Thứ Hai, 5 tháng 1, 2026

Thơ : KHÔNG THỂ NHẠT NHÒA - hathuthuy.

 


KHÔNG THỂ NHẠT NHÒA. 

Ta sẽ hát cho rừng yên ngủ

Bằng tình ca rất đổi mặn nồng

Có yêu thương xạc xào gió vỗ

Cây đợi rừng gần suốt trăm năm.


Sẽ hát bài ca nồng nàn nhất

Cho lá vàng rơi mãi về xa

Để chan hòa trong từng nốt nhạc

Tình muôn miên không thể nhạt nhòa.

hathuthuy

Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025

Cuộc sống: CON ĐƯỜNG DẪN TÔI... - Lê Văn Thông.




 Con đường dẫn tôi đến trường Đại học

Tôi từng có một mối tình đầu trong veo như nắng sớm. Em học lớp kế bên, mái tóc đen dài và đôi mắt biếc buồn. Sáng thứ hai tuần nào, trong buổi chào cờ, tôi cũng tìm em giữa hàng dài áo trắng. Khi ánh mắt em chạm vào tôi, nụ cười em khẽ nở — thế là ngày hôm ấy, với tôi, đã đủ vui.

Cuối năm đó, tôi nộp đơn thi vào Đại học. Em cười, nửa đùa nửa thật:

— Anh mà thi đậu, em… phục lắm!

Câu nói ấy trở thành lời hẹn không thành, mà tôi mang theo suốt những tháng ngày sau này.

Trước ngày thi, nhà tôi không có lấy một đồng.Tôi nghĩ sẽ bỏ cuộc , rất mai chiều hôm đó có người đến lấy sổ mua  nhu yếu phẩm trả năm đồng. Tôi rất mừng vì có tiền để đi thi.Tôi để lại cho các em ba đồng, giữ lại hai đồng, mang theo thêm hai ký gạo mà dì hàng xóm dúi cho. Khuya ấy, tôi đạp xe đi thi.

Đến trạm gác đầu làng, họ giữ lại vì tôi mang gạo. Tôi chìa phiếu báo danh mà họ vẫn không cho qua. May có người trong nhóm nhận ra tôi, nói: “Cho nó đi, mai nó thi đại học.”

Những ân tình của mọi người, đã giúp tôi năm đồng và 2kg gạo và một lời nói cho nó đi tôi mang theo suốt đời.

Tôi đạp xe đến Hóc Môn và gửi xe ở đó và đón xe đò  đi về Sai Gòn , đến ngã tư Bảy Hiền không có xe buýt nên tôi đi bộ đến Trường Đại học Sư phạm trên đường Trương Minh Giảng (nay là Lê Văn Sĩ). Trời còn tối, gió sớm lạnh buốt, mà tôi vẫn thấy lòng ấm vì giấc mơ sắp đến gần.

Thi xong buổi đầu, tôi mới sực nhớ mình chưa có chỗ ở, trong túi chỉ còn vài đồng lẻ. Rất may, tôi gặp người bạn cũ — con của chủ nhà nơi tôi từng làm công. Nhờ nó, tôi có chỗ ăn ở suốt mấy ngày thi, có bữa cơm nóng và tiếng nói thân quen giữa Sài Gòn xa lạ.

Vài tháng sau, giấy báo trúng tuyển gửi về. Tôi cầm tờ giấy mà tay run run. Má tôi thì buôn bán xa chỉ có  ngoại ở nhà ,tôi cho  ngoại hay tin tôi đậu đại học khi nghe tin vai ngoại run run hai hàng nước mắt chảy dài... ngoại chỉ nói một câu "Tội nghiệp cháu của bà"..tôi không bao giờ quên những hình ảnh và lời nói của ngoại ngày hôm đó tôi biết những ngày sắp tới tôi phải làm sao ? tôi nên lên Sài Gòn học hay ở lại phụ giúp gia đình trong lòng vui thì ít, lo thì nhiều. Thằng em kế nói với tôi: anh Hai nên đi học tiếp cả gia đình mình kỳ vọng vào anh còn việc ở nhà để em phụ má và chăm sóc những đứa em còn nhỏ ...

Ngày lên Sài Gòn nhập học, tôi đứng bên con đường làng, nhìn lại mái  nhà cũ,  khi xe qua khu nhà em .Tôi không kịp nói lời tạm biệt. Chỉ biết thì thầm:

Tạm biệt người con gái tôi thương. Tạm biệt miền quê nghèo đã nuôi tôi lớn bằng những bữa cơm kho quẹt, bằng tiếng mẹ thở dài trong đêm.

Năm đầu đại học, tôi đi dạy kèm để có tiền trang trải. Tiền học bổng sinh viên Sư phạm  — hai mươi hai đồng và mười sáu ký gạo — đủ sống, nhưng tôi vẫn gói ghém gửi thêm về cho các em. Má tôi khi ấy buôn bán xa, ở nhà chỉ còn mấy đứa nhỏ ngóng tin anh hai.

Con đường dẫn tôi đến trường đại học không chỉ là con đường đất đỏ năm nào, mà là con đường của lòng kiên nhẫn, của thương yêu và trách nhiệm.

Con đường ấy có mồ hôi, có nước mắt, có cả nụ cười của cô gái tôi từng thương — như ánh sáng nhỏ soi vào một thời tuổi trẻ nhiều thiếu thốn mà đầy hy vọng.

(Lê Văn Thông.)

Cuộc sống: CẬU BÉ TUYỆT VỜI - Sưu tầm trên mạng.

 


CẬU BÉ TUYỆT VỜI.

Có một cậu bé mới 13 tuổi, một hôm cha cậu đưa cho cậu một chiếc áo cũ rồi hỏi: 

"Con nghĩ chiếc áo này đáng giá bao nhiêu tiền?"

"Khoảng 1 đô la", cậu bé trả lời.

"Con có thể bán nó với giá 2 đô la không?" Cha cậu bé vừa hỏi vừa đưa mắt nhìn cậu bé.

"Thưa cha, con nghĩ chỉ có kẻ ngốc mới mua chiếc áo này", cậu bé trả lời.

Người cha nhìn con với ánh mắt khích lệ: "Sao con không thử xem? Con biết không? Gia đình mình đang gặp khó khăn, nếu con bán được chiếc áo này, nó có thể giúp được chúng ta rất nhiều".

Sau khi nghe cha mình nói vậy, cậu bé gật đầu đồng ý: "Con sẽ thử xem, nhưng không chắc là có thể bán được".

Cậu bé đem chiếc áo đi giặt rất cẩn thận, vì không có bàn ủi để ủi áo cho thẳng thớm, cậu dùng bản chải để giặt chiếc áo, sau đó phơi khô trên một miếng gỗ phẳng trong bóng râm. Sáng ngày hôm sau, cậu bé đem chiếc áo đến một ga tàu điện đông người qua lại. Sau 6 tiếng đồng hồ không ngừng chào mời, cuối cùng cậu bé cũng bán được chiếc áo với giá 2 đô la. Cậu vội vàng cầm số tiền bán được chạy một mạch về nhà đưa cho cha. 

Sau đó, mỗi ngày cậu đều đi tìm xin quần áo cũ mang về nhà giặt sạch đem đi bán.

Một hôm cha cậu bé lại đưa cho cậu một chiếc áo cũ khác: “Con có thể bán chiếc áo này với 20 đô la không?“

"Cha ơi, làm sao có thể bán được cơ chứ? Một chiếc áo cũ làm gì có giá trị cao như vậy được, cùng lắm là 2 đô la.”

“Sao con không thử nghĩ cách xem, nhất định là có cách”, cha cậu bé khích lệ. 

Cuối cùng cậu bé nghĩ ra một cách, cậu nhờ anh họ của mình, một người rất đam mê hội hoạ và vẽ rất đẹp, vẽ cho cậu một con chim đại bàng và một chú chuột nhắt đáng yêu lên chiếc áo. Sau đó cậu chọn một ngôi trường học, nơi có nhiều thiếu gia con nhà giàu theo học ở đó, cậu đứng ở cổng trường chào mời người mua. Vừa mới chào mời một lúc liền có một người quản gia cùng thiếu gia của mình đến mua chiếc áo. Cậu thiếu gia đó đã vô cùng thích thú khi có được chiếc áo liền bo thêm cho cậu 5 đô la, tổng cộng cậu bán được chiếc áo 25 đô la.

Đây là một số tiền khá lớn đối với gia đình cậu, số tiền này có thể tương ứng với gần một tháng lương của cha cậu khi ấy. Sau khi về nhà, cha cậu lại đưa cho cậu một chiếc áo khác và nói: “Con có thể bán chiếc áo này với giá 200 đô la được không?”, cha cậu nhìn cậu với một ánh mắt đầy tin tưởng. Lúc này, cậu bé không hề do dự, cậu đón nhận chiếc áo bằng cả hai tay mình, bắt đầu suy nghĩ…

Hai tháng sau, cuối cùng thì cơ hội cũng đã đến. Hôm đó, nữ diễn viên chính của bộ phim đang nổi tiếng “Những Thiên Thần của Charlie” đến thành phố cậu bé để quảng bá phần tiếp theo của bộ phim. Sau khi buổi họp với ký giả kết thúc, cậu bé mạnh dạn chen lên phía trước, chạy đến bên cạnh nữ diễn viên Farrah Fawcett – Majors, đưa chiếc áo cũ ra rồi xin cô ký tên lên đó. Farrah Fawcett – Majors thấy vậy ngẩn người ra một lúc nhưng rồi vẫn vui vẻ tươi cười ký lên chiếc áo, không ai có thể nỡ từ chối một cậu bé dễ thương với ánh mắt hồn nhiên trong sáng như vậy. 

Sau khi ký xong, cậu bé hỏi cô: “Cháu có thể bán chiếc áo này được không ạ?”

“Đương nhiên là có thể được rồi, đây là áo của cháu, cháu có thể bán nó nếu cháu muốn"

Cậu bé đứng trên bục hô to một tiếng: “Đây là chiếc áo do đích thân nữ diễn viên xinh đẹp Farrah Fawcett – Majors ký tên, giá nó là 200 đô la”. Sau khi qua cuộc đấu giá, cuối cùng chiếc áo đã bán được với số tiền không tưởng, 1200 đô la.

Về đến nhà, cậu thấy cha mình cùng một người khác đang ở nhà. Cha cậu bé cảm động mà ôm cậu vào lòng, hôn lên trán cậu: “Cha vốn dĩ dự tính, nếu con không bán được, cha sẽ nhờ người mua nó lại, thật không ngờ con lại giỏi đến thế! Con thực sự rất giỏi…”

Buổi tối hôm đó hai cha con cậu bé đã ngồi nói chuyện với nhau rất lâu. Cha cậu hỏi: “Con trai, từ sự việc của 3 chiếc áo này, con có hiểu được ra điều gì không?”

“Con hiểu rồi, cha đã khích lệ con”, cậu bé cảm động nhìn cha rồi nói tiếp: “Chỉ cần chúng ta động não suy nghĩ, không việc gì là không thể làm được, việc khó đến đâu cũng có cách giải quyết của nó”. 

Cha cậu bé gật đầu đồng ý, nhưng rồi lại lắc đầu nói: “Con nói cũng rất đúng nhưng đó không phải là ý định ban đầu của cha”.

