Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

Thơ : CHỊ VỀ QUÊ MẸ... - Lê Hồng Phúc.

 



CHỊ VỀ QUÊ MẸ CHIỀU NAY 


Chị về quê mẹ chiều nay

Sông sâu, một chuyến đò đầy chị sang

Tòng phu xuất giá xa làng

Tiếng gà trưa gáy cũng man mác buồn


Chị về qua ngõ mưa tuôn

Tường rêu phủ kín nỗi buồn chị ơi

Chị về thăm hỏi đôi lời 

Cha mừng, Mẹ tủi biết vơi nỗi lòng?


Hỏi rằng bến đục, bến trong?

Mưa sa lầu các hay đồng ruộng sâu

Ngậm ngùi nói chẳng thành câu

Dâng Cha chén nước, têm trầu Mẹ ăn


Chị ngồi giúp Mẹ vấn khăn

Nụ cười giấu những nhọc nhằn trên môi

Má hồng trời định duyên rồi

Đắng cay đành gởi vào lời chị ru 


Khơi trong hay chốn ao tù 

Me thương chị, hát lời ru bẽ bàng 

Quê mình cách trở đò ngang 

Một chiều thăm Mẹ vội vàng chị  đi 


Tiễn chân chị chớ khóc gì

Kẻo Cha Mẹ tủi mỗi khi chạnh lòng 

Chiều chiều gió thổi đàng đông 

Thở dài thương chị lấy chồng đàng xa. 


Chị ơi “chuối rụng” sau nhà 

Nhớ quê chị nhé phương xa thì về./.


Bút Quê - Lê Hồng Phúc 

(Ảnh nguồn Internet)

Đó đây : TẤM LÒNG VĨ ĐẠI - St trên FB.

 


TẤM LÒNG VĨ ĐẠI. 

Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”.

Đó là năm 1942.

Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi.

Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng.

Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng.

“Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.”

Thức ăn cạn dần.

Thuốc men không còn.

Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.

Maria, 12 tuổi, nắm chặt tay cậu em 6 tuổi. Em đã hứa với người mẹ hấp hối rằng sẽ bảo vệ em trai. Nhưng làm sao để bảo vệ một người khi cả thế giới đã quyết định rằng họ không đáng được sống?

Khi đó, tin tức đến được một cung điện nhỏ ở Nawanagar, Gujarat.

Người cai trị nơi ấy là Jam Sahib Digvijay Singhji.

Một tiểu vương dưới sự thống trị của Đế quốc Anh. Không quân đội, không quyền lực thật sự với các cảng biển, không nghĩa vụ phải can thiệp.

Các cố vấn nói với ông:

“Có 740 đứa trẻ đang mắc kẹt trên biển sau khi người Anh từ chối cho họ cập bến.”

Digvijay Singhji bình tĩnh hỏi:

“Bao nhiêu đứa trẻ?”

“Bảy trăm bốn mươi, thưa Bệ hạ.”

Một khoảng lặng.

Rồi ông nói:

“Người Anh có thể kiểm soát các cảng của ta. Nhưng họ không kiểm soát được lương tâm của ta.

Những đứa trẻ đó sẽ cập bến tại Nawanagar.”

Họ cảnh báo:

“Nếu ngài chống lại người Anh thì…”

“Ta sẽ chịu.”

Và ông gửi thông điệp đã cứu 740 sinh mạng:

“Các con được chào đón ở đây.”

Tháng 8 năm 1942, con tàu tiến vào cảng dưới cái nắng mùa hè khắc nghiệt.

Những đứa trẻ bước xuống như những cái bóng ,quá yếu để khóc, đã quen với đau khổ đến mức không còn dám hy vọng.

Vị Maharaja đứng chờ chúng trên bến cảng.

Mặc áo trắng, ông quỳ xuống để ngang tầm mắt bọn trẻ và nói qua phiên dịch những lời mà chúng chưa từng được nghe kể từ ngày cha mẹ qua đời:

“Các con không còn là trẻ mồ côi nữa.

Các con là con của ta.

Ta là Bapu của các con ,là cha của các con.”

Ông không dựng một trại tị nạn tạm bợ.

Ông xây dựng một mái nhà.

Tại Balachadi, ông tạo nên một Ba Lan thu nhỏ trên đất Ấn Độ:

giáo viên người Ba Lan, món ăn gợi ký ức quê hương, bài hát tuổi thơ, lớp học, khu vườn, thậm chí một cây thông Noel dưới bầu trời nhiệt đới.

“Nỗi đau luôn cố xóa bỏ con người ta,” ông nói.

“Ngôn ngữ, văn hóa, truyền thống của các con là thiêng liêng. Chúng sẽ sống ở đây.”

Trong bốn năm, khi cả thế giới chìm trong chiến tranh, những đứa trẻ ấy sống không phải như người tị nạn ,mà như một gia đình.

Vị Maharaja đến thăm, nhớ tên từng đứa, tổ chức sinh nhật, và an ủi những bậc cha mẹ ở phương xa đã tuyệt vọng nghĩ rằng sẽ không bao giờ gặp lại con mình.

Ông chi trả bác sĩ, thức ăn, quần áo và mọi thứ cần thiết bằng chính tài sản của mình.

Khi chiến tranh kết thúc và đến lúc chia tay, rất nhiều người đã khóc.

Balachadi là ngôi nhà duy nhất mà họ từng biết.

Ngày nay, những đứa trẻ ấy đã trở thành bác sĩ, giáo viên, cha mẹ, ông bà.

Tại Ba Lan, các quảng trường và trường học mang tên Jam Sahib Digvijay Singhji. Ông được trao huân chương cao quý nhất của đất nước.

Nhưng tượng đài thật sự của ông không làm bằng đá.

Nó được tạo nên từ 740 cuộc đời.

Và những cuộc đời ấy vẫn kể cho con cháu mình câu chuyện về một vị vua Ấn Độ, người mà khi cả thế giới đóng sập cửa, đã nhìn vào nỗi đau và nói:

“Từ nay, các con là con của ta.”

MY LAN PHAM (FB) 

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

Cuộc sống : MÁI TÓC - Lê Văn Thông.

 


MÁI TÓC.

Có những điều trong tình yêu tưởng như rất nhỏ, nhỏ đến mức người ta nghĩ rằng chỉ cần nhường nhau một chút là xong. Như chuyện một mái tóc dài hay ngắn. Nhưng đôi khi, chính những điều nhỏ ấy lại chạm vào phần sâu nhất của lòng người, nơi mỗi người giữ cho riêng mình một lý do không dễ nói ra.

Anna không thích Joe để tóc dài. Cô bảo đàn ông thì nên gọn gàng, còn tóc dài là để cho phụ nữ. Joe chỉ cười, lắc đầu. Anh thấy mình vẫn vậy, vẫn là người đàn ông yêu cô, vẫn quan tâm, vẫn tử tế. Chỉ có mái tóc là dài thêm từng ngày, còn anh thì không hề đổi khác.

Họ tranh luận, rồi mệt mỏi. Tóc Joe dài dần lên, còn sự đồng cảm giữa hai người thì lặng lẽ ngắn lại. Khi tóc chạm qua mang tai, họ chia tay. Không ai đúng, cũng chẳng ai sai. Chỉ là cả hai đều chưa hiểu hết điều người kia đang giữ trong lòng.

Joe buồn, nhưng anh vẫn để tóc dài. Dường như anh yêu mái tóc ấy hơn bao giờ hết, như thể nó đang mang một ý nghĩa riêng mà anh chưa sẵn sàng chia sẻ. Còn Anna, sau chia tay, mới nhận ra mình không thể yêu một người chỉ bằng vẻ ngoài. Cô gặp những người đàn ông khác, tóc ngắn, chỉnh tề, nhưng không ai khiến cô thấy bình yên như Joe.

Cô không gặp anh, nhưng vẫn dõi theo. Mái tóc ngày nào giờ đã dài quá vai, được cột gọn gàng phía sau lưng, theo anh đến văn phòng mỗi sáng. Mọi thứ trôi đi trong im lặng, cho đến một ngày Joe gọi cho cô, giọng nhẹ như chưa từng có khoảng cách:

— Em có muốn đi cùng anh đến nơi cắt tóc không?

Anna đến rất nhanh. Cô nghĩ, cuối cùng thì anh cũng chiều theo cô. Nhưng Joe không đưa cô đến tiệm hớt tóc quen thuộc. Anh đưa cô đến một nơi làm tóc giả. Anna đứng lặng nhìn từng lọn tóc rơi xuống, và nghe anh kể về mẹ mình — người đã mất hết mái tóc sau những đợt hóa trị. Mái tóc anh để dài suốt những năm qua, hóa ra là để dành cho mẹ.

Anna không nói được lời nào. Nước mắt rơi rất khẽ.

Lúc ấy, cô mới hiểu rằng có những sợi tóc dài ra không phải để làm đẹp, mà để nối dài yêu thương. Có những điều trong tình yêu, nếu chưa kịp hiểu, ta dễ đánh mất nhau chỉ vì một khác biệt rất nhỏ.

Ngoài kia, tóc rơi nhẹ xuống nền nhà.

