối Tết tui cũng có một khoản kha khá. Mang về Sài Gòn, đổi thành mấy cuốn truyện tranh và con búp bê đã ngắm nghía suốt cả năm trời. Hạnh phúc khi đó đơn sơ đến lạ, mà sao nhớ hoài không cũ. 

Hơn năm mươi năm trôi qua, ký ức ấy vẫn nằm yên một chỗ trong tui, không phai, không nhòe. Tui đi xa nửa vòng trái đất, mang theo cả mùi rơm rạ, mùi bánh Tết, mang theo cái ngu ngơ của tuổi mới lớn ngày nào. Ngày xưa chỉ mong mau lớn để được tự quyết đời mình. Còn bây giờ, lại thèm được bé lại, được chui vào vòng tay má, nghe má la rầy mà thấy lòng yên ổn. 

Thời gian như chuyến tàu không chờ ai. Nó cứ lăn bánh, kéo tui đi qua hết ga này đến ga khác. May mắn thay, đến tuổi này vẫn còn chỗ ngồi bên cửa sổ để ngắm bình minh, âu cũng đã là một phần thưởng lớn. Ngoảnh mặt lại, chỉ còn hơn ba tuần nữa là Tết Nguyên Đán. Năm con ngựa, cũng là năm tuổi của tui. 

Ngựa ơi, cứ phi đi, nhưng nhớ giữ thăng bằng. Sáu mươi năm lăn lộn với đời rồi, không biết còn chạy nổi bao xa. Nhưng thôi, còn đi được ngày nào, thì cứ đi cho trọn ngày đó.

NHẤT CHI MAI.

21/01/2026

Cuộc sống : TỤC BÓ CHÂN - St trên FB.




 TỤC BÓ CHÂN. 

(VN mình vậy mà ... nhân tính  hơn)

Có nhiều điều, nếu không tận mắt thấy, mình sẽ không tin nó từng tồn tại.

Đôi chân trong bức ảnh này là của một người phụ nữ Trung Quốc. Bà đã bị bó chân từ khi còn là một đứa trẻ. Không vì bệnh. Không vì tai nạn. Mà vì người ta nói vậy mới… đẹp.

Ngày xưa, ở Trung Quốc, con gái khoảng 5–6 tuổi đã bắt đầu bị bó chân. Các ngón chân bị bẻ cong xuống. Có khi xương bị làm gãy. Rồi người ta dùng vải quấn thật chặt, ngày này qua ngày khác, để bàn chân không lớn lên nữa.

Sau vài năm, bàn chân sẽ co lại, nhỏ bất thường. Biến dạng. Cong queo. Người ta gọi đó là “chân hoa sen”.

Càng nhỏ càng đẹp.

Càng nhỏ càng có giá.

Càng nhỏ càng dễ lấy chồng.

Nghe thì có vẻ nhẹ nhàng. Nhưng thực tế thì không nhẹ nhàng chút nào.

Đau. Đau suốt đời.

Nhiều phụ nữ không thể đi xa. Có người đi vài bước là phải dừng lại. Có người già rồi gần như không đi được nữa. Nhưng họ vẫn phải chịu, vì nếu không bó chân, họ có thể sẽ không lấy được chồng. Gia đình họ sẽ bị coi thường.

Có phải tự chị lấy đâu! Chỉ vì áp lực.

Áp lực từ gia đình.

Áp lực từ xã hội.

Áp lực từ cái gọi là “chuẩn mực”.

Tục này bắt đầu từ khoảng hơn 1.000 năm trước, thời nhà Tống. Lúc đầu chỉ có nhà giàu làm. Sau đó lan rộng ra khắp nơi. Nó tồn tại qua nhiều thế kỷ, từ đời này sang đời khác, đến mức người ta coi nó là chuyện bình thường.

Mãi đến đầu những năm 1900, khi xã hội bắt đầu thay đổi, người ta mới nhận ra nó tàn nhẫn thế nào. Năm 1912, chính quyền Trung Quốc chính thức cấm bó chân.

Nhưng cấm là một chuyện. Thay đổi là chuyện khác.

Ở nhiều vùng quê, người ta vẫn tiếp tục bó chân thêm vài chục năm nữa. Những người phụ nữ cuối cùng mang đôi chân bó vẫn còn sống cho tới đầu thế kỷ 21.

Họ là những nhân chứng sống của một thời mà sự đau đớn được coi là cái đẹp.

Ở Việt Nam, tục này hầu như không tồn tại. Người phụ nữ Việt Nam xưa phải làm ruộng, gánh hàng, đi chợ, nuôi con. Nếu bó chân, họ sẽ không thể sống được. Vì vậy, dù bị ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, người Việt không chấp nhận tục này như một chuẩn mực.

Đó là một điều may mắn.

Nhìn vào đôi chân trong bức ảnh, người ta không còn thấy vẻ đẹp nữa. Người ta chỉ thấy dấu vết của một thời mà xã hội có thể khiến con người tự hành hạ mình, chỉ để được chấp nhận.

Nó cũng nhắc mình một điều đơn giản:

Không phải cái gì tồn tại lâu đời cũng là đúng.

Và không phải cái gì được gọi là đẹp, cũng thực sự là đẹp.

Mọi thứ đều tương đối một thời...

Sưu tầm trên FB. 

Tản mạn : NGÀY XƯA HOÀNG THỊ - Lê Văn Thông.

 



NGÀY XƯA HOÀNG THỊ.

Ca khúc " Ngày Xưa Hoàng Thị"  của Phạm Duy được phổ nhạc từ  bài thơ cùng tên của Phạm Thiên Thư 

bài thơ ấy đọc một lần thấy hay và buồn, nhưng khi đọc nhiều lần thì thấy hình ảnh mình trong đó.