“Cha chỉ muốn nói với con rằng, một chiếc áo cũ chỉ đáng giá 1 đô la vẫn có cách để tăng giá trị của mình, còn chúng ta cớ sao phải bi quan với cuộc sống này đúng không con? Chúng ta tuy nghèo một chút, nhưng có sao đâu, chúng ta có nhiều hơn một chiếc áo 1 đô la và con thấy không, một chiếc áo 1 đô la cũng có thể làm nên điều kỳ diệu”.

“Đúng vậy, một chiếc áo cũ còn có thể tự làm cho mình cao quý hơn, vậy chúng ta còn có lý do gì mà không yêu cuộc sống của chính mình hơn cơ chứ!”

20 năm sau danh tiếng của cậu bé đó đã lan toả khắp thế giới, qua từng ngóc ngách các con phố nhỏ, mọi người vẫn thường nhắc tới cậu. Cậu bé đó chính là Michael Jordan, một tỷ phú giàu có, là chủ tịch hội đồng quản trị, cổ đông lớn nhất của tập đoàn Charlotte Hornets.

Cuộc sống vốn không hoàn hảo và chúng ta có thể sống trong một hoàn cảnh khốn khó, bất lợi. Nhưng, hoàn cảnh chỉ là phép thử để mỗi người thể hiện giá trị của mình.

Chúng ta bỏ cuộc hay chiến thắng nghịch cảnh phụ thuộc vào việc chúng ta nhìn điều đó bằng con mắt như thế nào ?Liệu chúng ta có thể tìm ra giá trị của chính mình để sống một cuộc đời của chính bản thân mình ....

SƯU TẦM.

Chuyện xưa : VỤ ÁN CÔ QUỜN ... - Chị Lê.

 

(P/s: Bà Ls. Nguyễn Phước Đại nhũ danh Nguyễn Thị Quỳnh Anh là một Luật sư tên tuổi lớn của toà Thượng thẩm Sài Gòn từ những năm 1950 đến tháng 4/1975. 

Bà còn tham gia hoạt động chính trị với chức vụ sau cùng là Phó Chủ tịch Thượng nghị viện VNCH vào cuối thập niên 1960. 

Bà mất tại Viện Duỡng Lão Thị Nghè Sài Gòn vào tháng 10 năm 2013 thọ 90 tuổi.

Chồng Bà là Giáo sư Bác sĩ Nguyễn Phước Đại nguyên là Giám đốc Bệnh viện Sài Gòn đến ngày 30/4/1975.

Ảnh: Bà Luật sư Nguyễn Phước Đại nhũ danh Nguyễn Thị Quỳnh Anh. Mượn trên Google )

VỤ ÁN CÔ QUỜN ĐỐT CHỒNG 

Năm tôi đang học Đệ Thất, tình cờ trong một buổi tối rảnh rỗi, Má tôi kể tôi nghe chuyện "Cô Quờn Đốt Chồng". Má tôi nói đó là vụ án nổi tiếng Sài Gòn và khắp cả "Lục tỉnh", cả miền Trung Nam kỳ. 

Đó là vào khoảng năm 1950. 

Cô Quờn cùng chồng từ miền Tây lên Sài Gòn lập nghiệp. Nhà Cô lúc đầu ở bên Khánh Hội Q4, Sài Gòn. Buổi ban đầu cuộc sống khó khăn nhưng vợ chồng rất hạnh phúc. Cô Quờn khoảng hơn 30 tuổi, có dáng người mảnh mai, gương mặt hiền lành, cam chịu, đúng tuýp nguời phụ nữ thời đó: "một dạ vì chồng". 

Cô cùng chồng gầy dựng sự nghiệp từ hai bàn tay trắng và cuộc sống khá lên với một xưởng sản xuất cao su. Do lao động vất vả, thể trạng yếu, lại thường xuyên hít phải khí độc từ cao su, Cô Quờn phát bệnh lao. Lúc này người chồng thay lòng đổi dạ, có vợ nhỏ bên ngoài, lạnh nhạt hắt hủi Cô. Cô nhẫn nhịn chịu đựng, khuyên can và cả van xin. Nhưng người chồng vẫn không thay đổi mà còn có ý định đem cô vợ nhỏ về nhà sống chung và buộc Cô phải chấp nhận ông ta 2 vợ.

Tức nước vỡ bờ. Cô Quờn đi đến quyết định giết người chồng phụ bạc để rồi cùng chết  Cô mua xăng đổ vào thau. Khi ông chồng đang ngủ, Cô tạt nguyên thau xăng lên người ông ta và châm lửa. Cô ngồi yên như vậy trong đám cháy. Nhưng định mệnh không cho Cô chết. Cô được cứu sống và Cô phải ra hầu toà với tội danh "Cố ý Giết người", "Giết người có tổ chức". Khung hình phạt có thể tới chung thân, hoặc tử hình.

Người bảo vệ Cô Quờn trước Toà Thượng thẩm Sài Gòn khi đó là Nữ Luật sư Nguyễn Phước Đại. Phiên toà được truyền thanh qua sóng Radio, thu hút sự quan tâm chú ý của hầu hết người Sài Gòn, miền Nam, đặc biệt là cánh Phụ nữ. Ai cũng cảm thương Cô Quờn. 

Nữ Luật sư Nguyễn Phước Đại đã biện hộ cho Cô Quờn không chỉ bằng tài năng tuyệt vời với lập luận sắc bén, dẫn chứng cụ thể, thấu tình về sự phụ bạc, tàn ác của người chồng đối với người vợ yếu đuối bệnh tật. Luật sư Nguyễn Phước Đại còn đặt cả tình cảm của chính mình để bênh vực người phụ nữ tội nghiệp là thân chủ của mình, đang đứng trước vành móng ngựa. 

Trong phần tranh luận, Luật sư biện hộ cho Bị cáo đã khóc. Và những người dự khán phiên toà cũng khóc.

Kết thúc phiên toà, "Cô Quờn Đốt Chồng" bị tuyên phạt 5 năm tù. Sau đó đích thân TT Ngô Đình Diệm đã ân giảm còn chỉ 3 năm. 

Từ câu chuyện Má tôi kể, tôi đã rất nguỡng mộ  và luôn tìm hiểu về Nữ Luật sư Nguyễn Phước Đại, người đã giúp Cô Quờn thoát khỏi án chung thân hoặc tử hình. 

Cũng từ câu chuyện đó, tôi đã tơ tưởng về chiếc áo Luật sư suốt cả thời Trung học. Tôi luôn mơ ước mình trở thành một Luật sư, nên sau khi thi đậu Tú tài, tôi đã không ngần ngại ghi danh vào trường ĐH Luật khoa SG.

Nhưng vận nước đã đẩy tôi trôi về hướng khác.


(P/s: Bà Ls. Nguyễn Phước Đại (nhũ danh Nguyễn Thị Quỳnh Anh) là một Luật sư tên tuổi lớn của toà Thượng thẩm Sài Gòn từ những năm 1950 đến tháng 4/1975. 

Bà còn tham gia hoạt động chính trị với chức vụ sau cùng là Phó Chủ tịch Thượng nghị viện VNCH vào cuối thập niên 1960. 

Bà mất tại Viện Duỡng Lão Thị Nghè Sài Gòn vào tháng 10 năm 2013 thọ 90 tuổi.

Chồng Bà là Giáo sư Bác sĩ Nguyễn Phước Đại nguyên là Giám đốc Bệnh viện Sài Gòn đến ngày 30/4/1975).

Ảnh: Bà Luật sư Nguyễn Phước Đại nhũ danh Nguyễn Thị Quỳnh Anh. Mượn trên Google.

CHỊ LÊ (FB) 

Cuộc sống : LÁ THƯ CỦA... - Lê Văn Thông.

 



Lá Thư Của Người Cha Năm Ấy


Năm 1991, tôi dạy luyện thi đại học ở trung tâm CADASA, số 20 Ngô Thời Nhiệm. Khi đó Sài Gòn còn yên bình, đường xá thưa thớt, những tán me hai bên vẫn đong đưa trong gió, rải xuống lòng đường bao nhiêu chiếc lá úa vàng như vết chân của thời gian. Chiều nào cũng vậy, tôi đi xe đến trung tâm, nghe tiếng ve sầu trên cao hòa cùng tiếng guốc, tiếng cười của đám học trò tuổi mười tám.

Giữa dòng người ấy, có một bóng dáng khiến tôi chẳng thể quên — một người cha gầy gò, quần áo bạc màu, tay ôm túi vải nhỏ, đứng chờ ở góc cổng trung tâm. Bác từ quê lên thăm con trai, đứa con đang ôn thi đại học trong lớp tôi dạy. Bác ít nói, hiền hậu, giọng miền Tây nghe mộc mạc mà chân tình.

Một buổi chiều, trong lúc chờ con, bác ngồi trò chuyện với tôi ở quán cà phê bên cạnh Trung tâm . Bác kể, nhà nghèo, ruộng ít, mấy chị em gái đành nghỉ học để nhường phần cho thằng út.

— “Nó học giỏi, thầy à. Ở nhà má nó cứ nói ráng cho nó học tới nơi tới chốn. Mình nghèo, chỉ mong nó thoát khỏi ruộng đồng...”

Bác nói rồi cười, nụ cười hiền mà buồn đến lạ. Tôi nhìn đôi bàn tay chai sạn của bác, tự nhiên thấy lòng rưng rưng. Hình ảnh ấy, sao giống cha tôi năm xưa đến thế — cái dáng người còng lưng dưới nắng, bàn tay đen sạm, suốt đời chỉ biết lặng lẽ làm lụng cho con được đến trường.

Một hôm, bác nhờ tôi chuyển cho cậu con trai một lá thư. Phong bì nhăn nhúm, góc còn dính chút đất khô. Tôi mở ra xem sơ rồi gấp lại, chỉ kịp thấy những dòng chữ nghiêng ngả:

“Con iu thươn của ba. Chìu hum qua ba kêu người báng cong heo để có tiềng gửi cho con. Con nhớ nhà khôn? Cả nhà nhớ con nhìu lắm, cố học nge. Khi nào mùa màn xon, ba má sẽ ra thăm con.”

Chỉ vỏn vẹn mấy dòng, sai chính tả gần hết, nhưng lòng tôi như có gì nghẹn lại. Tôi đưa thư cho cậu học trò, cậu nhận bằng hai tay, mắt đỏ hoe, khẽ nói “Con cám ơn thầy” rồi cúi đầu thật thấp. Hôm ấy, tôi đứng nhìn mãi cái dáng nhỏ bé của em  giữa sân trường, thấy lòng mình lẫn lộn thương yêu và xót xa.

Nhiều năm sau, khi trung tâm Carasa đã đổi tên, tôi tình cờ gặp lại cậu học trò năm ấy. Cậu đã là một kỹ sư, dáng người chững chạc nhưng nụ cười vẫn hiền như xưa. Cậu mời tôi ly cà phê, giữa quán nhỏ nhìn ra hàng me già năm cũ.

Cậu kể, năm đó đậu đại học, nhưng chưa kịp báo tin thì cha mất vì tai nạn trong ruộng. Lá thư mà cha gửi vẫn còn giữ nguyên, giấy đã ố vàng, góc thư vẫn dính một vệt bùn khô.