Sợi vắn, sợi dài.

Và trong khoảng lặng ấy, lòng người chợt dịu lại.


( Lê Văn Thông sưu tầm và viết lại . )

Thơ : CON LẠI VỀ - Gió Miền Tây .

 


CON LẠI VỀ. 

Con lại về nơi cắt rốn chôn nhau 

Tìm lại dáng cha bạc đầu sương gió 

Đôi vai mẹ tảo tần thân vò võ 

Nuôi đàn con bằng gọng cỏ nắm rau 


Con lớn khôn mái tóc mẹ phai màu

Thân thương lắm mà lòng đau như cắt 

Mùa đông lạnh cái rét như se sắt 

Dưng cõi lòng nhớ khuôn mặt mẹ ơi 


Con tìm về sau hơn nửa cuộc đời 

Chân rong ruổi áo cơm thời lam lũ 

Con thấy nhớ những lời ru giấc ngủ 

Buổi trưa nồng manh áo phủ làm chăn 


Nhớ rất nhiều quê mình thuở khó khăn 

Cha kiếm củi lo ăn ngày từng bữa 

Chẳng dám ước tiền bạc hay nhà cửa 

Chỉ mong sao bớt khổ giữa muôn lòng 


Nay con về tìm lại chút ngày đông 

Thương cha mẹ gánh gồng nuôi con lớn 

Bao năm tháng xa dòng đời lận đận 

Con trở về nơi sớm tối yêu thương .

GIÓ MIỀN TÂY (FB).

Cuộc sống : ĐỪNG CHẠY - St trên FB.

 



ĐỪNG CHẠY. 

Hãy đứng vững


Đừng chạy theo ai, bởi khi bạn đuổi, họ sẽ chạy. Khi bạn đứng vững, họ mới có thể dừng lại.


Đó không chỉ là một quy luật tâm lý xã hội, mà còn là một định luật thầm lặng của đời sống tinh thần. Con người không bị hấp dẫn bởi sự cầu xin, mà bị chạm đến bởi sự vững vàng. Không ai thật sự tôn trọng một kẻ đang rượt đuổi mình; nhưng người đứng yên, không lay động, lại khiến kẻ khác phải chùn bước.


Trong các mối quan hệ, khi ta càng cố giữ, càng níu kéo, càng giải thích, càng chứng minh, ta càng đẩy người khác ra xa. Không phải vì ta sai, mà vì năng lượng của sự truy đuổi luôn mang theo nỗi sợ mất. Và nỗi sợ thì luôn phát ra tín hiệu yếu đuối. Xã hội này vận hành bằng những tín hiệu vô hình ấy. Người ta cảm nhận được dù không gọi tên được.


Khi bạn chạy, bạn tự đặt mình vào vị thế thấp hơn. Khi bạn đứng vững, bạn trở thành một điểm tựa. Động lực xã hội là như vậy: người vững tâm khiến kẻ khác phải điều chỉnh bước chân của mình.


Nhưng điều này không chỉ đúng trong quan hệ giữa người với người. Nó còn đúng trong mối quan hệ giữa con người với thế giới, với hoàn cảnh, với nguy hiểm, và thậm chí… với nỗi sợ sinh tử.


Tôi từng có một trải nghiệm mà đến nay, mỗi khi nhớ lại vẫn thấy lòng mình lặng đi như mặt nước sau cơn gió.


Một ngày nọ, tôi dạo phố. Đó là một con đường không quá đông, nhưng đủ người qua lại để không ai nghĩ rằng điều gì bất thường sẽ xảy ra. Bất chợt, từ phía trước xuất hiện một con chó to. Nó đứng đó, thân hình vạm vỡ, ánh mắt gầm gừ, hung dữ. Tôi chưa kịp phản ứng thì nó lao tới.


Khoảnh khắc ấy, mọi thứ diễn ra rất nhanh, nhưng cũng rất chậm. Nhanh đến mức không còn kịp suy nghĩ; chậm đến mức tôi cảm giác thời gian như ngừng lại. Tôi không chạy, không phải vì dũng cảm, mà vì trong khoảnh khắc ấy, không có chỗ cho hoảng loạn. Toàn bộ thân tâm tôi như bị rút về một điểm duy nhất.


Tôi đứng im.


Chắp tay.


Niệm Phật.


Không niệm bằng miệng, mà niệm bằng toàn bộ ý thức, không cầu xin, không van vái, chỉ là một sự quay về rất sâu, rất thật. Trong giây lát, tôi không còn là một người đối diện với con chó, mà chỉ là một điểm tĩnh lặng giữa dòng hỗn loạn.


Con chó vồ tới.


Và rồi… dừng lại.


Cả tôi và nó đều đứng yên.


Không cắn.


Không cào.


Không sủa.


Những người xung quanh chứng kiến đều sững sờ. Đó là một cảnh tượng mà nếu chỉ nghe kể, có lẽ nhiều người sẽ không tin. Nhưng tôi biết, điều đã xảy ra không phải là phép màu theo nghĩa huyền hoặc. Đó là sự gặp nhau của hai trạng thái: một bên là hung tính bản năng, một bên là tĩnh lực nội tâm.


Con chó không hiểu lời kinh, nhưng nó cảm nhận được trường năng lượng. Khi không còn sự khiêu khích, không còn nỗi sợ phát tán, không còn tín hiệu “chạy trốn” hay “đe dọa”, thì bản năng tấn công cũng không tìm được lý do để tiếp diễn. Hung dữ cần đối tượng để bám vào. Khi không có gì để bám, nó buộc phải dừng lại.


Giây phút ấy, tôi hiểu ra một điều rất sâu: Không phải lúc nào sức mạnh cũng nằm ở hành động. Có những lúc, sức mạnh nằm ở việc không làm gì cả, nhưng không phải là buông xuôi, mà là đứng vững.


Đời sống con người cũng vậy. Bao nhiêu cuộc xung đột, bao nhiêu mối quan hệ đổ vỡ, bao nhiêu bi kịch xã hội… bắt đầu từ việc ta chạy theo: chạy theo sự công nhận, chạy theo tình cảm, chạy theo việc phải đúng, phải thắng, phải hơn người khác. Và càng chạy, thế giới càng chạy nhanh hơn ta.


Người đứng vững không phải là người lạnh lùng. Họ chỉ không để tâm mình bị kéo lê bởi ngoại cảnh. Họ không cần đuổi theo để chứng minh giá trị của mình. Chính sự vững vàng ấy mới là thứ khiến người khác phải điều chỉnh.


Trong Phật học, gọi là định.


Trong Đạo học, gọi là tĩnh.


Trong đời thường, gọi là bản lĩnh.


Khi tâm bạn tĩnh, ngoại cảnh tự điều chỉnh. Không phải vì bạn kiểm soát được thế giới, mà vì bạn không còn phát ra những tín hiệu hỗn loạn khiến thế giới phản ứng lại.


Đừng chạy theo ai.


Đừng chạy theo lời khen.


Đừng chạy theo sự công nhận.


Đừng chạy theo cả nỗi sợ.


Hãy đứng vững.


Đứng vững trong giá trị của mình.


Đứng vững trong lương tri.


Đứng vững trong sự thiện lành.


Khi bạn đứng vững, có những thứ tự nhiên sẽ dừng lại. Và có những thứ, vốn không thuộc về bạn, sẽ tự rời đi. Đó không phải là mất mát. Đó là sự sàng lọc của đời sống.


Vandieuhay.net

Ngẫm : MỘT SỰ CÔNG BẰNG - St trên FB.

 


MỘT SỰ CÔNG BẰNG 

 Tôi Đã Sa Thải Một Bà Mẹ Đơn Thân Chỉ Vì Đến Trễ 12 Phút... Và Đó Là Sai Lầm Lớn Nhất Đời Tôi.

Tôi đã sa thải một bà mẹ đơn thân chỉ vì cô ấy đến trễ mười hai phút.

Đó là quyết định "đúng". Đó là luật lệ. Nó công bằng với tất cả những người đến đúng giờ.

Thế nhưng... đó lại là sai lầm lớn nhất đời tôi.

Tôi đã làm trưởng nhóm tại một trung tâm phân phối ở Ohio được mười năm rồi. Ở đây, mọi thứ phải chính xác như mổ xẻ. Thời gian là tiền bạc. Nếu dây chuyền dừng lại, chúng tôi mất hàng ngàn đô la. Để mọi thứ chạy trơn tru, chúng tôi có luật "ba lần cảnh cáo". Nó được viết to, bằng mực đỏ, trong sổ tay. Ai cũng ký. Ai cũng biết.

Cảnh cáo miệng. Cảnh cáo bằng văn bản. Rồi sa thải.

Maya, một trong những nhân viên giỏi nhất của tôi, đã chạm đến bước thứ ba vào thứ Ba tuần trước.

Cô ấy là một phụ nữ trầm lặng, chắc tầm ngoài ba mươi, nhưng trong ánh mắt cô ấy có một sự mệt mỏi mà tôi thường thấy ở những người già gấp đôi tuổi cô ấy. Cô ấy không bao giờ than vãn. Không bao giờ nán lại ở khu cà phê. Cô ấy đến, cúi đầu và làm việc chăm chỉ hơn bất cứ ai.