Tôi đến với "Ngày Xưa Hoàng Thị "không phải bằng âm nhạc trước, mà bằng thơ của Phạm Thiên Thư. Những câu chữ giản dị như bước chân học trò:


“Em tan trường về

Đường mưa nho nhỏ…”


Chỉ vậy thôi mà mở ra cả một bầu trời tuổi trẻ. Không có lời tỏ tình. Không có một lần nắm tay. Chỉ có một người đi trước và một người lẽo đẽo theo sau. Cái đẹp của bài thơ nằm ở sự ngập ngừng. Cái buồn của bài thơ là không ai dám nói điều mình muốn nói.

Tôi đã từng nghĩ đó chỉ là chuyện của người xưa. Cho đến khi tôi nhận ra mình cũng đã sống một “Ngày Xưa” như thế.

Tôi học ở trường trung học  Lý Thường Kiệt, mỗi buổi chiều tan học tôi đứng chờ em. Không phải đứng xa nhìn theo như  chàng trai trong thơ. Tôi đứng ngay cổng trường, giả vờ buộc lại dây giày hay chỉnh cái cặp, để khi em bước ra thì có thể đi chung trên con đường quen thuộc.

Con đường ấy cũng có nắng vàng và những cơn mưa bất chợt.

Có hôm trời mưa. Hai đứa trú dưới mái hiên lớp học. Mưa rơi lộp bộp xuống sân, nước bắn lên thành từng vòng tròn nhỏ. Em đứng sát bên tôi. Bàn tay em đặt hờ lên thành cửa sổ. Tôi muốn nắm lấy bàn tay ấy. Chỉ cần một lần thôi, tôi ngập ngừng. Tim đập nhanh hơn cả tiếng mưa. Cuối cùng, tôi lại thôi. Chúng tôi chỉ im lặng nhìn ra khoảng sân trắng xóa.

Đọc đến câu:

“Tìm lời mở nói

Lòng sao ngập ngừng”

tôi ngỡ ngàng. Hóa ra mình cũng từng “ngập ngừng” như thế.

Có buổi trưa trời mưa lớn. Tôi cứ đạp xe cạnh em dưới cơn mưa dài dằng dặc. Nước mưa làm tóc em ướt, dính vào má. Tôi lạnh run mà lòng lại ấm. Lúc ấy tôi hiểu vì sao trong thơ có câu “Mưa nhẹ bâng khuâng”. Mưa không chỉ ướt áo, mưa còn làm lòng người xao xuyến.

Có hôm tôi đến nhà em  cùng học bài, em cho tôi ly chè thơm mùi nước cốt dừa và tôi ở lại ăn buổi cơm cùng gia đình em. Bữa cơm đơn sơ mà tôi thấy mình như đã bước vào một mái nhà tương lai. Tôi ngồi ăn mà nghe tim mình rộn rã.

Nhưng tuổi học trò thường không giữ được những ước mơ  ban đầu .

Sau năm đó, tôi  vào đại học. Chúng tôi chia tay không ai dám nói hết lòng mình,cho dù là một lời hứa hẹn. Tôi nghĩ bốn năm đại học không dài. Nhưng đời người thì dài hơn bốn năm rất nhiều.

Em đi lấy chồng.

Tin ấy đến nhẹ như một cơn gió, nhưng đã làm lòng tôi chết lặng  . Tôi không trách em. Tôi chỉ trách mình đã không một lần nói rõ. Nếu ngày đó tôi nắm lấy tay em dưới  mưa, liệu mọi chuyện có khác?

Trong bài thơ, mười năm sau, người xưa tình cờ trở lại:


“Mười năm rồi Ngọ

Tình cờ qua đây…”


Còn tôi, tôi chưa từng có một lần gặp lại em như thế. Chỉ có những lần đi ngang con đường cũ, thấy nắng vẫn vàng mà lòng mình thì đã khác.

Cảm nhận "Ngày Xưa Hoàng Thị" tôi hiểu vì sao bài thơ sống mãi. Nó không chỉ kể chuyện của một cô gái tên Ngọ. Nó kể về tất cả những mối tình đầu không trọn vẹn. Về những bàn tay không kịp nắm. Về những lời không dám nói.

Người ta thường nhớ tình đầu không phải vì đó là mối tình đẹp nhất, mà vì đó là lần đầu trái tim biết thổn thức !

Đến bây giờ, mỗi khi nghe lại giai điệu bài hát năm xưa, tôi vẫn thấy mình của tuổi mười tám đứng dưới mái trường , tay run run mà không dám chạm vào tay em.

Có lẽ, trong mỗi chúng ta đều có một “Hoàng Thị” của riêng mình.

Và có những ký ức đẹp, dù đã đi qua , nhưng vẫn còn mãi mãi trong trái tim ta.

Bài thơ 

Ngày Xưa Hoàng Thị

( Thi sĩ: Phạm Thiên Thư)


Em tan trường về

Đường mưa nho nhỏ

Chim non giấu mỏ

Dưới cội hoa vàng


Bước em thênh thang

Áo tà nguyệt bạch

Ôm nghiêng cặp sách

Vai nhỏ tóc dài


Anh đi theo hoài

Gót giày thầm lặng

Đường chiều úa nắng

Mưa nhẹ bâng khuâng


Em tan trường về

Cuối đường mây đỏ 

Anh tìm theo Ngọ

Dáng lau lách buồn


Tay nụ hoa thuôn

Vương bờ tóc suối

Tìm lời mở nói

Lòng sao ngập ngừng


Lòng sao rưng rưng

Như trời mây ngợp

Hôm sau vào lớp

Nhìn em ngại ngần


Em tan trường về

Đường mưa nho nhỏ

Trao vội chùm hoa

Ép vào cuối vở


Thương ơi! Vạn thuở

Biết nói chi nguôi

Em mỉm môi cười

Anh mang nỗi nhớ


Hè sang Phượng nở 

Rồi chẳng gặp nhau ,

Ơi mối tình đầu 

Như đi trên cát 


Bước nhẹ mà sâu 

Mà cũng hòa mau... 