— “Thầy biết không, mỗi lần con thấy mệt, con lại đọc lá thư ấy. Dù sai chữ, nhưng nó đúng hết những gì con cần — đúng bằng cả tấm lòng của cha.”

Tôi im lặng. Gió ngoài đường vẫn thổi, lá me bay tơi tả. Cà phê nguội dần, trong lòng tôi dâng lên một nỗi nghèn nghẹn khó tả. Hóa ra, thời gian có thể làm mờ bao điều, nhưng có những tình thương vẫn ở lại, nguyên vẹn như thuở đầu.

Giờ đây, mỗi lần đứng trên bục giảng, nhìn những khuôn mặt trẻ trung tươi sáng, tôi vẫn kể cho học trò nghe câu chuyện về “lá thư sai chính tả” ấy. Tôi kể bằng tất cả niềm yêu thương, như một lời nhắc nhỏ:

Có những chữ viết sai, nhưng lại thắm đến tận trái tim người đọc.

Có những người cha không biết viết lời hay, nhưng suốt đời viết nên những trang thương yêu bằng đôi tay chai sạn của mình.

Và giữa bao điều đúng sai của cuộc đời, tôi vẫn tin — tình cha, tình mẹ chính là bài văn đẹp nhất mà ai trong chúng ta cũng đang chép dở.


( Lê Văn Thông )

Đó đây : NĂNG LƯỢNG XANH - St trên mạng.

 


NĂNG LƯỢNG XANH. 

Na Uy đã lắp đặt những tấm gương khổng lồ trên sườn núi để phản chiếu ánh sáng mặt trời xuống những thị trấn không nhận được ánh nắng trực tiếp trong nhiều tháng vào mùa đông. Giải pháp sáng tạo này đã được thực hiện ở Rjukan, một thị trấn nhỏ nằm sâu trong thung lũng Vestfjord ở miền nam Na Uy.

Do được bao quanh bởi những ngọn núi dốc, Rjukan không nhận được ánh nắng mặt trời trực tiếp từ tháng 9 đến tháng 3. Theo CNET, thị trấn này đã lắp đặt ba tấm gương khổng lồ vào năm 2013, mỗi tấm rộng khoảng 183 feet vuông (mỗi cạnh khoảng 4,2m), trên sườn núi gần đó để phản chiếu ánh sáng mặt trời xuống quảng trường thị trấn.

Những tấm gương này được điều khiển từ xa, sử dụng năng lượng mặt trời và gió, và được lập trình để theo dõi đường đi của mặt trời trên bầu trời. Chúng nằm cách thị trấn khoảng 1.476 feet (450m) và xoay trên hai trục để hướng ánh sáng mặt trời xuống thung lũng. Dự án này được lấy cảm hứng từ ý tưởng được đề xuất lần đầu tiên vào năm 1913 bởi người sáng lập thị trấn, Sam Eyde, nhưng chỉ trở nên khả thi với công nghệ hiện đại.

Theo The Hyper Hive, những tấm gương này đã làm thay đổi cuộc sống ở Rjukan, cho phép cư dân tận hưởng ánh sáng tự nhiên trong những tháng tối tăm nhất. Đây là một ví dụ nổi bật về cách kỹ thuật và sự sáng tạo có thể vượt qua những thách thức về địa lý.

SƯU TẦM. 

Tản mạn : LOVE STORY - ... - Lê Văn Thông.7

 



LOVE STORY – Chút mộng ngày xưa .

Khoảng năm 1970, Sài Gòn vẫn còn hiền như một bài hát cũ. Buổi chiều nào cũng có gió thổi qua hàng me, tiếng rao “Ai bánh mì nóng đây!” vang lên len lỏi giữa dòng xe lam lạch cạch. Tôi ngồi trong chiếc xe lam nhỏ, lòng nôn nao như đứa trẻ sắp được đi hội, tay cầm tấm vé xem Love Story ở rạp Rex trên đường Nguyễn Huệ – rạp chiếu phim sang trọng và đông nhất thành phố thuở ấy.

Trước cổng rạp, mùi bắp rang  thơm nức hòa lẫn với tiếng cười nói rộn ràng. Khi đèn trong rạp tắt dần, cả không gian chìm trong một thứ yên lặng rất đẹp. Trên màn ảnh, Oliver Barrett và Jennifer Cavilleri hiện ra, trẻ trung, trong veo như những giấc mơ đầu đời. Tiếng nhạc Where Do I Begin? vang lên, mềm mại và buồn đến nao lòng. Tôi nhớ rõ, khi Jennifer khẽ nói lời cuối, cả rạp lặng đi. Ai đó khẽ sụt sùi, và tôi cũng thấy mắt mình cay xè.

“Yêu là không bao giờ phải nói lời hối tiếc.”

Câu thoại ấy, tôi đã đem theo suốt cả tuổi trẻ. Khi còn trẻ, tôi nghĩ đó là lời nói cho qua trong cơn xúc động. Sau này, khi đã đi qua đủ vui buồn, mới hiểu: thật lòng yêu ai, thì dù chia tay, cũng chẳng có gì để hối tiếc – chỉ còn lại một khoảng nhớ dịu dàng trong tim.

Giờ đây, rạp Rex của năm ấy đã không còn. Con đường Nguyễn Huệ đã khoác lên mình ánh đèn rực rỡ, dòng người tấp nập đi qua, chẳng ai còn nhớ nơi đó từng là chốn thanh xuân của bao trái tim mộng mơ. Nhưng trong ký ức tôi, vẫn còn nguyên hình ảnh buổi chiều Sài Gòn xưa: mùi cà phê sữa từ quán góc phố, tiếng rao bánh bò bông, tiếng xe lam xình xịch chạy ngang qua, và một cậu trai trẻ đang ngồi trong rạp tối, lặng lẽ rơi nước mắt cho một mối tình trên phim.

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua. Ryan O’Neal và Ali MacGraw – đôi tình nhân của màn bạc – nay đã ngoài bảy mươi. Còn tôi, mỗi lần giai điệu Love Story bất chợt vang lên, lòng lại khẽ se lại. Vẫn thấy mình ngồi nơi hàng ghế cuối rạp, bên cạnh những khuôn mặt tuổi đôi mươi bâng khuâng, giữa ánh đèn vàng nhạt và hơi lạnh của máy lạnh xưa.

Thanh xuân, rốt cuộc cũng như một cuốn phim cũ. Có thể phai màu theo năm tháng, nhưng chỉ cần một bản nhạc, một câu thoại, hay mùi bắp rang thoảng qua... là tất cả lại sống dậy, nguyên vẹn như chưa từng mất đi.

Và tôi mỉm cười – vì có lẽ, ký ức đẹp nhất trong đời, chính là những điều ta đã từng khóc vì nó.

(Lê Văn Thông)

Tản mạn : MIỀN TÂY - Định Đức Đoàn.

 



MIỀN TÂY. 

Miền Tây – nơi tôi cúi đầu thương mến

Tôi là người miền Bắc.

Sinh ra giữa đồng bằng sông Hồng, lớn lên cùng ruộng lúa, sông Đáy, tiếng ếch kêu đêm mưa - Quê Tôi Ninh Bình.

Tôi cứ nghĩ chỉ quê tôi mới hiền, mới thật, mới chịu thương chịu khó… cho đến một ngày, tôi vào Miền Tây.

Miền Tây không ồn ào như người ta kể.

Nó hiền đến mức… khiến người ta tự thấy mình thô.

Con người nơi ấy nói năng nhỏ nhẹ, thương nhau bằng chén cơm, bằng nụ cười, bằng trái dừa hái sau nhà đem tặng.

Có lần tôi ghé chợ nổi Cái Răng, được người ta mời ly cà phê đen, không đường, nhưng uống xong thấy ngọt.

Ngọt từ ánh mắt, từ tiếng “nghẹn” của cô bán hàng:

“Uống đi anh, sáng nay nước lên, ghe trôi xa, mai hổng gặp đâu nghen…”

Bữa đó, trời sông Hậu đổ mưa.

Tôi ngồi nép dưới mái lá, ăn tô bún nước lèo nóng hổi, nghe mùi sả, mùi mắm, mùi quê hương len vào từng hơi thở.

Mới hiểu, quê không chỉ có ở nơi mình sinh ra, mà còn ở nơi người ta thương mình như má thương con.

Miền Tây dạy tôi biết cười, biết chậm lại, biết rằng đôi khi hạnh phúc chỉ là chén canh chua nấu vội, là miếng cá kho tộ chan cơm trắng giữa tiếng mưa rơi.

Dạy tôi hiểu rằng, người miền Nam không cần nói đạo lý — họ sống đạo lý bằng cách sống thật, thương thật.

Giờ, mỗi khi nghe tiếng ai đó cười “dzìa đi, Nhậu Ní ơi .."

tôi lại thấy lòng mình như có dòng sông chảy qua.

Một dòng sông mang theo tiếng hò, mùi lúa mới, vị mắm kho, và tình người Nam Bộ.

Người miền Bắc như tôi, nợ miền Tây một lời cảm ơn — vì ở nơi đó, tôi thấy Việt Nam mình hiền nhất, thật nhất, và đáng yêu nhất.

ĐỊNH ĐỨC ĐOÀN (FB) 

Suy ngẫm : GIÁ TRỊ TRÍ TUỆ - St trên FB.

 



GIÁ TRỊ TRÍ TUỆ. 

Một bác sĩ Do Thái, không thể tìm được việc làm tại các bệnh viện Mỹ, đã quyết định mở phòng khám tư nhân nhỏ của riêng mình.

Bên ngoài, anh ta đã đăng một tấm biển:

 “Hãy chữa trị với giá 20 đô la — và nếu chúng tôi không thể chữa trị cho bạn, chúng tôi sẽ trả lại bạn 100 đô la. ”

Một ngày nào đó, một luật sư Mỹ nghĩ rằng anh ta đã tìm thấy một lỗ hổng hoàn hảo để kiếm một số tiền dễ dàng. Anh ấy bước vào.

Luật sư: “Bác sĩ, tôi đã mất cảm giác về vị giác của mình. ”

 Bác sĩ: “Y tá, mang thuốc từ hộp #22. Cho ba giọt vào miệng anh ta. ”

 Luật sư (nhổ): “Ugh! Đó là dầu lửa! ”

 Bác sĩ: “Chúc mừng, vị giác của bạn đã trở lại. Đó sẽ là $20. ”

Bực mình, luật sư trả tiền... nhưng anh ấy vẫn chưa xong. Vài ngày sau, anh ấy đã trở lại.

Luật sư: “Bác sĩ, tôi đã mất trí nhớ của mình. Tôi không thể nhớ bất cứ điều gì. ”

 Bác sĩ: “Y tá, mang thuốc từ hộp #22. Làm ơn cho ba giọt. ”

Luật sư (hét): “Đó là dầu lửa! Lần trước bạn đã tặng tôi! ”

 Bác sĩ: “Tuyệt vời — trí nhớ của bạn đã trở lại. Đó sẽ là $20. ”

Phẫn nộ, luật sư lại giao tiền, nhưng về lần cuối, quyết thắng.