Nhưng rồi, tháng trước, mọi thứ thay đổi.

Đầu tiên là mười phút trễ. "Xe có vấn đề," cô ấy thì thầm. Tôi cảnh cáo miệng. Hai tuần sau, hai mươi phút. Cô ấy trông kiệt sức, tóc tai rối bù. Cảnh cáo bằng văn bản. Tôi còn nhớ mình đã nói:

"Maya, tôi quý cô, nhưng tôi không thể phá lệ. Cô phải có mặt đúng giờ."

Và rồi Thứ Ba đến. Công việc bắt đầu lúc 6 giờ sáng. Đến 6 giờ 12 phút, Maya chạy vội qua cửa. Cô ấy không đi đôi ủng thường lệ — mà đi giày thể thao. Mắt đỏ hoe. Trông như vừa khóc.

Tôi không hỏi tại sao. Tôi không muốn biết. Tôi chỉ muốn thực thi luật lệ. Tôi gọi cô ấy vào văn phòng. Tờ đơn sa thải đã được chuẩn bị sẵn.

"Cô biết tại sao cô ở đây rồi chứ," tôi nói bằng giọng chuyên nghiệp. Lạnh lùng.

Maya không cầu xin. Cô ấy không bịa ra câu chuyện nào. Cô ấy chỉ nhìn vào đôi tay run rẩy của mình.

"Tôi biết... tôi xin lỗi, ông Henderson. Chuyện này sẽ không xảy ra nữa."

"Tôi biết," tôi trả lời và đưa tờ giấy cho cô ấy. "Bởi vì tôi buộc phải cho cô nghỉ việc."

Cô ấy nhìn tờ giấy, rồi nhìn tôi. Trong một giây, tôi thấy trong mắt cô ấy một nỗi sợ hãi tột độ, gần như bản năng. Sau đó, một cái gì đó vụt tắt. Cô ấy ký với đôi tay run lẩy bẩy.

"Cảm ơn vì cơ hội," cô ấy thì thầm.

Cô ấy bước ra ngoài trời lạnh. Còn tôi, tôi quay lại với cốc cà phê, tự hào vì đã "tuân thủ các quy tắc".

Tôi là một thằng ngốc.

Hai ngày sau, tôi đang ở phòng nghỉ. Hai nhân viên cũ đang nói chuyện gần máy bán hàng tự động.

"Không thấy Maya nữa."

"Jack đã sa thải cô ấy hôm thứ Ba."

"Thật tệ... nhất là với thằng bé."

"Thằng bé nào?"

"Ông không biết à? Cô ấy bị đuổi khỏi nhà ba tuần trước. Tòa nhà được bán. Họ cho 30 ngày để dọn đi. Cô ấy không thể tìm được chỗ thuê mới vì không có tiền đặt cọc. Cô ấy đang sống trong chiếc Ford Taurus cùng cậu con trai sáu tuổi."

Miếng ăn trong miệng tôi bỗng trở nên vô vị.

"Ông đùa tôi à."

"Không. Tại sao ông nghĩ cô ấy đến trễ? Cô ấy tắm cho con trai ở mấy phòng tập gym mở 24/24, nhưng đôi khi bảo vệ đuổi đi trước khi cô ấy kịp mặc quần áo xong cho thằng bé."

Tôi đứng sững lại, chết lặng.

Những lần trễ hẹn "không thể chấp nhận được" đó ư?

Đó không phải là sự lười biếng.

Đó là một người mẹ đang cố gắng rửa ráy cho con mình trong một cái bồn rửa công cộng để thằng bé không bị bạn bè ở trường chê cười.

Và tôi... vừa lấy đi nguồn thu nhập duy nhất của cô ấy.

Tôi rời khỏi vị trí làm việc với cái cớ khẩn cấp gia đình. Tôi đi tìm cô ấy... nhưng tìm một bóng ma thì tìm ở đâu?

Tôi đến căn hộ cũ. Bị niêm phong.

Phòng tập gym. Không thấy.

Các trung tâm trú ẩn. "Hết chỗ."

"Danh sách chờ cho một bà mẹ và một đứa trẻ à? Sáu tháng," một nhân viên mệt mỏi nói với tôi.

Lúc 8 giờ tối, nhiệt độ là −2 

∘C. Tôi định bỏ cuộc. Tôi đỗ xe trong bãi đậu xe của một siêu thị Walmart.

Và tôi thấy cô ấy.

Tít phía sau, trong bóng tối. Một chiếc Ford Taurus xanh cũ kỹ. Máy đã tắt. Kính xe mờ hơi.

Tôi bước về phía xe. Tôi gõ nhẹ vào cửa kính.

Maya giật mình, giơ cái lược chải tóc lên như một vũ khí. Rồi cô ấy nhận ra tôi. Cô ấy hé mở cửa kính. Một luồng khí lạnh buốt lọt vào.

"Ông Henderson? Tôi... tôi có thể nộp lại đồng phục vào ngày mai. Tôi chỉ cần—"

"Maya, mở cửa ra."

Cô ấy do dự, rồi mở khóa.

Ở ghế sau, dưới một đống chăn mền, một cậu bé đang ngủ, ôm chặt một mô hình siêu anh hùng. Má thằng bé xanh lét vì lạnh.

"Thằng bé ổn không?"

"Nó lạnh," cô ấy vừa thì thầm vừa khóc. "Hết xăng rồi. Tôi không thể bật máy sưởi nữa... tôi không biết phải đi đâu."

Tôi nhìn cô ấy. Tôi đã đánh giá giá trị của cô ấy bằng phút. Bằng mười hai phút ngắn ngủi.

"Cô không cần nộp lại đồng phục đâu," tôi nói.

Cô ấy sợ hãi.

"Cô quay lại làm việc. Ngày mai. Hoặc bất cứ khi nào cô muốn. Tôi đã hủy hồ sơ đó rồi. Đó là một sai sót hành chính. Cô không bị sa thải."

Cô ấy chớp mắt, bối rối.

"Nhưng... luật lệ... ba lần cảnh cáo..."

"Mặc kệ luật lệ," tôi thì thầm. "Và mặc kệ cảnh cáo."

Tôi đưa cô ấy 300 đô la.

"Có một nhà nghỉ Motel 6 cách đây hai dãy phố. Nó không phải thiên đường, nhưng nó ấm. Đi nghỉ đi. Tắm nước nóng cho thằng bé. Gọi một cái pizza."

"Tôi không thể trả lại ông..."

"Đây không phải là một khoản vay. Đây là lời xin lỗi."

Tôi theo họ đến khách sạn. Khi ánh đèn phòng 104 bật sáng, tôi mới chịu lái xe về nhà.

Ngày hôm sau, tôi triệu tập phòng Nhân sự. Chấm dứt việc áp dụng luật mù quáng. Chúng tôi đã lập một quỹ hỗ trợ khẩn cấp cho nhân viên.

Maya trở lại sau ba ngày. Đúng giờ.

Và nếu cô ấy có đến trễ mười phút?

Tôi sẽ pha cà phê và hỏi: "Tôi có thể giúp gì cho cô không?"

Chúng ta sống trong một thế giới bị ám ảnh bởi các quy tắc, các con số, hiệu suất.

Mải nhìn vào đồng hồ, chúng ta quên nhìn vào con người.

Hãy cứng rắn. Hãy công bằng.

Nhưng quan trọng nhất... hãy nhân văn.

Một quy tắc không biết run rẩy.

Một bảng Excel chưa bao giờ cảm thấy lạnh.

Con người thì có.

Hãy chia sẻ thông điệp này. Hãy nhắc nhở thế giới rằng quy tắc duy nhất thực sự quan trọng, đó là lòng tốt.


St

CÂY ĐÒN GÁNH - Nguyễn Vân Thiên.

 



CÂY ĐÒN GÁNH

Lưng cây đòn gánh mòn trơn

Lời tre khô nhắc công ơn mẹ già


Chợ chiều, chợ sớm bôn ba

Hái gieo tất bật đồng xa đồng gần

Bán than mua muối tảo tần

Bao lần xuống biển, bao lần lên non

Da xương bào cật tre mòn

Trăm năm mẹ gánh đời con qua đèo

Gánh yêu thương, gánh khổ nghèo

Gánh mơ ước lẫn gieo neo đi về.

Gánh bình minh lội bến quê,

Gánh hoàng hôn dọc chân đê bước dồn

Gánh trăng khuya giếng đầu thôn

Gánh than lửa chạy qua cồn cát trưa


Một đời gánh nắng và mưa

Mòn vai mà mẹ vẫn chưa yên lòng,

Một đời gióng đứt đòn cong,

Vì ai vai lệch, lưng còng? Mẹ ơi!


NGUYỄN VÂN THIÊN

Thơ : MẸ TA TRẢ NHỚ VỀ KHÔNG - Đỗ Trung Quân. 6

 



MẸ TA TRẢ NHỚ VỀ KHÔNG 

Đỗ Trung Quân


Ngày xưa chào mẹ, ta đi

Mẹ ta thì khóc, ta đi thì cười

Mười năm, rồi lại thêm mười

Ta về ta khóc, mẹ cười… lạ không?