Tưởng đã phai mầu

Đường chiều hoa cỏ 


Mười năm rồi Ngọ 

Tình cờ qua đây 

Cây xưa vẫn gầy 

Phơi nghiêng dáng đỏ


Áo em ngày nọ 

Phai nhạt mấy màu 

Chân theo tìm nhau 

Còn là vang vọng


Đời như biển động 

Xóa dấu ngày qua 

Tay ngắt chùm hoa 

Mà thương mà nhớ 


Phố ơi! Muôn thuở 

Giữ vết chân tình 

Tìm xưa quẩn quanh 

Ai mang bụi đỏ 


Dáng ai nho nhỏ 

Trong cõi xa vời. 


Tình ơi! Tình ơi!


LÊ VĂN THÔNG. 

Hồi ức : SÁCH ĐÈN THUỞ ẤY - Vũ Thế Thành.

 


SÁCH ĐÈN THUỞ ẤY.

( Tựa của MCHX blog )

Chợ sách Đặng Thị Nhu bị xóa sổ vào giữa thập niên 80, buộc gom sách về cho cơ quan nhà nước quản lý, nên các chủ quầy chạy hết, tản ra các  nơi khác bán sách vỉa hè “lưu động” ở đường Trương Tấn Bửu (Trần Huy Liệu), Hồng Thập Tự (NTMK),… Khi hữu sự, sẵn sàng gom sách ù té chạy. 

Sách bày bán ở các “quầy sách cũ vỉa hè” này không còn phong phú và đa dạng như ở chợ Đặng Thị Nhu (hẻm Cá Hấp). Nhớ hoài, ở chợ ĐTN chỉ 1 quầy duy nhất có quyển “Handbook of Chemical Engineers”, tôi vẫn thường ra đây vờ vĩnh tham khảo sách. Quyển này giá 4 chỉ vàng, đôi lúc mân mê vuốt ve sách hơn cả tình… nhơn. Khi chợ sách dẹp tiệm, tôi đứng ngẩn người giữa chợ trống hoắc, cảm giác như “người tình bỏ ta đi”. 

Hồi đó tương lại mù mịt bế tắc chiều tối là nhậu (rượu Cây Lý) vỉa hè suốt… , thằng bạn ngồi uống với mình tối nay, tối sau có thể đã biến. Nhậu nghiêng ngửa như vậy mà tối về nhà vẫn đọc sách, không đọc không ngủ được… Thời buổi đảo điên đó, chỉ có sách là bè bạn. Đọc đi đọc lại sách của E. M. Remarque, C.V Gheorghiu, A. Solzhenitsyn,...thấy như chính mình trong đó… (Vtt)

Một thời thư viện

Hồi còn học trung học tôi ít khi vào thư viện, thỉnh thoảng mới tạt vào thư viện Hội Việt Mỹ ở đường Mạc Đỉnh Chi.

Thư viện này rộng lớn, có máy lạnh, là nơi trốn nắng lý tưởng, có khi trốn cả mưa nữa. Vào thư viện không phải đọc sách mà để đọc báo…chùa. Thư viện thỉnh thoảng tổ chức triển lãm tranh ảnh, sách báo. Tôi nhớ có lần triển lãm mấy cục đá trên mặt trăng do phi thuyền Apollo 16 hay 17 gì đó mang về. Đá chị Hằng không đẹp, sần sùi, nhưng bài trí trong phòng ánh sáng xanh tím dịu, đẹp lung linh.

Lên đại học, tôi mới vào thư viện thường hơn. Vào thư viện không phải để mượn sách hay tìm tài liệu (dù có thẻ thư viện), mà vào để học. Thi rớt đi lính, rất phiền cho cuộc đời. Thật ra thì không hẳn sợ rớt đi lính – tôi tự tin sức học của mình có thể pass – mà học vì khao khát kiến thức, mơ mộng thành…khoa học gia này nọ. Tôi tin hầu hết các bạn bên ngành khoa học đều có tâm trạng như vậy. Tuổi trẻ thường hoang tưởng trèo cao, càng cao càng té đau. Năm 75 đứt phim, đau điếng.

Khi đầu óc bão hòa, nhét chữ không vào, thì kiếm tờ báo đọc. Hai thư viện tôi thường vào: Đó là thư viện Đắc Lộ ở đường Yên Đổ. Thư viện này nằm trong khuôn viên Trung tâm Đắc Lộ của Dòng Tên. Không chỉ có thư viện mà nơi đây còn có studio làm các show truyền hình về giáo dục cho giới trẻ, có khi hóng chuyện nghe những nhân viên trong đó bàn chuyện làm chương trình khoa học phổ thông, sức khỏe, đời sống cũng thấy hào hứng. Chỉ nghe chứ tôi chưa xem show của họ trên TV bao giờ.

Mấy linh mục Dòng Tên kiến thức uyên bác và phóng khoáng, phóng đến độ bị Vatican đì mấy thế kỷ. Nhưng phóng khoáng lại dễ hòa đồng, giới trẻ thích mấy cha Dòng Tên, bất kể lương giáo. Tu viện có mấy ông cha Tây, tôi lân la tán phét, xổ tiếng Anh,.. Trời đất, có ông cha nói tiếng Việt sõi như người Việt, xài cả tiếng lóng như bọn trẻ. Tôi không nhớ nổi tên cha Tây này, chỉ  quen gọi là cha Sáu.

Sau năm 75, các cha Tây bị trục xuất về nước. Tôi nghe nói cha Sáu có thời gian qua các trại tị nạn ở Malaysia giúp đỡ dân Việt vượt biên ở đó. Hình như cha mất rồi thì phải…

Còn trung tâm Đắc Lộ thì bị tịch thu, làm tòa soạn báo Tuổi Trẻ và nhà in. Sau này nghe nói chính quyền có trả lại cho nhà dòng một phần – một phần to nhỏ thế nào tôi không rõ.

Chán chữ nghĩa thì đạp xe ra cà phê Lá Me đàn đúm bè bạn ở vỉa hè đường Duy Tân, ngắm người đẹp Văn Khoa, Luật khoa, và cả Trưng Vương nữa. Chán hơn nữa thì ra đường Cường Để, ngược về phía bến Bạch Đằng là đoạn đường vắng vẻ êm đềm, với những hàng cây cổ thụ lâu đời, rễ cây mọc trồi cả lên mặt đường.