Luật sư: “Bác sĩ, thị lực của tôi đang suy giảm. Tôi khó mà nhìn thấy. ”

 Bác sĩ: “Tôi xin lỗi, chúng tôi không có thuốc chữa điều đó. Đây, hãy nhận tiền hoàn lại $100 của bạn. ”

 Luật sư (nheo mắt): “Đợi đã... Đây là $20, không phải $100! ”

 Bác sĩ: “Tuyệt vời! Thị lực của bạn đã được phục hồi. Đó sẽ là $20. ”

Cái lý của câu chuyện?

Đôi khi, trí thông minh đánh bại sự xảo quyệt - và trí tuệ là sự bảo vệ tốt nhất.

SƯU TẦM. 

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2025

Suy ngẫm : CON GÌ NGU NHẤT - St trên mạng.

 



CON GÌ NGU NHẤT?!

Hội gia súc, gia cầm tổ chức cuộc thi với chủ đề “Con gì ngu nhất (?!)”. 

Bò đực hồ hởi nói với vợ:

- Phen này tôi chắc chắn sẽ đoạt giải!

Bò cái ngạc nhiên:

- Ông tự tin vậy sao?!

Bò đực:

- Chuyện! Bà không nghe người ta hay nói “ngu như Bò“ sao?

Chiều thi về, Bò đực mặt dài ra như cái ống bơm xe đạp, buồn như mất "sổ cỏ", càu nhàu: 

- Không ngờ con Vẹt lại giành giải!

Bò cái trố mắt:  

- Con Vẹt ư?. À! ừ..., nhưng mà nó cũng nói năng rõ ràng như vậy kia mà! 

Bò đực thở dài:

- Tôi có thắc mắc nhưng Hội đồng Lợn thuộc ban giám khảo phân tích, rồi cho rằng:

- Bò dù sao cũng có suy nghĩ riêng, dù nó có nói hơi ngớ ngẩn thì cũng là tự nó nghĩ ra. Còn con Vẹt chỉ biết lặp lại lời người ta dạy, chẳng phân biệt đúng sai, cứ thế nhại lại như cái máy phát tiếng.

Bò cái lắc đầu:

- Vậy ra, không phải ai nói nhiều, nói hay cũng là có não...(?!)h

Thấy Bò đực vẫn buồn, Bò cái liền an ủi, động viên chồng: 

- Thôi bố nó đừng buồn nữa, không phải quyết định nào của ban giám khảo Lợn cũng chuẩn mực và công bằng đâu vì những con Lợn khôn nhất có lòng "xe điếu" thì bị săn lùng hết rồi còn đâu! Và theo như kinh nghiệm sống của tôi thì con Người mới là ngu nhất, dù họ cứ ảo tưởng mình là động vật bậc cao đứng đầu chuỗi thức ăn nhưng thực ra khi họ cứ chê bai phỉ báng chụp mũ rằng, "ngu như Bò" rồi lại ép con cháu họ uống sữa Bò để giúp thông minh hơn còn gì?!

Con cháu họ tranh sữa với con của chúng mình mà không biết nhục! Thế thì vợ chồng mình chẳng khôn hơn họ còn gì? Ai uống sữa của tôi chỉ đáng làm con của tôi thôi (chưa nói đến chuyện con của chúng mình chắc chắn được uống sữa của tôi là hàng “siêu xịn xò con Bò". Còn con Người uống nhầm sang sữa giả “fake“ chẳng biết đâu mà lần...(?!). 

Đấy là chưa kể con Vẹt tuy nói lặp lại những điều không biết đúng sai nhưng vẫn còn khôn hơn nhiều so với con người dẫu biết là sai mà vẫn bao biện giả dối phun ra những lời lẽ thật là ngu xuẩn, khôi hài, đê tiện ….

Bò đực rống lên cười:

- Đúng là vợ yêu của ta!  

Chuẩn ra phải là: NGU NHƯ NGƯỜI…!

St.

Cuộc sống : QUÊN CÁCH QUAY VỀ ! - St trên FB.

 



QUÊN CÁCH QUAY VỀ! 

Tuổi trẻ quên cách quay về, tuổi già sẽ bị đẩy ra bên lề

Cứ khoảng năm giờ sáng, khi con hẻm còn lờ mờ sương và những cánh cửa còn khép kín sau một đêm dài, người ta lại nghe thấy tiếng “lóc cóc… lóc cóc…” quen thuộc. Đó là âm thanh của chiếc khung tập đi, theo nhịp bước chậm chạp của tuổi già, một bà cụ gần 90 tuổi. Không ai nhớ rõ bà xuất hiện ở con hẻm này từ bao giờ, chỉ biết rằng sáng nào bà cũng đi qua, dáng lưng cong, bước chân yếu, ánh mắt mỏi mệt nhưng vẫn cố hướng về phía trước, như thể không được phép dừng lại.

Bà không đi đâu xa. Bà đi xin.

Ngoài việc ngửa tay trước những cửa tiệm vừa mở, bà còn lượm ve chai, nhặt từng vỏ lon, từng mảnh giấy vụn để đổi lấy vài nghìn đồng. Khi được hỏi vì sao phải ăn xin ở tuổi đã gần đất xa trời, bà chỉ nói một câu rất ngắn, nhưng đủ khiến người nghe phải suy ngẫm:

“Con cái… không nhờ được.”

Bà có ba người con, không phải vô thừa nhận, không phải không biết mẹ còn sống, nhưng bà vẫn phải đi xin từng bữa, lượm từng mảnh ve chai như một người không nơi nương tựa. Sự thật ấy, trần trụi và lạnh lẽo hơn bất kỳ lời kết án nào.

Người xưa dạy: “Bách thiện hiếu vi tiên”, trăm điều thiện, hiếu đứng đầu. Một xã hội dù nghèo vật chất đến đâu, nhưng nếu người già được con cháu chăm sóc chu đáo, thì xã hội ấy vẫn giữ được gốc rễ đạo đức vững chắc.

Hiếu thảo không nằm ở mâm cao cỗ đầy hay những món quà đắt tiền vào dịp lễ tết. Nó nằm ở sự quan tâm hàng ngày, ở việc không để cha mẹ phải cô đơn giữa dòng đời hối hả. Hiếu thảo không chỉ là chu cấp vật chất thiết yếu, mà còn là lắng nghe, thấu hiểu, dành thời gian bên cha mẹ. Là bao dung những lỗi lầm nhỏ nhặt của họ khi tuổi tác khiến trí nhớ suy giảm.

Thế nhưng hôm nay, hình ảnh bà cụ 90 tuổi đẩy khung tập đi đi ăn xin giữa lòng phố thị cho thấy một thực tế đáng lo ngại: tuổi già đang trở thành gánh nặng bị đẩy ra bên lề.

Có thể các con bà cũng nghèo khó, cũng đang vật lộn với mưu sinh trong thời buổi kinh tế khó khăn. Nhưng nghèo không đồng nghĩa với bỏ rơi. Không nuôi dưỡng đầy đủ có thể thông cảm, nhưng để mẹ phải ngửa tay xin ăn từng bữa, lượm ve chai từng đồng thì đó là sự đổ vỡ của luân thường đạo lý. Đó không còn là vấn đề kinh tế nữa, mà là sự suy thoái về nhân cách, về trách nhiệm làm con.

Một câu nói cảnh tỉnh: “Nuôi con mới biết lòng cha mẹ”, nhưng đáng buồn thay, không phải ai làm cha mẹ rồi cũng nhớ mình từng được nuôi dưỡng bằng những hy sinh thầm lặng ấy. Có những đứa con lớn lên, học cách bước ra đời, học cách tồn tại giữa xã hội cạnh tranh khốc liệt nhưng lại quên mất cách quay về, quên mất nghĩa vụ báo hiếu.

Trong xã hội hiện đại, bên cạnh những tấm gương hiếu thảo đẹp đẽ, những người con dành thời gian bên cha mẹ già, chăm sóc tận tụy dù bận rộn công việc vẫn tồn tại không ít trường hợp đau lòng tương tự.

Có những cụ già 80-90 tuổi vẫn phải bán vé số, chiên bánh mì dạo hay lượm ve chai để tự nuôi sống bản thân, dù con cái đã trưởng thành và có cuộc sống riêng. Áp lực đô thị hóa, di cư lao động, gánh nặng kinh tế khiến nhiều gia đình tan rã về tình cảm. Cha mẹ già ở quê cô quạnh, con cái thành phố bận rộn, chỉ gửi tiền về mà quên rằng người cao tuổi cần nhất là sự đồng hành, là tiếng cười con cháu quây quần.

Câu chuyện về bà cụ đẩy xe tập đi không nhằm lên án cá nhân cụ thể nào, mà chỉ để nhắc nhở tất cả chúng ta về giá trị truyền thống đang mai một. Rồi ai cũng sẽ già đi. Rồi những đôi tay từng mạnh mẽ cũng sẽ run rẩy, những bước chân vững chãi cũng sẽ cần chống gậy. Đến lúc ấy, chúng ta sẽ dựa vào ai để đứng vững? Vào tiền bạc ư? Hay vào sự quan tâm của con cháu?

Bà cụ vẫn sẽ tiếp tục đi qua con hẻm ấy mỗi sáng, tiếng khung tập đi vẫn “lóc cóc” vang lên giữa đời sống vội vã. Nhưng câu hỏi để lại thì không nên trôi qua nhẹ như vậy: Chúng ta đang giàu lên, hay đang nghèo dần về nhân cách?

Vandieuhay.net

Thứ Năm, 25 tháng 12, 2025

Noel: GIÁNG SINH... - St trên FB.

 



Giáng Sinh Ở Một Làng Nhỏ Miền Đồng Tháp Mười.

- Duyên Anh


Năm 1958, áo cơm đưa đẩy tôi về miền Tây. Đói, đầu gối phải bò. Và tôi đã bắt đầu gối tôi phải bò mãi về làng Mỹ Lương, thánh địa Hòa Hảo, nơi ra đời của vĩ nhân Huỳnh Phú Sổ, dạy ở ngôi trường trung học bán công mà học trò, hầu hết đều bằng tuổi tôi.

Mỹ Lương buồn lắm. Vào những ngày mười tư, mười rằm và ba mươi, mồng một chợ búa chỉ bán rau cỏ, tương chao, tầu vị yểu. Quán nước trần xì cà phê đen. Điểm tâm bằng dầu cháo quẩy. Không thịt cá những ngày đó. Là kẻ tội lỗi từ thuở lọt lòng, dẫu ăn chay trường cũng khó sạch tội, nên khi thánh địa ăn chay, đọc kinh, nghe lời giảng của Đức Thầy, tôi bèn làm những chuyến… sang sông.