“Ông - ai thế? Tôi chào ông!”

Mẹ ta trí nhớ... về mênh mông rồi

“Ông có gặp thằng con tôi?

Hao hao... tôi nhớ... nó người… như ông”


Mẹ ta trả nhớ về không

Trả trăm năm lại bụi hồng... Rồi đi...


#TTVN 

P/S: Nhà thơ Đỗ Trung Quân gửi gắm tâm tình và nhắn nhủ tới tất cả những ai vẫn còn mẹ trên đời: Đừng để đến lúc trí nhớ của mẹ bị trả về hư không, ta mới nhận ra mình đã bỏ lỡ quá nhiều lần trở về./.


(Ảnh minh họa: nguồn Internet)

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

Suy ngẫm : CÔ GÁI BÁN HOA - St trên FB.

 


CÔ GÁI BÁN HOA. 

Có một cô gái bán hoa sau khi đã bán gần hết số hoa của của mình cũng là lúc cô phát hiện trời đã tối, cô liền quyết định về nhà sớm hơn dự định. Lúc này, cô phát hiện giỏ hoa của mình vẫn còn một bông hoa hồng chưa bán hết, cô liền đem tặng bông hoa hồng đó cho một người ăn xin bên đường rồi vui vẻ trở về nhà.

Người ăn xin chưa bao giờ nghĩ rằng lại có một việc tốt như vậy xảy đến đối với mình, lại có một cô gái xinh đẹp tặng cho mình hoa hồng, đúng là mặt trời mọc từ đằng Tây rồi, thế nên anh ta quyết định không ngồi ăn xin nữa mà trở về nhà.

Về đến nhà, anh ta tìm một cái lọ lấy nước và cắm bông hoa hồng vào đó, đặt lên trên bàn rồi tự mình ngồi ngắm nghía. Bất chợt anh ta thấy rằng, bông hoa đẹp như vậy sao lại cắm trong cái lọ bẩn thỉu được, thế nên anh ta mang lọ đi đánh rửa sạch sẽ và cho rằng thế mới xứng với bông hoa.

Làm xong tất cả anh ta lại vừa ngồi vừa ngắm nghía bông hoa, và anh ta lại thấy rằng lọ hoa đẹp đẽ như vậy sao lại để trên một cái bàn vừa bẩn vừa lộn xộn được, thế là anh ta lại bắt đầu lau dọn bàn sạch sẽ gọn gàng.

Làm xong anh ta lại ngồi ngắm nghía bông hoa, rồi anh ta lại phát hiện ra rằng, lọ hoa đẹp đẽ là thế, cái bàn gọn gàng sạch sẽ là thế, sao lại có thể để trong một căn phòng bụi bẩn bừa bãi được, thế là anh ta lại quyết định dọn dẹp căn phòng, sắp xếp lại đồ đạc gọn gàng.

Chả mấy chốc cả căn phòng nhờ có bông hoa hồng mà tươi sáng và ấm áp hơn hẳn, đang lúc đắm chìm trong cảm giác say mê, anh ta bất chợt thấy hình ảnh của mình qua tấm gương, đầu bù tóc rối, quần áo bẩn thỉu rách nát, thế là sau bao nhiêu năm, lần đầu tiên anh ta đi tắm gội thay quần áo, mặc dù quần áo có chút cũ nhưng sạch sẽ.

Sau khi chỉnh đốn lại mình xong, soi gương anh ta phát hiện ra rằng mình trông cũng không đến nỗi nào, tại sao lại đi làm ăn xin cơ chứ? Đây là lần đầu tiên anh ta tự hỏi mình như vậy từ lúc làm ăn xin đến giờ. Anh ta nhìn lại mình trong gương rồi nhìn lại căn phòng, nhìn lọ hoa và cuối cùng anh ta đi đến một quyết định quan trọng, đó là từ ngày mai anh ta sẽ không đi làm ăn xin nữa mà sẽ đi tìm việc làm khác.

Anh ta không sợ bẩn, không sợ vất vả nên rất nhanh, anh ta đã tìm được công việc cho mình. Và cũng có thể bông hoa hồng trong lòng anh ta đã cổ vũ khích lệ anh ta không ngừng cố gắng, nên mấy năm sau anh ta đã có sự nghiệp riêng cho mình. 

Sau vài năm, anh ta tìm gặp cô gái bán hoa năm nào đơn giản chỉ là cảm ơn cô đã tặng cho anh ta một bông hoa hồng khi anh ta đang là ăn xin. Đối với anh ta đó không đơn giản chỉ là bông hoa hồng mà đó là một niềm hy vọng vào cuộc sống. Khi gặp lặ nhau, Họ bắt đầu trao đổi về nhau nhiều hơn !

Trong thực tế, mỗi người đều có những ưu điểm, chúng ta cần phải tin tưởng vào chính bản thân mình, bất kể hoàn cảnh thế nào cũng không nên từ bỏ chính mình. Đừng đắm chìm trong bờ vực của sự thất bại, chỉ cần bạn thực hiện một chút thay đổi nho nhỏ bạn sẽ thấy cuộc sống của bạn sẽ có sự khác biệt.

Thay đổi chính mình, đối mặt với mọi thứ bằng một thái độ tích cực, bạn sẽ tìm được bước đột phá vượt qua mọi khó khăn, tìm ra con đường nâng cao giá trị và phát triển bản thân một cách tốt nhất.

Khi bạn thay đổi chính mình, mọi thứ cũng sẽ thay đổi.

St DanOngCoRau

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026

Thơ: ĐÂY THÔN VĨ DẠ - Hàn Mặc Tử.

 



ĐÂY THÔN VĨ DẠ

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió, mây đường mây,

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...

Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay?

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra...

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

HÀN MẶC TỬ.

Hồi ức : THƯƠNG THƯƠNG NÉT CHỮ... - Nam Phan.

 



THƯƠNG THƯƠNG NÉT CHỮ HỌC TRÒ. 

Thời tiểu học, sau thời gian viết chữ bằng viết chì, là đến thời gian viết chữ bằng viết lá tre. Mỗi lần đến lớp, phải mang theo một bình mực nhỏ, mỗi lần viết phải chấm vào bình, viết được vài chữ lại chấm tiếp. Mỗi lần mình đi học về là tay chân mặt mũi áo quần của mình đều lấm lem mực. Lớn lên một chút thì có viết mực ruột mềm, bơm mực trước ở nhà, nên không còn cảnh vô tình làm đổ bình mực lấm lem cả mặt bàn và sách vở nữa. Mực thì mình tự pha bằng cách cho cục mực mua ngoài chợ vô nước nóng. Có lần, nghe theo lời một bạn gái trong lớp,  mình thử lấy trái mồng tơi về pha thành mực tím để viết chung với bạn, nhưng chữ viết bằng mực mồng tơi thì lại rất lợt, mà thời đó viết chữ trên giấy đen ố vàng, không đọc được chữ, nên rồi chuyện mực tím mồng tơi cũng không thành.


Thời đó một vài bạn nhà khá giả mua được cây viết Hero huyền thoại, còn mình và những bạn khác thì chỉ là cây viết mực bình thường. Có lần một bạn mua được cây viết Hero rất đẹp, bạn cho cả nhóm viết thử, đúng là tiền nào của nấy, cảm giác cầm viết Hero khác hẳn cây viết thường của mình. Éo le, ngay trong hôm đó, sau giờ ra chơi, cây viết Hero của bạn bị mất, mình và những bạn trong nhóm nằm trong diện tình nghi. Tiếp theo là màn kiểm tra cặp xem ai lấy trộm viết Hero của bạn, dĩ nhiên cây viết đó không nằm trong cặp của mình. Chỉ là một chút ấm ức tuổi học trò, nhưng mình bắt đầu hiểu ra, những người nghèo thường dễ bị nghi ngờ nhất. Kể từ đó, thấy ai có đồ đạc gì quý giá là mình tránh xa để khỏi bị vạ lây, và những chổ nào có camera an ninh, mình luôn tìm cách đứng ở vị trí mà camera thấy mình rõ nhất.


Lên cấp 3, cuối cùng thì mình cũng có được cây viết Hero cho riêng mình, nhưng bài vở cấp 3 khá nhiều nên mình không còn nắn nót viết cho đẹp như thời cấp 2 nữa, và Hero hay không phải Hero cũng không còn quan trọng nữa. Thời đó, áo trắng học trò của mình may bằng vải kate thường nên hay bị ngả vàng. Mỗi lần giặt áo, trong lần xả nước sau cùng, mình nhỏ vô vài giọt mực, khi thì mực tím, khi thì mực xanh, vậy là áo trắng của mình có vẻ như trắng hơn và mới hơn một chút. Quê nghèo, nhiều bạn cũng chỉ có đúng một cái áo trắng để mặc đi học như mình, đi học về phải giặt ngay để kịp khô cho ngày mai. Bởi vậy, vài giọt mực trong nước xả cũng đem lại chút niềm vui nho nhỏ. Con trai thì không sao, chỉ tội nghiệp mấy bạn gái, đang tuổi cần ăn diện, mà cũng chỉ có duy nhất một cái áo trắng để mặc đi học.