Hai bên đường là những biệt thự cổ kính: Bên phải nghe nói là tư dinh của đại tướng Lê Văn Tỵ, đan viện Cát Minh, bên trái là Đại chủng viện, nhà nguyện, dòng tu. Con đường này ít người qua lại vì đoạn cuối là căn cứ quân sự Hải quân.

Gửi xe ở Đại học Văn Khoa, rồi thả bộ trên đường Cường Để vào buổi chiều, nghe tiếng ve kêu, tưởng như ngược dòng thời gian cách nay mấy thế kỷ bên Châu Âu. Một đoạn đường yên bình trong thời chiến tranh, êm đềm đến độ có lần tôi làm… thơ. Tôi nhớ mang máng, bài thơ chỉ có hai câu. Đó là bài thơ “tử tế” đầu tiên (và cũng là cuối cùng trong đời tôi). Đừng ai hỏi tôi về hai câu thơ này, tôi quên sạch rồi.

Thư viện thứ hai tôi thường vào là Trung tâm Văn hóa Đức ở đường Phan Đình Phùng, hình như bây giờ là Tòa Lãnh sự Đức. Thư viện này rất yên tĩnh, ít người, nên tôi vào nhiều hơn. Có những chiều mưa, nhìn qua khung cửa kính, thấy bâng khuâng. Thời tuổi trẻ thật đẹp!

Sau 75 là thời phần thư khanh nho, Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn Nho, người ta đốt sách chôn sự thật, chôn cả tự do.

Đường Cường Để đã đổi tên, và giờ đây là con phố ồn ào, náo nhiệt, quán xá, thương xá, cao ốc, xe cộ… Với tôi, đường Cường Để là con đường đẹp nhất Sài Gòn, chỉ còn tìm thấy trong ký ức.

Cà phê Lá Me cũng không còn… Còn nhiều thứ khác nữa cũng không còn, không chỉ con đường hay quán xá, mà cả tinh thần của người Sài Gòn cũng đang mờ dần.

Hơn 45 năm rồi, tôi không còn vào những thư viện năm xưa đó nữa. Thư viện của tôi là các quầy sách cũ ở đường Bùi Quang Chiêu (nay là Đặng thị Nhu), đọc sách chùa cả tiếng đồng hồ, mà chủ quầy chưa bao giờ phàn nàn tên khố rách đến mót chữ. Chợ sách cũ giờ cũng không còn.

Dù chưa một ngày làm quan, tôi bỗng nhớ câu thơ của Nguyễn Khuyến “Sách vở ích gì cho buổi ấy”. Tôi ngộ ra được nhiều điều về con người từ hồi Sài Gòn rơi vào buổi phần thư.


Vũ Thế Thành

Thứ Ba, 17 tháng 2, 2026

Cuộc sống : GIỎ QUÀ ĐẦU NĂM - Lê Văn Thông.

 


GIỎ QUÀ ĐẦU NĂM 


Ở quê tôi – một xóm nhỏ miền Tây nằm nép mình bên con rạch đục phù sa – mỗi dịp Tết đến, người ta không chỉ chờ mai nở, chờ bánh tét chín, mà còn chờ những giỏ quà đầu năm. Giỏ quà quê không sang trọng, thường chỉ có mấy ký đường, hộp trà, ít bánh mứt. Nhưng cái quý nhất không nằm trong bao bì bóng loáng, mà nằm ở tấm lòng người đem tới.

Năm đó, Tết đến với gia đình tôi không bằng mùi thơm của nồi bánh tét, mà bằng mùi thuốc sát trùng còn vương trên áo.

Em trai tôi vốn khỏe mạnh, quen trèo cây dừa cao nhất xóm. Cây dừa nhà tôi mấy chục năm tuổi, thân cao vút, mỗi năm chỉ hái trái bán Tết một lần để có chút tiền sắm sửa. Chiều hai mươi bảy, em trèo lên như mọi khi. Ai ngờ trượt chân. Cái ngã từ trên cao xuống không chỉ làm gãy xương, mà còn làm cả nhà tôi chao đảo.

Bệnh viện, tiền viện phí, những khoản vay mượn chồng lên nhau như những lớp sóng ngoài sông mùa nước lớn. Má tôi thở dài nhiều hơn nói. Ba tôi vốn ít lời, giờ càng lặng lẽ.

Chị gái tôi – người đã lấy chồng trên TP.HCM – nghe tin liền bắt xe về trong đêm. Anh rể đi cùng, tay xách sữa, tay ôm theo ít quần áo. Nhà chồng chị ở thành phố, buôn bán vật liệu xây dựng, cuộc sống khác hẳn miền quê sông nước của chúng tôi. Từ ngày chị lấy chồng, bà con lối xóm hay trêu: “Con nhỏ miền Tây mà làm dâu Sài Gòn, chắc sướng lắm!”

Nhưng chỉ người trong cuộc mới hiểu, làm dâu không phải chuyện sướng hay khổ, mà là chuyện có được thương hay không.

Những ngày cuối năm, thay vì lo sắm Tết, cả nhà tôi thay phiên nhau vào bệnh viện. Chị tôi lặng lẽ rút sổ tiết kiệm dành dụm bấy lâu. Tôi thấy chị đứng ngoài hành lang, nhìn điện thoại thật lâu, rồi lại cất vào túi. Có lẽ chị muốn gọi về nhà chồng, nhưng rồi thôi. Ở quê, người ta quý nhất là sự tự trọng. Giúp thì quý, nhưng mở lời vay mượn lại là chuyện khác.

Chiều ba mươi, khi em trai vừa được xuất viện về nhà nghỉ ngơi, thì ba má chồng chị tôi từ TP.HCM xuống.