Con sông nhỏ có thể đưa ghe, tầu sang tận Cao Miên nhưng chỉ đưa tôi qua Tân Huề bằng chiếc đò máy. Cách một dòng sông bên này là thánh địa Hòa Hảo, bên kia là… lung tung beng. Một xóm đạo nhỏ với ngôi nhà thờ bé và vị linh mục kéo vĩ cầm. Lại chỉ khoái chơi nhạc kháng chiến! Tôi có nhiều học trò bên Tân Huề. Và tôi thường mò sang ăn mặn vào dịp Mỹ Lương ăn chaỵ

Tôi quen với linh mục khoái nói chuyện bưng biền hơn là nói chuyện Chúa, ở Tân Huề. Nhà thờ thiếu cái đàn “Harmonium”, thiếu ban hát lễ, thiếu nhô con áo đỏ giúp lễ ố những chuyên viên quỳ ố thiếu luôn bánh thánh và… nước phép. Cha sở – tạm gọi thế – kéo vĩ cầm buồn cười vỡ bụng. Ngài lười “vibrer”. Ngài cứ đưa cái “archet” lên xuống cả những nốt ngân. Nhưng con chiên của ngài xứng đáng được Chúa thương xót nhất nếu Chúa biết ngót mười lăm năm trời, họ đã sống trong nỗi hãi hùng, lép vế, buồi tủi. Mà vẫn phụng thờ Chúa, vẫn tin ngày nhắm mắt được gặp Chúa ở trên trời, vẫn làm sáng danh Chúa.

Giáng Sinh những năm trước, tôi không biết ở đây, ở cái xóm đạo nhỏ bé của làng Tân Huề thuộc miền Đồng Tháp, cái đám giáo dân tổ chức đón mừng Chúa Hài Đồng ra đời ra sao, nhưng năm nay, hang đá tại nhà cô út lớn gấp ba hang đá của nhà thờ. Tôi thấy một điều lạ. Chúa ở thật xa, Cha ở thật gần, đám con chiên hèn mọn của Chúa chỉ theo Chúa. Có lẽ, cha sở mải lo chuyện bưng biền, quên phụng vụ Chúa, quên an ủi đám con chiên lạc lõng, bị kìm kẹp giữa miền hắt hủi như những tội đồ.

Cô út là chị thằng Lễ, học trò lớp đệ thất. Cô mở tiệm may bên Tân Châu. Mọi năm, cô không về Tân Huề mừng Chúa giáng sinh đâu. Ở Tân Châu vui hơn. Nhà thờ lớn hơn. Tiếng chuông ánh ỏi hơn. Lời ca vút cao hơn. Giáng sinh năm nay, cô út mừng Chúa ra đời ở quê nhà. Chắc tại thằng Lễ nói có tôi dự tiệc nửa đêm ở nhà nó. Tôi không phải là công giáo. Gần Giáng Sinh, tôi dạy tới bài Christmas trong cuốn Anglais Vivant của Fialip Carpentier. Bài này và hai bài kế tiếp đều nói về Giáng Sinh, thời tiết trong ngày Giáng Sinh với ông Santa Claus. Thằng Lễ tưởng tôi khoái “đạo” của nó lắm nên năn nỉ mời tôi sang Tân Huề. Tôi nhận lời ngay.

Buổi chiều hôm 24, nhà thằng Lễ rộn rã mà nếu Chúa biết. Ngài sẽ cảm động vô cùng. Cái cổng chào đã dựng xong ở ngõ từ sáng. Trên nền lá dừa chẻ nhỏ, cắt ngắn là hàng chữ cắt ráp tỉ mỉ của Lễ “Mừng Chúa Giáng Sinh”. Chiếc đèn ông sao treo ở giữa. Rất đông bà con thân thuộc của gia đình Lễ tới tô điểm hang đá và trang hoàng nhà cửa. Cuối sân, cô út đang sửa soạn bếp quay một cặp ngỗng. Mọi người hầu như quên nhà thờ, quên cha sở, quên cả nỗi cay đắng trải dài nhiều năm tháng. Họ ăn mặc chỉnh tề. Niềm hân hoan hiện rõ. Càng thắm đậm oan khiên, tủi cực họ càng tin rằng Chúa không bỏ họ như cha sở. Chúa sẽ đến với họ. Chúa đã quên họ từ bao nhiêu năm naỵ Chúa phải đến đêm naỵ Chỉ cần Chúa đến giây lát. Chỉ cần Chúa hiểu họ không bao giờ quên Chúa và lời dạy của Chúa.

Đêm xuống dần. Gió sông lùa lên tăng thêm cái lạnh dễ yêu. Tôi bảo Lễ chở xe gắn máy đưa tôi đến nhà thờ. Nhà thờ ở gần bến đò. Vắng như bến đò. Có một giáo đường nào im bóng hơn giáo đường này, vào đêm Chúa giáng sinh? Hai chúng tôi trở về. Những chiếc đèn ông sao thắp sáng một vùng quê hương u tối. Mọi người quỳ trước hang đá cầu nguyện và suy tôn Chúa cao cả. Mùi hoa Huệ thơm nhẹ. Hoa Huệ chỉ thơm khi gần khói hương hay gần ánh đèn cầy. Mùi thịt ngỗng quay thơm lừng. Nhưng tôi còn ngửi được một mùi thơm thần thánh toát ra từ những tâm hồn ngoan đạo của đám con chiên côi cút đang kính cẩn nguyện cầu trước Chúa của họ. Tôi tự hỏi ngoài nhà thằng Lễ, còn nơi nào đón mừng Chúa giáng sinh bằng nghi thức ở nhà thằng Lễ. Nghi thức! Không, không nghi thức đâu. Đó là sự tôn kính tuyệt đối. Đó là ý muốn của Chúa. Chúa cũng giản dị. Chúa ghét nghi thức. Chúa giáng sinh không phải vì nghi thức, cho nghi thức. Mà vì nỗi cùng khổ của loài người, cho loài người biết thương yêu nhau.

Gần nửa đêm, tiếng cầu nguyện lớn thêm, lan tỏa. Và khi tiếng chuông buồn tẻ từ giáo đường vọng tới, mọi người mừng vui cuống quýt. Chúa đã ra đời. Chúa đã ra đời cách đây 1958 năm, ra đời ở một nơi thấp hèn hơn nhà thằng Lễ. Người ta bỗng thấy thiếu một cái gì. Ba thằng Lễ giục tôi:

– Thầy Long, thầy có biết hát thánh ca không?

Phải thú thật là tôi xúc động ghê gớm. Tôi gật đầu. Và tôi run giọng hát

– Silent night, Holly night, all is calm, all is bright…

Tôi hát tới đó, dừng lại ngay và nói:

– Qúy vị cần hát một bài mừng Chúa giáng sinh với tôi.

Và tôi dạy họ hát bài “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời… ”

Như thể được hưởng ân điển của Chúa, họ thuộc rất nhanh. Lát sau, tiếng hát vút lên:

Chúa sinh ra đời

Nằm trong hang đá nơi máng lừa

Trong hang Bê Lem

ánh sáng tỏa lan tưng bừng

Nghe trên không trung

Tiếng hát thiên thần vang lừng

…….

Ôi Chúa thiên tòa giáng sinh thấp hèn.

Tiếng hát lắng lại. Mọi người ngước nhìn bầu trời. Cả tôi nữa. Tôi thấy một vì sao lung linh. Và tôi còn mơ hồ thấy một vì sao rơi từ từ xuống thẳng nhà thằng Lễ. Chúa đấy. Ngài đã đoái hoài đám con chiên có cái hiện tại hẩm hiu như dĩ vãng của Ngài, ở Tân Huề năm ấy.

Mười ba năm đằng đằng, tôi không có dịp trở về thăm làng Tân Huề. Chiến tranh đã qua đấy chưa? Giáo đường đã sụp đổ chưa? Cha sở đã bỏ con chiên chưa? Đám con chiên ngoan đạo bây giờ ra sao? Dù chiến tranh đã qua Tân Huề, dù cha sở bận hạc nội mây ngàn, tôi vẫn tin Giáng Sinh năm nay nhà thằng Lễ còn hang đá, còn đèn ông sao, còn lời nguyện cầu, còn hát thánh ca. Có thể thằng Lễ đã chết trận. Không sao cả, miễn là, từ cái sân đất khô cằn của nhà nó, người ta còn dựng nổi cái hang đá. Cho niềm tin.

(Từ Fb: NV Tuyen)

Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2025

Thơ : LỜI MẸ DẶN - Phùng Quán

  



LỜI MẸ DẶN 

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi

Mẹ tôi thương con không lấy chồng

Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải

Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.

Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ

Ngày ấy tôi mới lên năm

Có lần tôi nói dối mẹ

Hôm sau tưởng phải ăn đòn.

Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn

Ôm tôi hôn lên mái tóc

- Con ơi

trước khi nhắm mắt

Cha con dặn con suốt đời

Phải làm một người chân thật.

- Mẹ ơi, chân thật là gì?

Mẹ tôi hôn lên đôi mắt

Con ơi một người chân thật

Thấy vui muốn cười cứ cười

Thấy buồn muốn khóc là khóc.

Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét.

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu.

Từ đấy người lớn hỏi tôi:

- Bé ơi, Bé yêu ai nhất?

Nhớ lời mẹ tôi trả lời:

- Bé yêu những người chân thật.

Người lớn nhìn tôi không tin

Cho tôi là con vẹt nhỏ

Nhưng không! những lời dặn đó

In vào trí óc của tôi

Như trang giấy trắng tuyệt vời.

In lên vết son đỏ chói.

Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi

Đứa bé mồ côi thành nhà văn

Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm

Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ.

Người làm xiếc đi dây rất khó

Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn

Đi trọn đời trên con đường chân thật.

Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu.

Tôi muốn làm nhà văn chân thật

chân thật trọn đời

Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi

Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

Bút giấy tôi ai cướp giật đi

Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

(Nhà thơ Phùng Quán (1932-1995)

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2025

Suy ngẫm : CÓ HỌC VẪN HƠN - Tan Dinh st.

 



CÓ HỌC VẪN HƠN

+Trong vụ cướp ngân hàng một tên cướp hét lên: "Tất cả nằm xuống, nên nhớ Tiền thuộc về nhà nước, còn mạng sống thuộc về các người". Mọi người trong ngân hàng nghe xong liền im lặng nằm cả xuống sàn nhà..!!!

Điều này gọi là "Cách thức khai tâm - thay đổi những suy nghĩ trước nay vẫn theo lối mòn"....

Có cô nhân viên nằm trên bàn trong tư thế khêu gợi, một tên cướp hét lên: "Làm ơn cư xử văn minh, chúng tôi là cướp chứ không phải những kẻ hám gái!".

Điều này gọi là "Hành xử chuyên nghiệp - chỉ tập trung vào công việc chuyên môn mà bạn được huấn luyện và được giao !".

 Khi tên cướp quay lại, một tên cướp trẻ hơn (có bằng MBA) nói với tên cướp già hơn (kẻ mới tốt nghiệp phổ thông): " Đại ca, có phải đếm xem chúng ta cướp được bao nhiêu tiền không ?". Tên cướp già gằn giọng : "Mày ngu lắm, bao nhiêu tiền, đếm thế nào được ? Đợi đi, tối nay TV sẽ nói chúng ta cướp được bao nhiêu !".

Điều này được gọi là: "Kinh nghiệm - ngày nay thì kinh nghiệm quan trọng hơn bằng cấp sách vở" ..

+ Sau khi băng cướp rời khỏi, giám đốc chi nhánh định gọi báo cảnh sát. Kế toán trưởng vội vã chạy đến, thì thầm vào tai ngài. "Đợi đã, hay để số tiền chúng ta biển thủ vào trong số bị băng cướp lấy mất !".

Điều này được gọi là: "Bơi theo dòng nước - chuyển đổi những tình huống bất lợi thành thuận lợi"

+ Người giám đốc tự nhủ: " Vậy thật tuyệt nếu cứ mỗi tháng lại có một vụ cướp !".