Thời cấp 3, mình có một người bạn có ngón tay dài và viết chữ nghiêng nghiêng khá đẹp. Cả bạn và mình thường hay vô tư giúp người khác mà không suy tính thiệt hơn. Có lần để giúp mình có học bổng dành riêng cho đoàn viên, bạn vô tư xé giấy tập viết luôn cho mình cái đơn xin vào đoàn. Nhìn bạn cắm cúi viết, mình chợt nghĩ, mình đã làm chuyện ăn cơm nhà vác ngà voi, còn bạn thì muốn vác luôn cả con voi. Đầu năm lớp 12, mình nói với bạn mình đã chọn Hóa, bạn còn phân vân giữa Điện và Hóa, nói là sẽ trả lời mình sau. Nhưng rồi bạn không bao giờ trả lời mình nữa, một ngày đầu tháng 10, bọn mình đi hái hoa sứ kết vòng hoa tiễn bạn về trời. Bài kiểm tra cuối cùng bạn chưa kịp biết điểm, mình giữ lại làm kỷ niệm. Theo thời gian, màu giấy đã úa vàng, nhưng nét chữ nghiêng nghiêng của bạn vẫn còn đó.


Cuối năm cấp 3, có một bạn lớp dưới tặng mình một cây viết Hero, mình để dành để vô đại học sẽ viết. Nhưng vô đại học, thầy cô giảng bài nhanh quá, viết bài không kịp, nên mình toàn dùng viết bi, và chữ của mình ngày càng xấu theo thời gian. Lúc đó mình mới hiểu vì sao ngày xưa thầy cô không cho học trò sử dụng viết bi. Thật ra giữa Saigon hoa lệ, ít ai còn sử dụng viết mực như thời học sinh. Những lúc có thời gian, mình thường tranh thủ đạp xe chạy một vòng, đôi khi nhắm mắt lại để phân biệt mùi Chợ Lớn với mùi Saigon. Có lần ghé Bưu điện Thành phố, bất chợt thấy một bác viết thư thuê ngồi cặm cụi viết ở một góc, và bác vẫn còn dùng viết mực. Tính lại nói chuyện với bác nhưng khách hàng của bác đông quá, nên mình chỉ đứng nhìn, lặng lẽ ngắm biết bao nhiêu nổi niềm của nhân thế được gửi vào những nét mực kia. 


Mấy mươi năm vật đổi sao dời, máy tính trở nên quá thông dụng, bàn tay năm ngón kiêu sa của thế nhân hầu như ít khi cầm viết, mà chủ yếu dùng để gõ bàn phím. Đến khi điện thoại thông minh xuất hiện, kể cả viết bi cũng ít được sử dụng, nói chi đến viết mực. Cần gì thì gõ note trên điện thoại, gửi tin nhắn cho nhanh, hoặc có thể ghi âm luôn rồi từ từ nghe lại sau cho tiện. Ngay cả ký tên thì vẫn có thể dùng luôn cả chữ ký điện tử cho nhanh, cần gì phải dùng viết để ký. Ngày xưa, những bạn gái dễ thương của mình thỉnh thoảng cũng nhận được những lá thư tình của tuổi ngây thơ vụng dại trên giấy học trò. Có những lá thư không ghi tên người gửi, tụi mình nhìn nét chữ để đoán người viết là ai. Không biết học trò giờ này còn ai viết thư tình trên giấy nữa không, có lẽ là không…

NAM PHAN.

Thứ Hai, 5 tháng 1, 2026

Thơ : KHÔNG THỂ NHẠT NHÒA - hathuthuy.

 


KHÔNG THỂ NHẠT NHÒA. 

Ta sẽ hát cho rừng yên ngủ

Bằng tình ca rất đổi mặn nồng

Có yêu thương xạc xào gió vỗ

Cây đợi rừng gần suốt trăm năm.


Sẽ hát bài ca nồng nàn nhất

Cho lá vàng rơi mãi về xa

Để chan hòa trong từng nốt nhạc

Tình muôn miên không thể nhạt nhòa.

hathuthuy

Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025

Cuộc sống: CON ĐƯỜNG DẪN TÔI... - Lê Văn Thông.




 Con đường dẫn tôi đến trường Đại học

Tôi từng có một mối tình đầu trong veo như nắng sớm. Em học lớp kế bên, mái tóc đen dài và đôi mắt biếc buồn. Sáng thứ hai tuần nào, trong buổi chào cờ, tôi cũng tìm em giữa hàng dài áo trắng. Khi ánh mắt em chạm vào tôi, nụ cười em khẽ nở — thế là ngày hôm ấy, với tôi, đã đủ vui.

Cuối năm đó, tôi nộp đơn thi vào Đại học. Em cười, nửa đùa nửa thật:

— Anh mà thi đậu, em… phục lắm!

Câu nói ấy trở thành lời hẹn không thành, mà tôi mang theo suốt những tháng ngày sau này.

Trước ngày thi, nhà tôi không có lấy một đồng.Tôi nghĩ sẽ bỏ cuộc , rất mai chiều hôm đó có người đến lấy sổ mua  nhu yếu phẩm trả năm đồng. Tôi rất mừng vì có tiền để đi thi.Tôi để lại cho các em ba đồng, giữ lại hai đồng, mang theo thêm hai ký gạo mà dì hàng xóm dúi cho. Khuya ấy, tôi đạp xe đi thi.

Đến trạm gác đầu làng, họ giữ lại vì tôi mang gạo. Tôi chìa phiếu báo danh mà họ vẫn không cho qua. May có người trong nhóm nhận ra tôi, nói: “Cho nó đi, mai nó thi đại học.”

Những ân tình của mọi người, đã giúp tôi năm đồng và 2kg gạo và một lời nói cho nó đi tôi mang theo suốt đời.

Tôi đạp xe đến Hóc Môn và gửi xe ở đó và đón xe đò  đi về Sai Gòn , đến ngã tư Bảy Hiền không có xe buýt nên tôi đi bộ đến Trường Đại học Sư phạm trên đường Trương Minh Giảng (nay là Lê Văn Sĩ). Trời còn tối, gió sớm lạnh buốt, mà tôi vẫn thấy lòng ấm vì giấc mơ sắp đến gần.

Thi xong buổi đầu, tôi mới sực nhớ mình chưa có chỗ ở, trong túi chỉ còn vài đồng lẻ. Rất may, tôi gặp người bạn cũ — con của chủ nhà nơi tôi từng làm công. Nhờ nó, tôi có chỗ ăn ở suốt mấy ngày thi, có bữa cơm nóng và tiếng nói thân quen giữa Sài Gòn xa lạ.

Vài tháng sau, giấy báo trúng tuyển gửi về. Tôi cầm tờ giấy mà tay run run. Má tôi thì buôn bán xa chỉ có  ngoại ở nhà ,tôi cho  ngoại hay tin tôi đậu đại học khi nghe tin vai ngoại run run hai hàng nước mắt chảy dài... ngoại chỉ nói một câu "Tội nghiệp cháu của bà"..tôi không bao giờ quên những hình ảnh và lời nói của ngoại ngày hôm đó tôi biết những ngày sắp tới tôi phải làm sao ? tôi nên lên Sài Gòn học hay ở lại phụ giúp gia đình trong lòng vui thì ít, lo thì nhiều. Thằng em kế nói với tôi: anh Hai nên đi học tiếp cả gia đình mình kỳ vọng vào anh còn việc ở nhà để em phụ má và chăm sóc những đứa em còn nhỏ ...

Ngày lên Sài Gòn nhập học, tôi đứng bên con đường làng, nhìn lại mái  nhà cũ,  khi xe qua khu nhà em .Tôi không kịp nói lời tạm biệt. Chỉ biết thì thầm:

Tạm biệt người con gái tôi thương. Tạm biệt miền quê nghèo đã nuôi tôi lớn bằng những bữa cơm kho quẹt, bằng tiếng mẹ thở dài trong đêm.

Năm đầu đại học, tôi đi dạy kèm để có tiền trang trải. Tiền học bổng sinh viên Sư phạm  — hai mươi hai đồng và mười sáu ký gạo — đủ sống, nhưng tôi vẫn gói ghém gửi thêm về cho các em. Má tôi khi ấy buôn bán xa, ở nhà chỉ còn mấy đứa nhỏ ngóng tin anh hai.

Con đường dẫn tôi đến trường đại học không chỉ là con đường đất đỏ năm nào, mà là con đường của lòng kiên nhẫn, của thương yêu và trách nhiệm.

Con đường ấy có mồ hôi, có nước mắt, có cả nụ cười của cô gái tôi từng thương — như ánh sáng nhỏ soi vào một thời tuổi trẻ nhiều thiếu thốn mà đầy hy vọng.

(Lê Văn Thông.)

Cuộc sống: CẬU BÉ TUYỆT VỜI - Sưu tầm trên mạng.

 


CẬU BÉ TUYỆT VỜI.