Họ đi xe hơi về tận đầu xóm, rồi đi bộ vào vì đường nhỏ. Trên tay chỉ có một giỏ quà: trái cây, hộp trà, mấy đòn bánh tét mua ở thành phố. Giỏ quà nhìn giản dị đến mức mấy cô dì trong xóm khẽ chép miệng: “Nhà thành phố mà…”

Ba má tôi vẫn niềm nở mời nước. Người miền Tây nghèo thiệt, nhưng hiếu khách và hào sảng thì không thiếu.

Cuộc nói chuyện diễn ra nhẹ nhàng. Họ hỏi thăm sức khỏe thằng út, dặn dò nó ráng dưỡng thương. Không ai nhắc đến tiền bạc. Không ai nhắc đến khó khăn.

Tối đó, khi khách đã về, má tôi dọn giỏ quà ra sắp lên bàn thờ ông bà. Trong hộp trà có một phong bì nhỏ. Bên trong là một tấm thẻ ngân hàng và mảnh giấy viết tay:

“Biết gia đình đang lo cho cháu út. Chúng tôi gửi chút tấm lòng, mong anh chị đừng ngại. Người một nhà,khi gặp khó thì cùng gỡ. Đừng để con dâu chúng tôi phải đứng giữa mà buồn.”

Mật khẩu là ngày cưới của chị tôi.

Má tôi cầm tờ giấy mà tay run run. Ba tôi quay mặt đi, giả vờ ho. Chị tôi ngồi bệt xuống nền nhà, nước mắt rơi mà miệng vẫn cười.

Cái hay của người thành phố không phải ở sự giàu có, mà ở cách họ cư xử. Họ không trao tiền trước mặt đông người. Không nói lời khiến ai phải mang ơn. Họ để giỏ quà đầu năm như bao giỏ quà khác, nhưng bên trong là sự thấu hiểu.

Còn cái hào sảng của người miền Tây là ở chỗ: nhận tấm lòng ấy bằng sự biết ơn chân thành, không tự ái, không mặc cảm. Ba tôi gọi điện cảm ơn, nói khi nào xoay xở được sẽ hoàn lại. Đầu dây bên kia chỉ cười: “Khỏi vội anh chị. Lo cho thằng nhỏ khỏe trước đã.”

Đêm giao thừa năm đó, nhà tôi không bắn pháo hoa, không mở nhạc lớn. Nhưng mâm cơm cúng ông bà có thêm một nụ cười nhẹ nhõm. Em trai tôi nằm trên võng, chân bó bột, nhìn ra sân đầy nắng mới.

Tôi chợt hiểu, giỏ quà đầu năm không chỉ là quà. Nó là cách người ta đặt một bàn tay lên vai nhau mà nói: “Có tôi đây.”

Giữa miền Tây gió sông lồng lộng và Sài Gòn xe cộ ồn ào, hai gia đình – một quê, một phố – bỗng thấy gần nhau hơn chỉ vì một sự tử tế.

Và có lẽ, Tết năm ấy, điều đáng nhớ nhất không phải là cây dừa trĩu trái hay mâm bánh tét xanh, mà là tấm lòng được gửi đi và được nhận lại, tròn đầy như vị ngọt của trái dừa quê nhà.


( Lê Văn Thông)

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2026

Phương xa : LÀM THAY ĐỔI... - St trên FB.

 



LÀM THAY ĐỔI LUẬT PHÁP. 

Năm 1961, một người đàn ông chỉ học hết lớp 8 đã cầm bút chì trong phòng giam của mình và vô tình thay đổi lịch sử nước Mỹ mãi mãi.

Clarence Earl Gideon không phải là người đặc biệt. Ở tuổi 51, ông là một người lang thang với mái tóc bạc, làn da sạm nắng và một cuộc đời đầy bất hạnh. Ông lang thang từ thị trấn này sang thị trấn khác, làm những công việc lặt vặt, sống lay lắt qua ngày, thỉnh thoảng lại vào tù vì những tội nhỏ. Ông chưa bao giờ học hết cấp hai. Ông chưa bao giờ có tiền. Và vào ngày 4 tháng 8 năm 1961, khi đứng trước tòa án ở Florida bị buộc tội đột nhập vào một quán bi-a, ông không có luật sư.

Bằng chứng chống lại ông rất mỏng manh – ai đó tuyên bố đã nhìn thấy ông gần quán bi-a Bay Harbor khoảng 5:30 sáng với tiền xu trong túi. Năm đô la tiền lẻ đã bị mất khỏi tòa nhà, cùng với một ít bia và nước ngọt. Chỉ có vậy. Gideon thề rằng mình vô tội, nhưng ai sẽ lắng nghe một người lang thang nghèo khó với tiền án tiền sự?

Khi phiên tòa bắt đầu, Gideon đưa ra một yêu cầu mà ông tin là đơn giản và hợp hiến: "Thưa Thẩm phán, tôi yêu cầu tòa án chỉ định luật sư bào chữa cho tôi trong phiên tòa này."

Câu trả lời của thẩm phán rất lịch sự nhưng lại vô cùng tàn nhẫn: "Ông Gideon, tôi rất tiếc, nhưng tôi không thể chỉ định luật sư bào chữa cho ông trong trường hợp này. Theo luật của tiểu bang Florida, tòa án chỉ có thể chỉ định luật sư bào chữa cho bị cáo khi người đó bị buộc tội phạm tội nghiêm trọng."

Hãy suy nghĩ về điều đó một chút. Hệ thống pháp luật Mỹ – với tất cả sự phức tạp, các quy tắc thủ tục, ngôn ngữ chuyên ngành – lại yêu cầu một người chưa học hết cấp hai phải tự bào chữa cho mình trước các công tố viên được đào tạo bài bản. Họ mong đợi ông hiểu luật chứng cứ, thẩm vấn nhân chứng và bảo vệ quyền hiến pháp của chính mình.