 Điều này được gọi là :" Hãy loại bỏ những điều khó chịu - Hạnh phúc là điều quan trọng nhất "

+ Ngày hôm sau TV đưa tin 100tỷ đã bị cướp ở nhà băng. Những tên cướp đếm đi đếm lại thì chỉ có 20tỷ 

>>Chúng rất giận dữ. "Chúng ta đã mạo hiểm mạng sống của mình chỉ để lấy 20tỷ, bọn Nó chỉ ngồi chơi mà cướp được 80tỷ.

Đúng là học hành, có bằng cấp thì chúng nó được ngồi cái ghế ấy, cướp tiền siêu đẳng hơn chúng ta!".

Điều này giải thích tại sao: Kiến thức giá trị như ...Vàng !

Tan Dinh Sưu Tầm 


Tố Ngọc Trần chia sẻ

Cuộc sống : THƯỢNG ĐẾ KHÔNG CHO... St trên mạng.

 



THƯỢNG ĐẾ KHÔNG CHO AI TẤT CẢ

Ở Mỹ có một cậu bé sinh ra trong một gia đình nghèo, từ nhỏ đến khi đi học cậu chỉ mang mỗi một đôi giày rách. Cậu bé nghe nói vào lễ Giáng Sinh, khi đến bất cứ cửa hàng nào, chỉ cần nói với Thượng Đế thứ mình muốn thì chủ cửa hàng sẽ thỏa mãn yêu cầu của mình.

Vào hôm Giáng Sinh

Cậu bé nhìn thấy trong một cửa hàng giày có bày bán những đôi giày rất đẹp nên đã bước vào cửa hàng và nói với ông chủ rằng: “Hôm nay là Giáng Sinh, cháu rất thích đôi giày này, chú có thể giúp cháu nói với Thượng Đế để Ngài cho cháu đôi giày này có được không ạ?”

Ông chủ nhìn xuống chân của cậu bé và hiểu ngay vấn đề, ông ấy cầm lấy đôi giày rồi nói:

-  “Được thôi cháu bé, bây giờ ta sẽ nói với Thượng Đế”. 

Sau đó ông ấy cầm đôi giày và đi vào bên trong.

Một lúc sau, ông chủ đi ra, nhưng trên tay chỉ cầm có mỗi một chiếc giày rồi đưa cho cậu bé và nói: “Cháu bé, Thượng Đế nói rằng Ngài chỉ cho cháu một chiếc giày thôi, cháu phải tự nghĩ cách kiếm tiền để mua chiếc còn lại.”

- Cậu bé hỏi:  “Vậy cháu phải kiếm bao nhiêu tiền thì mới mua được chiếc giày còn lại?”

- Ông chủ nói:  “2 đô la.”

- Cậu bé lại nói:  “Được rồi ạ, cháu sẽ nghĩ cách kiếm tiền, nhưng chú nhất định phải giữ cho cháu chiếc giày còn lại nhé.”

- Ông chủ cười nói: “Cháu cứ yên tâm.”

- Sau khi về nhà và tiết kiệm được 2 đô la bằng cách nhặt ve chai, cậu bé vui vẻ chạy đến cửa hàng để trả tiền.

- Ông chủ đã khen ngợi cậu bé và đưa cho cậu chiếc giày còn lại. Kể từ đó, cậu bé đã có một đôi giày mới rất đẹp.

Khi lớn lên, cậu bé đã từng làm nhiều nghề như : nhân viên cứu hộ, bình luận viên, phát thanh viên rồi bước vào giới nghệ thuật và trở thành một ngôi sao nổi tiếng. 

Vào năm 1980, cậu bé ấy đã trở thành Tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ, cũng chính là Tổng thống Ronald Reagan.

Trong nhiệm kỳ tổng thống của mình, có một lần ông Ronald Reagan được phóng viên hỏi về việc có ảnh hưởng lớn nhất đối với sự trưởng thành của ông là gì, ông đã kể về câu chuyện “Thượng Đế chỉ cho 1 chiếc giày” khi ông còn nhỏ.

Ông Reagan cho biết: “Sau này tôi mới biết được giá gốc của đôi giày đó là 38 đô la, một nửa giá cũng đến 19 đô la nhưng ông chủ cửa hàng chỉ lấy của tôi 2 đô la để dạy cho tôi một điều rằng:

"Thượng Đế sẽ không cho bạn tất cả những gì bạn muốn, Ngài chỉ cho bạn một phần mà thôi, bạn phải tự mình nỗ lực để lấy phần còn lại.”

Nguồn và ảnh fb: Hoa Hạ 

ST.

Tản mạn : MỘT CHIỀU SÀI GÒN - LTV sưu tầm.

 


MỘT CHIỀU SÀI GÒN. 

Chiều Sài Gòn vẫn như bao chiều khác — gió lững thững qua hiên, nắng lửng lơ trên vai người. Tôi ngồi trong quán cà phê nhỏ, nghe ông anh kể chuyện đời, chuyện người, rồi anh bất chợt chìa ra bức ảnh một chiếc đồng hồ cổ.

“ Em coi nè, trên mặt đồng hồ này có khắc tên Saigon.”

Chỉ một câu nói thôi, mà lòng tôi khẽ chao như vừa nghe lại tiếng chuông nhà thờ xa xăm trong ký ức. Giữa bao cái tên lộng lẫy của thế giới — Paris, Tokyo, Geneva, New York — cái tên Saigon đứng đó, nhỏ bé mà kiêu hãnh, dịu dàng mà bền bỉ. Một cái tên không chỉ để gọi, mà để nhớ.

Người ta nói chiếc đồng hồ ấy được chế tác từ những năm 1950, khi thế giới vẫn còn chậm rãi và người thợ còn thổi cả linh hồn mình vào từng chi tiết nhỏ. Trên mặt đồng hồ, mỗi thành phố là một múi giờ, một nhịp đập, một hơi thở. Và Saigon — giữa vòng quay của thời gian — vẫn lặng lẽ, như thể chưa bao giờ rời khỏi trái tim của ai đó.

Tôi bỗng nhớ những buổi sớm có sương mỏng trên mái tôn cũ, nhớ mùi cà phê phảng phất trong ngõ nhỏ, nhớ tiếng rao đêm lạc giữa dòng xe muộn. Saigon của tôi – nơi ai đi xa rồi cũng muốn tìm về, dù chỉ để ngồi một góc, nghe lại hơi thở ấm của thành phố từng ôm cả tuổi trẻ trong vòng tay.

Có những điều không cần phải nói lớn, không cần phô trương. Như Saigon – chỉ cần một dòng chữ khắc trên mặt đồng hồ thôi, cũng đủ làm lòng người mềm lại. Thời gian có thể cuốn đi bao kỷ niệm, nhưng cái tên ấy – hai chữ Sài Gòn – vẫn ở lại, như vết son trên lòng một kẻ đã đi qua thương nhớ.

Tôi khẽ mỉm cười, nhìn bức ảnh lần nữa. Thời gian vẫn quay, người vẫn lớn, thành phố vẫn đổi thay. Nhưng giữa muôn vàn biến động, có những điều vẫn không thay – đó là niềm thương, là tự hào, là chút lặng lẽ run rẩy trong tim mỗi khi ai đó nhắc đến hai chữ thân quen:

Sài Gòn.


( LVT sưu tầm và biên tập lại)

Cuộc sống : GIỮ LẠI PHẨM GIÁ... - Sưu tầm trên FB.

 



GIỮ LẠI PHẨM GIÁ CHO NGƯỜI KHÁC BẰNG CÁCH NÀO?


Tôi nói dối ông chủ tôi mỗi ngày.

Tôi năm nay 72 tuổi. Tôi là một chức sắc trong nhà thờ, đóng thuế đàng hoàng, chưa bao giờ bị phạt nguội lần nào. Nhưng suốt chín năm nay, tôi đang thực hiện một kiểu "lừa đảo" ngay dưới mũi của ban quản lý tiệm đồ cũ "Cơ Hội Thứ Hai" này.

Nếu họ biết được, họ sẽ đuổi việc tôi ngay lập tức, chẳng kịp cho tôi cởi cái tạp dề ra. Nhưng tôi kệ. Bởi vì trong một xã hội cứ thích tước đoạt đi lòng tự trọng của người khác, tôi đã tìm ra cách để trả lại nó cho họ.

Công việc của tôi đơn giản lắm: Phân loại đồ quyên góp. Tôi dán nhãn giá cho quần jeans, mấy cái áo khoác mùa đông nặng trịch, mấy đôi giày bảo hộ còn dùng tốt. 

Hầu hết khách hàng chẳng thèm nhìn tôi. Đối với họ, tôi chỉ là một phần của cảnh vật: Một ông già lụ khụ, mắt đeo kính, tay bị đau khớp, cứ cắm cúi định giá mấy món đồ có mùi băng phiến và mùi ký ức của người lạ.

Nhưng cái việc vô hình này lại có cái lợi của nó. Nó cho phép tôi nhìn thấy hết mọi thứ.

Tôi thấy mấy bà mẹ đơn thân cứ so đi so lại giá đôi giày đi học của con với tiền mua thức ăn. Tôi thấy mấy chú cựu chiến binh cứ nhìn chằm chằm vào bộ vest họ cần để đi phỏng vấn, nhìn vào cái ví tiền rồi lặng lẽ quay lưng đi.

Và tôi nhớ nhất là thằng bé đó.

Lúc đó là giữa tháng Mười Một, ở cái thị trấn rỉ sét, lạnh lẽo của chúng tôi. Gió lùa qua phố sắc như dao cắt. Thằng bé bước vào với cái áo nỉ mỏng dính, đến nỗi nhìn rõ cái áo thun bên trong. Nó chắc chưa tới mười bốn tuổi. Gầy gò, run cầm cập, với cái nhìn vô hồn mà những đứa trẻ hay mang khi chúng bị xã hội bỏ rơi quá nhiều lần.

Nó đi thẳng đến khu áo khoác. Nó tìm thấy một chiếc áo parka xanh hải quân, rất ấm, hàng hiệu, gần như mới. Giá là 25 đô la. Nghe thì bèo, nhưng đối với nó là cả một gia tài.

Tôi lén nhìn. Nó chạm vào ống tay áo, như muốn cảm nhận hơi ấm mà chiếc áo hứa hẹn. Nó nhìn cái nhãn giá. Vai nó xụ xuống khoảng chục phân. Nó không rên rỉ, không than thở. Nó chỉ cẩn thận treo chiếc áo lên lại và đi thẳng ra cửa.

Tim tôi đập thình thịch. Tôi không thể đơn giản là cho không nó. Tôi học được rằng, việc bố thí có thể mang lại vị đắng cho những người đang cố gắng sống sót. Nếu bạn đưa tiền bố thí, họ cảm thấy mình nhỏ bé. Họ cảm thấy mình như một trường hợp cần giúp đỡ xã hội.

Thế là tôi cầm chiếc áo, đi ra quầy tính tiền để chặn nó lại.

- "Ê, nhóc," tôi gọi.

Nó đứng khựng lại, sẵn sàng chạy trốn. 

- "Con không có ăn cắp gì hết!"