Có một cậu bé mới 13 tuổi, một hôm cha cậu đưa cho cậu một chiếc áo cũ rồi hỏi: 

"Con nghĩ chiếc áo này đáng giá bao nhiêu tiền?"

"Khoảng 1 đô la", cậu bé trả lời.

"Con có thể bán nó với giá 2 đô la không?" Cha cậu bé vừa hỏi vừa đưa mắt nhìn cậu bé.

"Thưa cha, con nghĩ chỉ có kẻ ngốc mới mua chiếc áo này", cậu bé trả lời.

Người cha nhìn con với ánh mắt khích lệ: "Sao con không thử xem? Con biết không? Gia đình mình đang gặp khó khăn, nếu con bán được chiếc áo này, nó có thể giúp được chúng ta rất nhiều".

Sau khi nghe cha mình nói vậy, cậu bé gật đầu đồng ý: "Con sẽ thử xem, nhưng không chắc là có thể bán được".

Cậu bé đem chiếc áo đi giặt rất cẩn thận, vì không có bàn ủi để ủi áo cho thẳng thớm, cậu dùng bản chải để giặt chiếc áo, sau đó phơi khô trên một miếng gỗ phẳng trong bóng râm. Sáng ngày hôm sau, cậu bé đem chiếc áo đến một ga tàu điện đông người qua lại. Sau 6 tiếng đồng hồ không ngừng chào mời, cuối cùng cậu bé cũng bán được chiếc áo với giá 2 đô la. Cậu vội vàng cầm số tiền bán được chạy một mạch về nhà đưa cho cha. 

Sau đó, mỗi ngày cậu đều đi tìm xin quần áo cũ mang về nhà giặt sạch đem đi bán.

Một hôm cha cậu bé lại đưa cho cậu một chiếc áo cũ khác: “Con có thể bán chiếc áo này với 20 đô la không?“

"Cha ơi, làm sao có thể bán được cơ chứ? Một chiếc áo cũ làm gì có giá trị cao như vậy được, cùng lắm là 2 đô la.”

“Sao con không thử nghĩ cách xem, nhất định là có cách”, cha cậu bé khích lệ. 

Cuối cùng cậu bé nghĩ ra một cách, cậu nhờ anh họ của mình, một người rất đam mê hội hoạ và vẽ rất đẹp, vẽ cho cậu một con chim đại bàng và một chú chuột nhắt đáng yêu lên chiếc áo. Sau đó cậu chọn một ngôi trường học, nơi có nhiều thiếu gia con nhà giàu theo học ở đó, cậu đứng ở cổng trường chào mời người mua. Vừa mới chào mời một lúc liền có một người quản gia cùng thiếu gia của mình đến mua chiếc áo. Cậu thiếu gia đó đã vô cùng thích thú khi có được chiếc áo liền bo thêm cho cậu 5 đô la, tổng cộng cậu bán được chiếc áo 25 đô la.

Đây là một số tiền khá lớn đối với gia đình cậu, số tiền này có thể tương ứng với gần một tháng lương của cha cậu khi ấy. Sau khi về nhà, cha cậu lại đưa cho cậu một chiếc áo khác và nói: “Con có thể bán chiếc áo này với giá 200 đô la được không?”, cha cậu nhìn cậu với một ánh mắt đầy tin tưởng. Lúc này, cậu bé không hề do dự, cậu đón nhận chiếc áo bằng cả hai tay mình, bắt đầu suy nghĩ…

Hai tháng sau, cuối cùng thì cơ hội cũng đã đến. Hôm đó, nữ diễn viên chính của bộ phim đang nổi tiếng “Những Thiên Thần của Charlie” đến thành phố cậu bé để quảng bá phần tiếp theo của bộ phim. Sau khi buổi họp với ký giả kết thúc, cậu bé mạnh dạn chen lên phía trước, chạy đến bên cạnh nữ diễn viên Farrah Fawcett – Majors, đưa chiếc áo cũ ra rồi xin cô ký tên lên đó. Farrah Fawcett – Majors thấy vậy ngẩn người ra một lúc nhưng rồi vẫn vui vẻ tươi cười ký lên chiếc áo, không ai có thể nỡ từ chối một cậu bé dễ thương với ánh mắt hồn nhiên trong sáng như vậy. 

Sau khi ký xong, cậu bé hỏi cô: “Cháu có thể bán chiếc áo này được không ạ?”

“Đương nhiên là có thể được rồi, đây là áo của cháu, cháu có thể bán nó nếu cháu muốn"

Cậu bé đứng trên bục hô to một tiếng: “Đây là chiếc áo do đích thân nữ diễn viên xinh đẹp Farrah Fawcett – Majors ký tên, giá nó là 200 đô la”. Sau khi qua cuộc đấu giá, cuối cùng chiếc áo đã bán được với số tiền không tưởng, 1200 đô la.

Về đến nhà, cậu thấy cha mình cùng một người khác đang ở nhà. Cha cậu bé cảm động mà ôm cậu vào lòng, hôn lên trán cậu: “Cha vốn dĩ dự tính, nếu con không bán được, cha sẽ nhờ người mua nó lại, thật không ngờ con lại giỏi đến thế! Con thực sự rất giỏi…”

Buổi tối hôm đó hai cha con cậu bé đã ngồi nói chuyện với nhau rất lâu. Cha cậu hỏi: “Con trai, từ sự việc của 3 chiếc áo này, con có hiểu được ra điều gì không?”

“Con hiểu rồi, cha đã khích lệ con”, cậu bé cảm động nhìn cha rồi nói tiếp: “Chỉ cần chúng ta động não suy nghĩ, không việc gì là không thể làm được, việc khó đến đâu cũng có cách giải quyết của nó”. 

Cha cậu bé gật đầu đồng ý, nhưng rồi lại lắc đầu nói: “Con nói cũng rất đúng nhưng đó không phải là ý định ban đầu của cha”.

“Cha chỉ muốn nói với con rằng, một chiếc áo cũ chỉ đáng giá 1 đô la vẫn có cách để tăng giá trị của mình, còn chúng ta cớ sao phải bi quan với cuộc sống này đúng không con? Chúng ta tuy nghèo một chút, nhưng có sao đâu, chúng ta có nhiều hơn một chiếc áo 1 đô la và con thấy không, một chiếc áo 1 đô la cũng có thể làm nên điều kỳ diệu”.

“Đúng vậy, một chiếc áo cũ còn có thể tự làm cho mình cao quý hơn, vậy chúng ta còn có lý do gì mà không yêu cuộc sống của chính mình hơn cơ chứ!”

20 năm sau danh tiếng của cậu bé đó đã lan toả khắp thế giới, qua từng ngóc ngách các con phố nhỏ, mọi người vẫn thường nhắc tới cậu. Cậu bé đó chính là Michael Jordan, một tỷ phú giàu có, là chủ tịch hội đồng quản trị, cổ đông lớn nhất của tập đoàn Charlotte Hornets.

Cuộc sống vốn không hoàn hảo và chúng ta có thể sống trong một hoàn cảnh khốn khó, bất lợi. Nhưng, hoàn cảnh chỉ là phép thử để mỗi người thể hiện giá trị của mình.

Chúng ta bỏ cuộc hay chiến thắng nghịch cảnh phụ thuộc vào việc chúng ta nhìn điều đó bằng con mắt như thế nào ?Liệu chúng ta có thể tìm ra giá trị của chính mình để sống một cuộc đời của chính bản thân mình ....

SƯU TẦM.

Chuyện xưa : VỤ ÁN CÔ QUỜN ... - Chị Lê.

 

(P/s: Bà Ls. Nguyễn Phước Đại nhũ danh Nguyễn Thị Quỳnh Anh là một Luật sư tên tuổi lớn của toà Thượng thẩm Sài Gòn từ những năm 1950 đến tháng 4/1975. 

Bà còn tham gia hoạt động chính trị với chức vụ sau cùng là Phó Chủ tịch Thượng nghị viện VNCH vào cuối thập niên 1960. 

Bà mất tại Viện Duỡng Lão Thị Nghè Sài Gòn vào tháng 10 năm 2013 thọ 90 tuổi.

Chồng Bà là Giáo sư Bác sĩ Nguyễn Phước Đại nguyên là Giám đốc Bệnh viện Sài Gòn đến ngày 30/4/1975.

Ảnh: Bà Luật sư Nguyễn Phước Đại nhũ danh Nguyễn Thị Quỳnh Anh. Mượn trên Google )

VỤ ÁN CÔ QUỜN ĐỐT CHỒNG 

Năm tôi đang học Đệ Thất, tình cờ trong một buổi tối rảnh rỗi, Má tôi kể tôi nghe chuyện "Cô Quờn Đốt Chồng". Má tôi nói đó là vụ án nổi tiếng Sài Gòn và khắp cả "Lục tỉnh", cả miền Trung Nam kỳ. 

Đó là vào khoảng năm 1950. 

Cô Quờn cùng chồng từ miền Tây lên Sài Gòn lập nghiệp. Nhà Cô lúc đầu ở bên Khánh Hội Q4, Sài Gòn. Buổi ban đầu cuộc sống khó khăn nhưng vợ chồng rất hạnh phúc. Cô Quờn khoảng hơn 30 tuổi, có dáng người mảnh mai, gương mặt hiền lành, cam chịu, đúng tuýp nguời phụ nữ thời đó: "một dạ vì chồng". 