Gideon đã cố gắng hết sức. Ông thẩm vấn nhân chứng. Ông tuyên bố mình vô tội. Nhưng làm sao bạn có thể tự bào chữa cho mình khi bạn không hiểu ngôn ngữ của luật pháp? Bồi thẩm đoàn tuyên bố ông có tội. Vào ngày 25 tháng 8 năm 1961, Thẩm phán Robert L. McCrary đã tuyên án ông mức án tối đa: năm năm tù tại nhà tù tiểu bang Florida.

Hầu hết mọi người sẽ bỏ cuộc. Nhưng Clarence Earl Gideon không phải là người bình thường.

Trong thư viện nhà tù, giữa những cuốn sách luật mà ông hầu như không thể hiểu, Gideon bắt đầu đọc. Dần dần, một cách khó nhọc, ông tự học về Hiến pháp. Ông phát hiện ra lời hứa của Tu chính án thứ Sáu về "quyền được trợ giúp pháp lý". Ông tìm hiểu về sự đảm bảo của Tu chính án thứ Mười bốn về thủ tục tố tụng công bằng. Và ông nhận ra một điều khiến lòng ông đau nhói: hệ thống này về cơ bản đã bị hỏng.

Làm sao công lý có thể tồn tại khi những bị cáo giàu có có luật sư, còn những người nghèo lại phải đối mặt với các công tố viên một mình?

Gideon đã nộp đơn kiến ​​nghị lên Tòa án Tối cao Florida. Họ bác bỏ đơn mà không đưa ra bất kỳ bình luận nào.

Vì vậy, ông lại cầm bút lên. Với nét chữ run rẩy trên giấy viết thư của nhà tù, trên năm trang giấy viết tay với lỗi chính tả không hoàn hảo, ông đã viết một đơn kiến ​​nghị gửi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Ông ký tên. Ông gấp lại. Và vào ngày 8 tháng 1 năm 1962, tiếng nói của một tù nhân nghèo đã đến được tòa án cao nhất nước Mỹ.

Bất chấp mọi khó khăn có thể tưởng tượng được, họ đã lắng nghe.

Tòa án Tối cao nhận được hàng nghìn đơn kiến ​​nghị mỗi năm. Hầu hết đều bị bác bỏ mà không cần xem xét kỹ lưỡng. Nhưng có điều gì đó trong vụ án của Gideon đã gây ấn tượng mạnh. Vào ngày 4 tháng 6 năm 1962, họ đồng ý xem xét đơn kháng cáo của ông. Và vì ông không đủ khả năng thuê luật sư, họ đã chỉ định cho ông một trong những luật sư giỏi nhất nước: Abe Fortas, người sau này sẽ trở thành Thẩm phán Tòa án Tối cao.

Vào ngày 15 tháng 1 năm 1963, Fortas đã đưa ra một lập luận đơn giản nhưng đầy sức thuyết phục: Nếu Clarence Darrow—có lẽ là luật sư hình sự vĩ đại nhất trong lịch sử nước Mỹ—còn cần thuê luật sư khi bị buộc tội, thì làm sao một người chỉ học hết lớp tám có thể tự bào chữa cho mình?

Câu trả lời rất rõ ràng. Ông ấy không thể. Không ai có thể.

Vào ngày 18 tháng 3 năm 1963, Tòa án Tối cao công bố phán quyết: 9 phiếu thuận, 0 phiếu chống. Nhất trí. Thẩm phán Hugo Black, người đã tranh luận cho kết quả này trong hơn hai mươi năm, đã viết bản án. Tòa án tuyên bố rằng quyền được có luật sư là "cơ bản và thiết yếu cho một phiên tòa công bằng". Các tiểu bang phải cung cấp luật sư cho các bị cáo nghèo đối mặt với các cáo buộc nghiêm trọng. Tiền lệ cũ đã bị lật ngược. Và vụ án của Gideon được gửi trở lại Florida để xét xử lại.

Lần này, Gideon có luật sư: Fred Turner. Với sự đại diện chuyên nghiệp, mọi thứ đã thay đổi. Turner đã vạch trần những điểm yếu trong vụ án của bên công tố. Ông tiết lộ rằng nhân chứng chủ chốt của tiểu bang có thể chính là người đã thực hiện vụ trộm. Ông ấy đã chứng minh được sự nghi ngờ hợp lý, trong khi trước đó dường như chỉ có tội lỗi.

Vào ngày 5 tháng 8 năm 1963—tại cùng một tòa án, trước cùng một thẩm phán—bồi thẩm đoàn đã đưa ra phán quyết:

Không có tội.

Sau hơn hai năm ngồi tù vì một tội mà ông không phạm phải, Clarence Earl Gideon đã được tự do.

Nhưng di sản của ông vẫn còn mãi. Nhờ đơn kiến ​​nghị viết bằng bút chì của một người đàn ông, hệ thống tư pháp Mỹ đã thay đổi một cách căn bản. Các tiểu bang trên khắp cả nước phải thành lập các văn phòng luật sư công. Hàng nghìn tù nhân bị kết tội mà không có luật sư đã được xét xử lại. Nguyên tắc rằng công lý không nên phụ thuộc vào sự giàu có đã trở thành luật.

Gideon trở lại cuộc sống bình lặng của mình. Ông kết hôn lần thứ năm. Ông phải vật lộn với các vấn đề sức khỏe. Khi ông qua đời vì ung thư vào ngày 18 tháng 1 năm 1972, ở tuổi 61, ông vẫn nghèo khó. Ban đầu, gia đình ông chôn cất ông trong một ngôi mộ không có bia mộ ở Missouri.

Nhưng nhiều năm sau, ACLU đã đặt một bia mộ bằng đá granit trên ngôi mộ đó. Dòng chữ khắc trên bia mộ được trích từ chính lời của Gideon trong một lá thư gửi cho Abe Fortas: "Mỗi thời đại đều tìm thấy sự cải tiến trong luật pháp vì lợi ích của nhân loại."

Ngày nay, mỗi khi bạn nghe thấy những lời "bạn có quyền được có luật sư, và nếu bạn không đủ khả năng chi trả, một luật sư sẽ được chỉ định cho bạn"—những lời đó tồn tại là nhờ một người đàn ông đã từ chối chấp nhận rằng người nghèo phải đối mặt với công lý một mình.