- "Tao biết," tôi càu nhàu, đóng vai ông già khó tính. - "Nhưng tao đang có rắc rối. Cái áo này hả? Nó bị lỗi. Cái khóa kéo dưới cùng nó bị kẹt. Mà theo quy định của cửa hàng, đồ bị lỗi thì không thể bán quá ba đô la. Mày có ba đô la không?"

Nó nhìn tôi, bối rối. 

- "Nhãn ghi hai mươi lăm mà."

- "Nhãn ghi sai đấy," tôi nói dối, giật phắt cái nhãn đi. 

- "Tao là người quản lý kho. Tao nói nó ba đô la. Mày lấy không hay để tao quăng nó đi?"

Nó do dự, dò xét gương mặt tôi xem có bẫy gì không. Rồi nó lục túi, lôi ra ba tờ tiền nhăn nhúm.

- "Dạ, có," nó thì thầm. "Con lấy."

Nó mặc chiếc áo vào ngay lập tức. Kéo khóa lên tận cổ — khóa vẫn hoạt động trơn tru, dĩ nhiên rồi — và nó thẳng lưng lên. Nó không còn trông như một thằng bé co ro vì lạnh nữa. Nó trông như một thanh niên vừa mới làm một phi vụ hời. Nó trông có vẻ được che chở.

- "Cảm ơn ông," nó nói.

- "Quy định cửa hàng thôi," tôi lầm bầm, quay lưng đi để nó không thấy mắt tôi hơi ướt.

Mọi chuyện bắt đầu từ đó.

Nhiều năm qua, cái "quy định cửa hàng" đó đã trở thành vũ khí bí mật của tôi.

Khi bà Miller, một góa phụ sống bằng đồng lương hưu ít ỏi, cần một cái máy nướng bánh mì mới nhưng chỉ có 5 đô la trong túi, thì cái máy 20 đô la bỗng nhiên bị dán nhãn là "Dây điện bị hở".

Khi một ông bố trẻ cần đôi giày bảo hộ để bắt đầu công việc xây dựng đầu tiên, tôi tự động "Giảm giá đặc biệt sáng thứ Ba".

Tôi tự nhớ trong đầu. Tôi tự bỏ tiền túi bù vào nếu tiền mặt bị hụt, hoặc tôi khai báo những món đồ đó là "Không bán được/đã tiêu hủy" trong hệ thống. Tôi sợ bị bắt lắm chứ.

Thế rồi một buổi chiều, một người phụ nữ đeo khăn choàng cashmere đã bắt quả tang tôi. Cô ta thấy tôi bán một chiếc xe đẩy em bé gần như mới cho một cô gái trẻ đang sợ hãi với giá 10 đô la.

Khi cô gái đi khỏi, người phụ nữ đó bước đến. Tôi chuẩn bị tinh thần bị mắng té tát hoặc bị dọa gọi quản lý.

Thế nhưng, cô ta lại đặt một tờ 100 đô la gấp gọn lên quầy.

- "Cho mấy cái... sai sót kiểm kê của ông," cô ta nháy mắt.

Và chuyện này bắt đầu lan ra. Một cách kín đáo. Những khách quen bắt đầu hiểu. Họ không bao giờ nói một lời. Họ mua một món đồ lặt vặt giá 5 đô la, đưa tôi tờ hai mươi, rồi nói: "Giữ lại tiền thối cho lần sau... hệ thống gặp trục trặc nhé."

Chúng tôi đã xây dựng nên một nền kinh tế bí mật chỉ dựa trên phẩm giá. Chúng tôi không bố thí; chúng tôi đang cân bằng lại cơ hội.

Thứ Ba tuần trước, tiếng chuông trên cửa kêu leng keng.

Một người đàn ông bước vào. Cao lớn, vai rộng, mặc bộ đồng phục nhân viên cấp cứu chỉnh tề. Anh ta đi đứng tự tin, nhưng không phải để mua sắm.

Anh đi thẳng đến quầy của tôi.

- "Ông là Arthur," anh ta khẳng định.

Tôi chỉnh lại kính. 

- "Đúng là tôi."

Anh ta cười, và đột nhiên, tôi thấy lại hình ảnh cậu bé mười bốn tuổi gầy gò trong chiếc áo nỉ xám mỏng manh ngày nào.

- "Ông bán cho tôi cái áo parka xanh hải quân cách đây mười năm," anh ta nói. - "Ông bảo cái khóa kéo nó bị hỏng."

Tôi cảm thấy má mình nóng ran. 

- "Tôi xử lý nhiều áo khoác lắm, cậu bé."

- "Khóa kéo không hề hỏng đâu, Arthur." 

Anh ta cúi xuống, giọng nghẹn lại vì xúc động. 

- "Tôi biết ông nói dối. Ngay cả lúc đó tôi cũng biết. Nhưng ông đã không bắt tôi phải đi xin xỏ. Ông để tôi được mua nó. Ông để tôi là một khách hàng, chứ không phải một kẻ ăn xin. Tôi bước ra khỏi đây với cảm giác như một người đàn ông."

Anh ta rút ra một phong bì từ túi áo.

- "Giờ tôi là nhân viên cấp cứu. Tôi cứu người. Nhưng tôi không nghĩ tôi đã sống sót qua mùa Đông năm đó nếu không có chiếc áo khoác đó. Hoặc nếu không biết rằng có người thực sự quan tâm đến mình."

Anh ta đặt phong bì lên quầy.

- "Trong đây có 500 đô la," anh ta nói. "Ông dùng nó đi. Tôi biết cái 'quy định cửa hàng' của ông tốn kém lắm."

Tôi run rẩy cố gắng trả lại. 

- "Tôi không thể..."

- "Cái này không phải cho ông," anh ta nói dứt khoát. "Nó dành cho đứa trẻ run rẩy tiếp theo bước vào đây. Hãy đảm bảo rằng khóa kéo của nó cũng bị hỏng, nhé."

Rồi anh ta quay lưng bước đi, đầu ngẩng cao, hòa vào ánh nắng mùa Thu.

Tôi đã 72 tuổi. Lưng tôi đau, chân tôi sưng vù sau một ngày dài. Nhưng tôi có công việc tuyệt vời nhất trên đời.

Chúng ta đang sống trong một đất nước nói rằng giá trị của bạn phụ thuộc vào số tiền trong tài khoản. Người ta bảo nhau phải tự lực cánh sinh, ngay cả khi họ không có gì.

Nhưng tôi đã học được một điều trong cái cửa hàng bụi bặm cũ kỹ này: Phẩm giá quan trọng hơn việc bố thí.

Đôi khi, giúp đỡ một người không chỉ là cho họ thứ họ cần. Mà là cách bạn trao nó cho họ.

Nếu bạn có thể giúp đỡ ai đó mà vẫn giữ được lòng tự trọng của họ — nếu bạn có thể giúp họ mà không làm họ cảm thấy nhỏ bé — bạn không chỉ nuôi dưỡng thân thể họ, bạn còn đang cứu rỗi cả tâm hồn họ nữa.

Vì vậy, tôi sẽ tiếp tục nói dối. Tôi sẽ tiếp tục lách luật. Tôi sẽ tiếp tục bịa ra những quy định không hề tồn tại.

Bởi vì cái mác giá chẳng có ý nghĩa gì. Điều quan trọng là người mặc nó.

TG Văn Chương

Cuộc sống : THẾ CHẤP - St trên FB.




THẾ CHẤP. 

 Một ông cụ người Mỹ bản địa bước vào ngân hàng một buổi sáng và xin vay 500 đô.

Nhân viên ngân hàng bắt đầu điền giấy tờ.

— “Ông định dùng số tiền vào việc gì?”

— “Tôi lên thành phố bán đồ trang sức do tôi tự làm,” ông cụ đáp.

— “Vậy ông có gì để thế chấp?”

— “Tôi không hiểu ‘thế chấp’ là gì,” ông nói thật thà.

Người ngân hàng kiên nhẫn giải thích:

— “Thế chấp là một thứ có giá trị — thứ chúng tôi giữ lại nếu ông không trả được nợ. Ông có xe hơi không?”

— “Có, một chiếc xe tải đời 1949.”

— “Thế thì không ổn rồi… Có gia súc gì không?”

— “Tôi có một con ngựa.”

— “Bao nhiêu tuổi?”

— “Không rõ. Nó rụng hết răng rồi — giờ khó mà biết.”

Cuối cùng, nhân viên ngân hàng thở dài và vẫn duyệt khoản vay 500 đô.

Vài tuần sau, ông cụ quay lại.

Ông đặt một xấp tiền dày lên quầy, trả hết nợ rồi bỏ phần còn lại vào túi.

— “Còn số tiền dư ông định làm gì?” — người ngân hàng hỏi.

— “Tôi sẽ để trong wigwam (lều) của tôi,” ông nói.

— “Ông có thể gửi ở đây,” người ngân hàng gợi ý.

— “Gửi là sao?”

— “Ông đưa tiền cho ngân hàng; chúng tôi giữ giúp. Khi cần, ông rút ra.”

Ông cụ ngẫm nghĩ một lát rồi hỏi:

— “Thế ngân hàng sẽ đưa cho tôi cái gì để… thế chấp?” 😉


St

Thơ : TẠI ANH RÓT MẬT... - Trần Tuyết Tuyết.


 


TẠI ANH RÓT MẬT VÀO THƠ

(Có những người đi qua đời ta, để lại một vệt nắng không tắt – và một con tim mãi khát những mùa nhớ thương...)


Tại anh rót mật vào thơ

Để em say khướt trong mơ cũng cười

Thu đi để nắng chơi vơi

Anh đi để cả một trời vấn vương...


Tàn hương còn đọng trong sương

Bước qua kỷ niệm... đoạn trường lặng ru

Lời xưa gió cuốn mịt mù

Con tim vẫn khát... những mùa nhớ thương.

TRẦN TUYẾT TUYẾT. 

 



                 TRÊN XE LỬA 🚂

        Tác Giả: Guy de Maupassant

         Nguyễn Vạn Lý phỏng dịch


Xe lửa vừa rời Genoa trên đường đi Marseilles, chạy theo một con đường dài dọc bờ biển, lướt đi giữa biển và núi như một con rắn bằng sắt, bò bên trên những bãi cát vàng viền những đợt sóng bạc đầu, và bất thình lình lao xuống những đường hầm đen ngòm giống như một con thú chui vào hang.

Trong toa xe lửa cuối cùng, một người đàn bà mập mạp và một thanh niên ngồi đối diện nhau, không nói một lời, nhưng thỉnh thoảng liếc nhìn nhau. Nàng vào khoảng hai mươi lăm tuổi và ngồi cạnh cửa, nhìn ra cảnh vật bên ngoài. Đây là một người đàn bà nhà quê chắc nịch của vùng Piedmont, mắt đen, ngực to và hai má căng tròn. Nàng đẩy vài cái bao vào dưới ghế ngồi bằng gỗ, và ôm một cái rổ trên đầu gối.

Người thanh niên khoảng hai mươi tuổi. Chàng gầy gò và da rám nắng, với nước da ngăm đen vì làm việc ngoài đồng dưới ánh mặt trời thiêu đốt. Bên cạnh chàng, buộc trong một tấm khăn là tất cả tài sản của chàng: một đôi giầy, một áo sơ mi, một chiếc quần đùi và một áo jacket. Bên dưới chỗ ngồi, chàng giấu một cái cuốc và một cái xẻng cùng với một đoạn giây thừng. Chàng đang đi Pháp tìm việc làm.