Cô cùng chồng gầy dựng sự nghiệp từ hai bàn tay trắng và cuộc sống khá lên với một xưởng sản xuất cao su. Do lao động vất vả, thể trạng yếu, lại thường xuyên hít phải khí độc từ cao su, Cô Quờn phát bệnh lao. Lúc này người chồng thay lòng đổi dạ, có vợ nhỏ bên ngoài, lạnh nhạt hắt hủi Cô. Cô nhẫn nhịn chịu đựng, khuyên can và cả van xin. Nhưng người chồng vẫn không thay đổi mà còn có ý định đem cô vợ nhỏ về nhà sống chung và buộc Cô phải chấp nhận ông ta 2 vợ.

Tức nước vỡ bờ. Cô Quờn đi đến quyết định giết người chồng phụ bạc để rồi cùng chết  Cô mua xăng đổ vào thau. Khi ông chồng đang ngủ, Cô tạt nguyên thau xăng lên người ông ta và châm lửa. Cô ngồi yên như vậy trong đám cháy. Nhưng định mệnh không cho Cô chết. Cô được cứu sống và Cô phải ra hầu toà với tội danh "Cố ý Giết người", "Giết người có tổ chức". Khung hình phạt có thể tới chung thân, hoặc tử hình.

Người bảo vệ Cô Quờn trước Toà Thượng thẩm Sài Gòn khi đó là Nữ Luật sư Nguyễn Phước Đại. Phiên toà được truyền thanh qua sóng Radio, thu hút sự quan tâm chú ý của hầu hết người Sài Gòn, miền Nam, đặc biệt là cánh Phụ nữ. Ai cũng cảm thương Cô Quờn. 

Nữ Luật sư Nguyễn Phước Đại đã biện hộ cho Cô Quờn không chỉ bằng tài năng tuyệt vời với lập luận sắc bén, dẫn chứng cụ thể, thấu tình về sự phụ bạc, tàn ác của người chồng đối với người vợ yếu đuối bệnh tật. Luật sư Nguyễn Phước Đại còn đặt cả tình cảm của chính mình để bênh vực người phụ nữ tội nghiệp là thân chủ của mình, đang đứng trước vành móng ngựa. 

Trong phần tranh luận, Luật sư biện hộ cho Bị cáo đã khóc. Và những người dự khán phiên toà cũng khóc.

Kết thúc phiên toà, "Cô Quờn Đốt Chồng" bị tuyên phạt 5 năm tù. Sau đó đích thân TT Ngô Đình Diệm đã ân giảm còn chỉ 3 năm. 

Từ câu chuyện Má tôi kể, tôi đã rất nguỡng mộ  và luôn tìm hiểu về Nữ Luật sư Nguyễn Phước Đại, người đã giúp Cô Quờn thoát khỏi án chung thân hoặc tử hình. 

Cũng từ câu chuyện đó, tôi đã tơ tưởng về chiếc áo Luật sư suốt cả thời Trung học. Tôi luôn mơ ước mình trở thành một Luật sư, nên sau khi thi đậu Tú tài, tôi đã không ngần ngại ghi danh vào trường ĐH Luật khoa SG.

Nhưng vận nước đã đẩy tôi trôi về hướng khác.


(P/s: Bà Ls. Nguyễn Phước Đại (nhũ danh Nguyễn Thị Quỳnh Anh) là một Luật sư tên tuổi lớn của toà Thượng thẩm Sài Gòn từ những năm 1950 đến tháng 4/1975. 

Bà còn tham gia hoạt động chính trị với chức vụ sau cùng là Phó Chủ tịch Thượng nghị viện VNCH vào cuối thập niên 1960. 

Bà mất tại Viện Duỡng Lão Thị Nghè Sài Gòn vào tháng 10 năm 2013 thọ 90 tuổi.

Chồng Bà là Giáo sư Bác sĩ Nguyễn Phước Đại nguyên là Giám đốc Bệnh viện Sài Gòn đến ngày 30/4/1975).

Ảnh: Bà Luật sư Nguyễn Phước Đại nhũ danh Nguyễn Thị Quỳnh Anh. Mượn trên Google.

CHỊ LÊ (FB) 

Cuộc sống : LÁ THƯ CỦA... - Lê Văn Thông.

 



Lá Thư Của Người Cha Năm Ấy


Năm 1991, tôi dạy luyện thi đại học ở trung tâm CADASA, số 20 Ngô Thời Nhiệm. Khi đó Sài Gòn còn yên bình, đường xá thưa thớt, những tán me hai bên vẫn đong đưa trong gió, rải xuống lòng đường bao nhiêu chiếc lá úa vàng như vết chân của thời gian. Chiều nào cũng vậy, tôi đi xe đến trung tâm, nghe tiếng ve sầu trên cao hòa cùng tiếng guốc, tiếng cười của đám học trò tuổi mười tám.

Giữa dòng người ấy, có một bóng dáng khiến tôi chẳng thể quên — một người cha gầy gò, quần áo bạc màu, tay ôm túi vải nhỏ, đứng chờ ở góc cổng trung tâm. Bác từ quê lên thăm con trai, đứa con đang ôn thi đại học trong lớp tôi dạy. Bác ít nói, hiền hậu, giọng miền Tây nghe mộc mạc mà chân tình.

Một buổi chiều, trong lúc chờ con, bác ngồi trò chuyện với tôi ở quán cà phê bên cạnh Trung tâm . Bác kể, nhà nghèo, ruộng ít, mấy chị em gái đành nghỉ học để nhường phần cho thằng út.

— “Nó học giỏi, thầy à. Ở nhà má nó cứ nói ráng cho nó học tới nơi tới chốn. Mình nghèo, chỉ mong nó thoát khỏi ruộng đồng...”

Bác nói rồi cười, nụ cười hiền mà buồn đến lạ. Tôi nhìn đôi bàn tay chai sạn của bác, tự nhiên thấy lòng rưng rưng. Hình ảnh ấy, sao giống cha tôi năm xưa đến thế — cái dáng người còng lưng dưới nắng, bàn tay đen sạm, suốt đời chỉ biết lặng lẽ làm lụng cho con được đến trường.

Một hôm, bác nhờ tôi chuyển cho cậu con trai một lá thư. Phong bì nhăn nhúm, góc còn dính chút đất khô. Tôi mở ra xem sơ rồi gấp lại, chỉ kịp thấy những dòng chữ nghiêng ngả:

“Con iu thươn của ba. Chìu hum qua ba kêu người báng cong heo để có tiềng gửi cho con. Con nhớ nhà khôn? Cả nhà nhớ con nhìu lắm, cố học nge. Khi nào mùa màn xon, ba má sẽ ra thăm con.”

Chỉ vỏn vẹn mấy dòng, sai chính tả gần hết, nhưng lòng tôi như có gì nghẹn lại. Tôi đưa thư cho cậu học trò, cậu nhận bằng hai tay, mắt đỏ hoe, khẽ nói “Con cám ơn thầy” rồi cúi đầu thật thấp. Hôm ấy, tôi đứng nhìn mãi cái dáng nhỏ bé của em  giữa sân trường, thấy lòng mình lẫn lộn thương yêu và xót xa.

Nhiều năm sau, khi trung tâm Carasa đã đổi tên, tôi tình cờ gặp lại cậu học trò năm ấy. Cậu đã là một kỹ sư, dáng người chững chạc nhưng nụ cười vẫn hiền như xưa. Cậu mời tôi ly cà phê, giữa quán nhỏ nhìn ra hàng me già năm cũ.

Cậu kể, năm đó đậu đại học, nhưng chưa kịp báo tin thì cha mất vì tai nạn trong ruộng. Lá thư mà cha gửi vẫn còn giữ nguyên, giấy đã ố vàng, góc thư vẫn dính một vệt bùn khô.

— “Thầy biết không, mỗi lần con thấy mệt, con lại đọc lá thư ấy. Dù sai chữ, nhưng nó đúng hết những gì con cần — đúng bằng cả tấm lòng của cha.”

Tôi im lặng. Gió ngoài đường vẫn thổi, lá me bay tơi tả. Cà phê nguội dần, trong lòng tôi dâng lên một nỗi nghèn nghẹn khó tả. Hóa ra, thời gian có thể làm mờ bao điều, nhưng có những tình thương vẫn ở lại, nguyên vẹn như thuở đầu.

Giờ đây, mỗi lần đứng trên bục giảng, nhìn những khuôn mặt trẻ trung tươi sáng, tôi vẫn kể cho học trò nghe câu chuyện về “lá thư sai chính tả” ấy. Tôi kể bằng tất cả niềm yêu thương, như một lời nhắc nhỏ:

Có những chữ viết sai, nhưng lại thắm đến tận trái tim người đọc.

Có những người cha không biết viết lời hay, nhưng suốt đời viết nên những trang thương yêu bằng đôi tay chai sạn của mình.

Và giữa bao điều đúng sai của cuộc đời, tôi vẫn tin — tình cha, tình mẹ chính là bài văn đẹp nhất mà ai trong chúng ta cũng đang chép dở.