Clarence Earl Gideon đã chứng minh rằng lực lượng mạnh mẽ nhất để tạo ra sự thay đổi không phải là sự giàu có, địa vị hay học vấn. Đôi khi, đó chỉ đơn giản là lòng dũng cảm để cầm bút lên và viết: "Điều này không đúng."

Và đôi khi, bất chấp mọi khó khăn, thế giới lại đồng ý.

SƯU TẦM TRÊN FB. 

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2026

Truyện năm rắn : DÒNG NƯỚC BÍ ẨN - Huỳnh Văn Huê.

 




Truyện năm con rắn (Ất Tỵ):

DÒNG NƯỚC BÍ ẨN. 

Nơi tận cùng dãy núi mây phủ quanh năm, có một bộ lạc hầu như sống biệt lập với thế gian. Người trong vùng gọi đó là bản Khe Ngàn, vì bốn phía là khe suối chằng chịt, nước từ trên cao đổ xuống như những sợi chỉ bạc giữa rừng già. Núi cao đến mức sáng mở mắt ra đã thấy mây lững lờ trôi ngang mái nhà, chiều đến thì sương giăng kín lối đi, tiếng chim rừng vang lên nghe như vọng từ cõi khác.

Người bản Khe Ngàn sống bằng săn bắn, hái lượm và trồng lúa nương. Họ tin vào thần núi, thần suối, tin rằng mọi sự sống đều có linh hồn. Tù trưởng đời này sang đời khác giữ vai trò cầu nối giữa con người và thế giới vô hình ấy.

Ít ai biết rằng, trên đỉnh ngọn núi cao nhất — nơi mây tụ dày nhất và chưa từng có dấu chân người — tồn tại một sinh vật cổ xưa.

Đó là một con rắn khổng lồ, thân to bằng thân cây…, vảy xám bạc, đôi mắt vàng như lửa âm ỉ. Nó đã tu luyện hàng trăm năm, hấp thụ linh khí đất trời, uống sương đêm, nuốt ánh trăng. Qua năm tháng, nó hóa tinh, biết nói tiếng người, biết mưu tính và khát khao quyền lực của loài người.

Nó tự xưng là Thần Xà nhưng đúng ra chỉ nên gọi là Xà Tinh.

÷    ÷    ÷

   Một đêm trăng tròn, khi cả bản đang say ngủ, tù trưởng Ma Lương giật mình tỉnh dậy vì tiếng gọi vang lên trong đầu. Không phải âm thanh từ tai, mà là tiếng nói trầm đục vọng thẳng vào tâm trí.

“Ma Lương… Ngươi là người được chọn.”

Ông run rẩy bước ra khỏi nhà sàn. Trước mặt ông, trong màn sương trắng, hiện lên một cái bóng khổng lồ uốn lượn. Hai con mắt vàng rực nhìn thẳng vào ông.

“Ta là thần xà ngự trên đỉnh núi. Từ nay, mỗi ngày rằm, hãy dẫn toàn bộ dân bản lên khe suối trên đỉnh để hứng nước thần. Ai uống sẽ được ta che chở.”

Tù trưởng quỳ sụp xuống, trán đập vào đá lạnh. Ông không dám nghi ngờ. Với người bản Khe Ngàn, lời của “thần” là mệnh lệnh tuyệt đối.

Từ đó, mỗi ngày rằm, dân bản bỏ hết việc nương rẫy, nối hàng dài men theo con đường dốc đứng lên đỉnh núi. Ở đó có một khe suối nhỏ, nước trong vắt, lấp lánh dưới ánh trăng.

Họ tin đó là nước ban phúc.

Không ai biết rằng, mỗi đêm trước ngày rằm, Xà Tinh bò đến đầu nguồn, cúi đầu xuống dòng nước, nhả nước dãi độc đã được nó luyện hóa. Chất độc ấy không giết người ngay. Giết người làm chi, không có lợi! Tuyệt vời nhất là độc chất ngấm chậm, làm mờ lý trí, làm con người trở nên ngoan ngoãn, dễ điều khiển, mất dần ý chí phản kháng.

Uống một lần chưa thấy gì. Uống nhiều lần, con người quên mất cách nghi ngờ.

÷    ÷    ÷

   Chỉ sau một thời gian, bản Khe Ngàn đổi khác.

Người ta thôi tranh cãi, thôi đặt câu hỏi. Tù trưởng nói gì cũng gật đầu. Ai trái ý đều bị xem là xúc phạm thần linh. Ánh mắt mọi người trở nên đục, giọng nói đều đều như những cái bóng biết đi.

Chỉ có Tú Lang — một chàng trai trẻ, mồ côi cha mẹ từ nhỏ — là khác.

Tú Lang vốn hay lên rừng một mình, quen quan sát thiên nhiên. Chàng để ý rằng mỗi lần uống nước suối về, đầu óc mình nặng trĩu, tim đập chậm lại, những suy nghĩ sắc bén như bị bọc trong sương mù.

Tới ngày rằm... , Tú Lang không uống. Chàng nép vào một người đến trước, chỉ giả vờ đưa gáo lên môi, rồi lén đổ nước xuống kẽ đá.

Tối hôm đó, Tú Lang tỉnh táo lạ thường. Chàng nghe rõ tiếng côn trùng, nhìn rõ từng đốm sáng trong rừng đêm. Và lần đầu tiên, chàng nghi ngờ.

“Nếu là nước thần, sao lại khiến người ta mê muội?”

Tú Lang bắt đầu lén quan sát đầu nguồn. Một đêm gần đến ngày trăng tròn, chàng trèo lên vách đá gần khe suối. Dù trăng chưa tròn nhưng vẫn đủ sáng để chàng nhìn rõ mọi việc xảy ra , Tú Lang thấy một thân rắn khổng lồ trườn tới, cúi đầu xuống nguồn nước. Miệng nó há rộng, từ trong miệng nó tuôn ra một thứ nước dãi sền sệt đục ngờ ngờ… .