Mặt trời lên cao tuôn lửa xuống bờ biển. Lúc ấy là vào cuối tháng Năm, và mùi hương thơm ngát phảng phất vào toa xe lửa qua những cửa sổ mở. Những vườn chanh và cam đang nở hoa, bốc lên bầu trời bình yên mùi hương ngọt ngào, nồng nàn và khó chịu, hoà lẫn với những bông hồng mọc chen chúc dọc đường rầy, trong vườn của những nhà giầu có, tại cửa những mái tranh xiêu vẹo, và cũng cả ngoài đồng nữa.

Có quá nhiều hoa hồng dọc bờ biển này! Hoa tràn ngập cả vùng với hương thơm nhẹ nhàng nhưng nồng nàn, và thay đổi không khí thành một mùi hương thơm dịu, một cái gì ngon hơn rượu vang và cũng không kém say sưa.

Xe lửa chạy chậm chạp, như thể muốn nán lại cái khu vườn lộng lẫy này. Nó cứ tiếp tục ngừng lại tại những nhà ga nhỏ, trước một vài căn nhà trắng, rồi lại tiếp tục chạy theo một tốc độ nhàn nhã, sau khi buông ra một hồi còi dài. Không có khách lên xe. Như thể là cả thế giới đang ngái ngủ, bất đắc dĩ phải đi bất cứ đâu vào cái buổi sáng mùa xuân nồng ấm ấy.

Thỉnh thoảng người đàn bà mập mạp nhắm mắt lại, và chỉ bất thình lình mở ra bất cứ lúc nào nàng cảm thấy cái rổ tuột khỏi đùi nàng. Nàng nắm cái rổ lại, nhìn ra ngoài cửa sổ vài phút, rồi lại ngủ gà ngủ gật. Những giọt mồ hôi đọng trên trán nàng, và nàng thở khó khăn, như thể đang bị một cơn co thắt đau đớn.

Người thanh niên gục đầu xuống ngực và ngủ say sưa như một người nhà quê.

Bỗng nhiên ngay lúc xe lửa rời một nhà ga nhỏ, người đàn bà nhà quê dường như thức giấc; nàng mở cái rổ và lấy ra một khoanh bánh mì, một vài trứng luộc, một chai rượu vang và một vài trái mận chín đỏ. Rồi nàng bắt đầu ăn.

Người đàn ông cũng bị đánh thức dậy bất thình lình và nhìn nàng ăn, theo dõi những miếng đồ ăn di chuyển từ đầu gối lên môi nàng. Chàng ngồi đó, má hõm xuống, hai tay khoanh lại, mặt trịnh trọng, đôi môi mím chặt.

Người đàn bà ăn như một người háu ăn, thỉnh thoảng làm một nốc rượu để nuốt trôi món trứng, và thỉnh thoảng ngừng lại để thở.

Nàng ăn hết mọi thứ, bánh mì, trứng, mận và rượu vang. Ngay khi người đàn bà ăn xong, người đàn ông lại nhắm mắt lại. Rồi cảm thấy khó chịu, người đàn bà nới lỏng chiếc áo của nàng, và người đàn ông bỗng nhìn lại nàng.

Nàng không để ý và cứ cởi khuy áo ra. Đôi vú quá to của nàng làm căng vải đến nỗi khi khe áo hở rộng ra, nó phô bày một chút vải trắng và da thịt giữa hai vú nàng.

Khi cảm thấy dễ chịu hơn nữa, người đàn bà nhà quê nói bằng tiếng Ý, “Trời nóng đến không thể thở được.”

Chàng thanh niên trả lời bằng cùng một ngôn ngữ và cách phát âm, “Thời tiết này rất tốt để đi đó đây.”

Nàng hỏi, “Ông cũng từ Piedmont?”

“Tôi quê Asti.”

“Còn tôi quê Casale.”

Họ là người cùng một vùng. Họ bắt đầu nói chuyện.

Họ trao đổi những nhận xét dài và thông thường, mà người lao động thường nhắc đi nhắc lại, và cũng đủ cho trí óc chậm chạp và giới hạn của họ. Họ nói về quê nhà và nhận thấy họ cùng quen một số người. Họ gọi tên và trở nên thân mật hơn mỗi khi họ khám phá ra một người mà cả hai cùng biết. Những lời nói mau lẹ với âm vang ở cuối câu và âm điệu của tiếng Ý tuôn ra từ môi họ.

Rồi họ nói về chính họ. Nàng có chồng và đã có ba con nàng gửi lại cho em gái nuôi, vì nàng vừa tìm được việc làm vú em cho một bà người Pháp tại Marseilles.

Về phần chàng, chàng cũng đi tìm việc. Chàng nghe nói có thể kiếm được việc làm cũng tại Marseilles, vì người ta đang xây cất nhiều tại đó.

Rồi họ lại im lặng.

Hơi nóng thực là khủng khiếp đè xuống mái xe lửa. Một đám mây bụi bốc lên đằng sau xe lửa, và bay vào qua cửa sổ; mùi hương của hoa hồng hoa cam trở nên nồng nàn hơn, nặng nề và thấm nhập hơn.

Hai du khách cùng ngủ trở lại.

Họ cùng mở mắt ra, hầu như cùng một lúc. Mặt trời đang lặn xuống biển, hắt ánh sáng lên làn nước xanh. Trời mát mẻ hơn và không khí nhẹ nhàng hơn.

Người vú em đang thở hổn hển. Chiếc áo của nàng mở banh ra, đôi má nàng trông mềm nhão, và đôi mắt khờ dại.

Nàng buồn phiền nói, “Tôi không cho con bú từ hôm qua. Bây giờ tôi cảm thấy như muốn xỉu.”

Chàng không trả lời, không biết nói gì. Nàng nói tiếp, “Khi một người đàn bà có nhiều sữa như tôi thì phải cho bú một ngày ba lần nếu không thi khó chịu lắm. Nó giống như một sức nặng đè lên tim tôi, đúng như vậy; một sức nặng chặn hơi thở của tôi và làm tôi cảm thấy nặng nề. Thực là kinh khủng khi có nhiều sữa như thế.”

Chàng trả lời, “Phải. Bà chắc khó chịu lắm.”

Nàng quả thực trông muốn bệnh, như thể nàng muốn xỉu đi.

Nàng thì thầm, “Tôi chỉ có thể vắt sữa ra, và sữa chảy như một vòi nước. Trông kỳ cục lắm. Chắc ông không thể tin được; ở Casale cả lối xóm thường đến xem tôi vắt sữa.”

Chàng nói, “Thế hả?”

“Phải, thực đấy. Tôi sẵn sàng để ông xem, nhưng cũng không giúp ích gì cho tôi được. Vắt như thế không có nhiều sữa ra.”

Và nàng lại im lặng.

Xe lửa ngừng lại. Đứng tại cổng xe lửa là một người đàn bà bồng một đứa bé khóc lóc trong cánh tay. Người đàn bà gầy gò và ăn mặc rách rưới.

“Kìa có một người đàn bà mà tôi có thể giúp được. Và đứa nhỏ cũng có thể giúp tôi nữa. Coi đây, tôi không giầu có, tôi phải bỏ nhà và gia đình và đứa con nhỏ yêu quý của tôi để đi làm; nhưng tôi sẵn sàng trả năm quan cho cái bà kia trong mười phút để tôi có thể cho đứa nhỏ bú. Như thế đứa trẻ sẽ nín khóc và cũng giúp tôi nữa. Tôi sẽ cảm thấy dễ chịu hơn.”

Nàng lại im lặng. Rồi nàng vuốt bàn tay nóng của nàng vài lần lên cái trán đang đổ mồ hôi, và rên rỉ: “Tôi không thể chịu được nữa. Tôi cảm thấy tôi sắp chết đến nơi rồi.”

Và với một cử chỉ vô ý tứ, nàng cởi phanh áo ra.

Bầu vú bên phải nhô ra, đồ sộ và căng cứng, cùng với núm vú màu nâu; người đàn bà tội nghiệp rên rỉ: “Trời ơi! Trời ơi! Tôi làm gì bây giờ?”

Xe lửa lại tiếp tục cuộc hành trình giữa rừng hoa bốc lên mùi hương thấm nhập tỏa ra vào những buổi tối ấm áp. Thỉnh thoảng một chiếc thuyền câu hiện ra trong tầm mắt, trông như nằm ngủ giữa đại dương, với cánh buồm trắng phản chiếu xuống nước như thể có một chiếc thuyền khác lộn ngược lại.

Chàng thanh niên trông có vẻ rất bối rối, và lắp bắp, “Nhưng… thưa bà… tôi có thể… có thể giúp bà.”

Nàng trả lời bằng một giọng mệt mỏi, “Phải, nếu ông muốn. Nếu ông chịu làm thế là ông làm ơn cho tôi đấy. Tôi không thể chịu đựng được nữa, thực sự tôi không thể.”

Chàng quỳ gối xuống trước mặt nàng, và nàng cúi xuống, đưa cái đầu vú màu đậm vào miệng chàng như thể chàng là một đứa trẻ nhỏ. Trong cử động của nàng, hai tay nàng ôm bầu vú về phía người đàn ông, một vài giọt sữa ứa ra trên núm vú. Chàng hăm hở liếm những giọt sữa ấy, ngậm lấy bầu vú nàng giữa hai môi như thể là ngậm một trái cây, và bắt đầu nút đều đặn và tham lam.

Chàng hai tay ôm lấy ngang lưng người đàn bà để kéo nàng lại gần chàng hơn; chàng uống thong thả nhưng đều đặn, với cái cử động của cổ giống như một đứa trẻ.

Bỗng nàng nói, “Như thế đủ cho bên ấy rồi. Bây giờ bú bên này.”

Và chàng vâng lời quay sang vú bên kia.

Nàng đặt cả hai tay lên lưng chàng thanh niên, và bây giờ nàng thở thật sâu và sung sướng, hưởng cái hương thơm của hoa lẫn với từng ngọn gió lùa vào toa xe lửa, cùng với sự chuyển động của xe lửa.

Nàng nói, “Quanh đây thơm quá.”

Chàng không trả lời, vẫn tiếp tục bú cái vòi nước của bầu vú của nàng, mắt nhắm lại như để tận hưởng hơn nữa.

Nhưng lúc đó nàng khẽ đẩy chàng ra.

“Thế đủ rời. Bây giờ tôi cảm thấy dễ chịu lắm. Tôi là một người mới rồi.”

Chàng đứng dậy, lấy mu bàn tay lau miệng.

Bỏ vú vào trong áo, nàng nói, “Thưa ông, quả thực ông đã làm ơn cho tôi. Cám ơn ông nhiều lắm.”

Và chàng trả lời một cách biết ơn, “Thưa bà, chính tôi phải cám ơn bà mới phải. Đã hai ngày nay tôi chưa được ăn 

✒️ Guy de Maupassant


          📜 Nguyên bản tiếng Pháp :

                              IDYLLE

http://maupassant.free.fr/textes/idylle.html


Từ fb Tri Dung Le