Mùi tanh tưởi bốc lên.

Tú Lang hiểu ra tất cả… .

÷    ÷    ÷

   Thuyết phục người mê muội còn khó hơn đánh nhau với quái vật.

Khi Tú Lang nói với dân bản rằng nước có độc, họ nhìn chàng như nhìn kẻ điên. Có người còn muốn trói chàng lại giao cho tù trưởng.

Tú Lang không bỏ cuộc. Chàng tìm những người mới uống ít, những đứa trẻ uống ít nước, những người già yếu hấp thu kém nên chưa bị ngấm độc sâu. Chàng bảo họ thử không uống một kỳ trăng tròn. 

Vài người làm theo.

Rồi họ tỉnh.

Tỉnh như người vừa thoát cơn mộng dài. Họ nhận ra sự thay đổi trong chính mình. Từ đó, nhóm người tỉnh táo dần lớn lên.

Tú Lang kể cho họ nghe về con Xà Tinh, về đầu nguồn, về nước dãi độc.

Nỗi sợ ban đầu dần biến thành cơn giận như thiêu đốt tâm cang.

“Chúng ta đã trao ý chí của mình cho một con quái vật.”

÷    ÷    ÷

   Đêm rằm kế tiếp, cả bản vẫn lên núi theo lệnh tù trưởng. Nhưng trong số đó, có những người không uống.

Khi trăng lên cao nhất, Xà Tinh xuất hiện. Nó quấn mình quanh những trụ đá lớn, cất tiếng nói vang dội.

“Uống đ…i…i…i…Rồi các ngươi sẽ được b..ì..n..h …a..n…. !”

Biết rằng hôm trước xà tinh đã nhả hết nước dãi ra, và do đó lúc này là lúc nó yếu đuối nhất. Lang bước ra khỏi đám đông. 

“Không. Chúng tôi không cần thứ bình an của ngươi.”

Thần Xà rít lên. Nó nhận ra độc chất đã mất tác dụng với nhiều người dân bản.

Họ — lần đầu tiên sau nhiều năm tháng — tự mình quyết định. Đã chuẩn bị sẵn, họ cầm giáo mác, cuốc xẻng, gậy gộc … .Những thứ tưởng như thô sơ ấy, khi hợp sức, lại trở thành sức mạnh ghê gớm.

Trận chiến diễn ra dữ dội. Xà Tinh mạnh, nhưng nó cô độc. Con người yếu hơn, nhưng họ có ý chí và số đông đoàn kết. 

Cuối cùng, khi trời hửng sáng, thân rắn khổng lồ đổ xuống khe sâu. Tiếng gầm rít tắt lịm, có còn chăng chỉ còn tiếng gió thổi qua khe núi và tiếng nước đổ hiền hòa từ trên cao… .

÷    ÷    ÷

   Người ta lấp đầu nguồn nước cũ, tìm khe suối mới. Nước lại trong, mát, không mùi tanh.

Tù trưởng cũ tự cho mình đã già xin từ chức về an nghỉ.  Dân bản không lập “thần” mới. Họ họp nhau, bàn bạc, tranh luận — những điều từng bị xem là cấm kỵ và nguy hiểm — tìm tù trưởng mới. Khỏi nói cũng biết người được dân bản mong muốn làm tù trưởng là ai .

Tú Lang lúc đầu nhiều lần nhất quyết không nhận làm người đứng đầu. Nhưng trước ý nguyện của dân bản, chàng không thể từ chối. Chàng nói:

“Quyền lực không nên nằm trong tay một người, càng không nên trao cho thứ ta không hiểu. Vì thế tôi chỉ đứng ra cùng một số người tập hợp ý nguyện của dân bản. Nếu như nhóm chúng tôi làm sai, tất cả mọi người có quyền phản đối, truất quyền tất cả chúng tôi. Nếu được như vậy thì tôi xin nhận trách nhiệm… “

Bản Khe Ngàn dần thay đổi. Không còn mê tín mù quáng, nhưng vẫn tôn trọng tuyệt đối việc gìn giữ núi rừng, khe suối… .

Trên đỉnh núi cao, mây vẫn trôi, rừng vẫn xanh lá… . Nhưng từ đó, dân bản  không còn ai cúi đầu trước bóng tối u mê nữa… ./.

HUỲNH VĂN HUÊ ( Cuối năm Ất Tỵ )

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

Thơ : CHỊ VỀ QUÊ MẸ... - Lê Hồng Phúc.

 



CHỊ VỀ QUÊ MẸ CHIỀU NAY 


Chị về quê mẹ chiều nay

Sông sâu, một chuyến đò đầy chị sang

Tòng phu xuất giá xa làng

Tiếng gà trưa gáy cũng man mác buồn


Chị về qua ngõ mưa tuôn

Tường rêu phủ kín nỗi buồn chị ơi

Chị về thăm hỏi đôi lời 

Cha mừng, Mẹ tủi biết vơi nỗi lòng?


Hỏi rằng bến đục, bến trong?

Mưa sa lầu các hay đồng ruộng sâu

Ngậm ngùi nói chẳng thành câu

Dâng Cha chén nước, têm trầu Mẹ ăn


Chị ngồi giúp Mẹ vấn khăn

Nụ cười giấu những nhọc nhằn trên môi

Má hồng trời định duyên rồi

Đắng cay đành gởi vào lời chị ru 


Khơi trong hay chốn ao tù 

Me thương chị, hát lời ru bẽ bàng 

Quê mình cách trở đò ngang 

Một chiều thăm Mẹ vội vàng chị  đi 


Tiễn chân chị chớ khóc gì

Kẻo Cha Mẹ tủi mỗi khi chạnh lòng 

Chiều chiều gió thổi đàng đông 

Thở dài thương chị lấy chồng đàng xa. 


Chị ơi “chuối rụng” sau nhà 

Nhớ quê chị nhé phương xa thì về./.


Bút Quê - Lê Hồng Phúc 

(Ảnh nguồn Internet)