( Lê Văn Thông )

Đó đây : NĂNG LƯỢNG XANH - St trên mạng.

 


NĂNG LƯỢNG XANH. 

Na Uy đã lắp đặt những tấm gương khổng lồ trên sườn núi để phản chiếu ánh sáng mặt trời xuống những thị trấn không nhận được ánh nắng trực tiếp trong nhiều tháng vào mùa đông. Giải pháp sáng tạo này đã được thực hiện ở Rjukan, một thị trấn nhỏ nằm sâu trong thung lũng Vestfjord ở miền nam Na Uy.

Do được bao quanh bởi những ngọn núi dốc, Rjukan không nhận được ánh nắng mặt trời trực tiếp từ tháng 9 đến tháng 3. Theo CNET, thị trấn này đã lắp đặt ba tấm gương khổng lồ vào năm 2013, mỗi tấm rộng khoảng 183 feet vuông (mỗi cạnh khoảng 4,2m), trên sườn núi gần đó để phản chiếu ánh sáng mặt trời xuống quảng trường thị trấn.

Những tấm gương này được điều khiển từ xa, sử dụng năng lượng mặt trời và gió, và được lập trình để theo dõi đường đi của mặt trời trên bầu trời. Chúng nằm cách thị trấn khoảng 1.476 feet (450m) và xoay trên hai trục để hướng ánh sáng mặt trời xuống thung lũng. Dự án này được lấy cảm hứng từ ý tưởng được đề xuất lần đầu tiên vào năm 1913 bởi người sáng lập thị trấn, Sam Eyde, nhưng chỉ trở nên khả thi với công nghệ hiện đại.

Theo The Hyper Hive, những tấm gương này đã làm thay đổi cuộc sống ở Rjukan, cho phép cư dân tận hưởng ánh sáng tự nhiên trong những tháng tối tăm nhất. Đây là một ví dụ nổi bật về cách kỹ thuật và sự sáng tạo có thể vượt qua những thách thức về địa lý.

SƯU TẦM. 

Tản mạn : LOVE STORY - ... - Lê Văn Thông.7

 



LOVE STORY – Chút mộng ngày xưa .

Khoảng năm 1970, Sài Gòn vẫn còn hiền như một bài hát cũ. Buổi chiều nào cũng có gió thổi qua hàng me, tiếng rao “Ai bánh mì nóng đây!” vang lên len lỏi giữa dòng xe lam lạch cạch. Tôi ngồi trong chiếc xe lam nhỏ, lòng nôn nao như đứa trẻ sắp được đi hội, tay cầm tấm vé xem Love Story ở rạp Rex trên đường Nguyễn Huệ – rạp chiếu phim sang trọng và đông nhất thành phố thuở ấy.

Trước cổng rạp, mùi bắp rang  thơm nức hòa lẫn với tiếng cười nói rộn ràng. Khi đèn trong rạp tắt dần, cả không gian chìm trong một thứ yên lặng rất đẹp. Trên màn ảnh, Oliver Barrett và Jennifer Cavilleri hiện ra, trẻ trung, trong veo như những giấc mơ đầu đời. Tiếng nhạc Where Do I Begin? vang lên, mềm mại và buồn đến nao lòng. Tôi nhớ rõ, khi Jennifer khẽ nói lời cuối, cả rạp lặng đi. Ai đó khẽ sụt sùi, và tôi cũng thấy mắt mình cay xè.

“Yêu là không bao giờ phải nói lời hối tiếc.”

Câu thoại ấy, tôi đã đem theo suốt cả tuổi trẻ. Khi còn trẻ, tôi nghĩ đó là lời nói cho qua trong cơn xúc động. Sau này, khi đã đi qua đủ vui buồn, mới hiểu: thật lòng yêu ai, thì dù chia tay, cũng chẳng có gì để hối tiếc – chỉ còn lại một khoảng nhớ dịu dàng trong tim.

Giờ đây, rạp Rex của năm ấy đã không còn. Con đường Nguyễn Huệ đã khoác lên mình ánh đèn rực rỡ, dòng người tấp nập đi qua, chẳng ai còn nhớ nơi đó từng là chốn thanh xuân của bao trái tim mộng mơ. Nhưng trong ký ức tôi, vẫn còn nguyên hình ảnh buổi chiều Sài Gòn xưa: mùi cà phê sữa từ quán góc phố, tiếng rao bánh bò bông, tiếng xe lam xình xịch chạy ngang qua, và một cậu trai trẻ đang ngồi trong rạp tối, lặng lẽ rơi nước mắt cho một mối tình trên phim.

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua. Ryan O’Neal và Ali MacGraw – đôi tình nhân của màn bạc – nay đã ngoài bảy mươi. Còn tôi, mỗi lần giai điệu Love Story bất chợt vang lên, lòng lại khẽ se lại. Vẫn thấy mình ngồi nơi hàng ghế cuối rạp, bên cạnh những khuôn mặt tuổi đôi mươi bâng khuâng, giữa ánh đèn vàng nhạt và hơi lạnh của máy lạnh xưa.

Thanh xuân, rốt cuộc cũng như một cuốn phim cũ. Có thể phai màu theo năm tháng, nhưng chỉ cần một bản nhạc, một câu thoại, hay mùi bắp rang thoảng qua... là tất cả lại sống dậy, nguyên vẹn như chưa từng mất đi.

Và tôi mỉm cười – vì có lẽ, ký ức đẹp nhất trong đời, chính là những điều ta đã từng khóc vì nó.

(Lê Văn Thông)

Tản mạn : MIỀN TÂY - Định Đức Đoàn.

 



MIỀN TÂY. 

Miền Tây – nơi tôi cúi đầu thương mến

Tôi là người miền Bắc.

Sinh ra giữa đồng bằng sông Hồng, lớn lên cùng ruộng lúa, sông Đáy, tiếng ếch kêu đêm mưa - Quê Tôi Ninh Bình.

Tôi cứ nghĩ chỉ quê tôi mới hiền, mới thật, mới chịu thương chịu khó… cho đến một ngày, tôi vào Miền Tây.

Miền Tây không ồn ào như người ta kể.

Nó hiền đến mức… khiến người ta tự thấy mình thô.

Con người nơi ấy nói năng nhỏ nhẹ, thương nhau bằng chén cơm, bằng nụ cười, bằng trái dừa hái sau nhà đem tặng.

Có lần tôi ghé chợ nổi Cái Răng, được người ta mời ly cà phê đen, không đường, nhưng uống xong thấy ngọt.

Ngọt từ ánh mắt, từ tiếng “nghẹn” của cô bán hàng:

“Uống đi anh, sáng nay nước lên, ghe trôi xa, mai hổng gặp đâu nghen…”

Bữa đó, trời sông Hậu đổ mưa.

Tôi ngồi nép dưới mái lá, ăn tô bún nước lèo nóng hổi, nghe mùi sả, mùi mắm, mùi quê hương len vào từng hơi thở.

Mới hiểu, quê không chỉ có ở nơi mình sinh ra, mà còn ở nơi người ta thương mình như má thương con.

Miền Tây dạy tôi biết cười, biết chậm lại, biết rằng đôi khi hạnh phúc chỉ là chén canh chua nấu vội, là miếng cá kho tộ chan cơm trắng giữa tiếng mưa rơi.

Dạy tôi hiểu rằng, người miền Nam không cần nói đạo lý — họ sống đạo lý bằng cách sống thật, thương thật.

Giờ, mỗi khi nghe tiếng ai đó cười “dzìa đi, Nhậu Ní ơi .."

tôi lại thấy lòng mình như có dòng sông chảy qua.

Một dòng sông mang theo tiếng hò, mùi lúa mới, vị mắm kho, và tình người Nam Bộ.

Người miền Bắc như tôi, nợ miền Tây một lời cảm ơn — vì ở nơi đó, tôi thấy Việt Nam mình hiền nhất, thật nhất, và đáng yêu nhất.

ĐỊNH ĐỨC ĐOÀN (FB) 

Suy ngẫm : GIÁ TRỊ TRÍ TUỆ - St trên FB.

 



GIÁ TRỊ TRÍ TUỆ. 

Một bác sĩ Do Thái, không thể tìm được việc làm tại các bệnh viện Mỹ, đã quyết định mở phòng khám tư nhân nhỏ của riêng mình.

Bên ngoài, anh ta đã đăng một tấm biển:

 “Hãy chữa trị với giá 20 đô la — và nếu chúng tôi không thể chữa trị cho bạn, chúng tôi sẽ trả lại bạn 100 đô la. ”

Một ngày nào đó, một luật sư Mỹ nghĩ rằng anh ta đã tìm thấy một lỗ hổng hoàn hảo để kiếm một số tiền dễ dàng. Anh ấy bước vào.

Luật sư: “Bác sĩ, tôi đã mất cảm giác về vị giác của mình. ”

 Bác sĩ: “Y tá, mang thuốc từ hộp #22. Cho ba giọt vào miệng anh ta. ”

 Luật sư (nhổ): “Ugh! Đó là dầu lửa! ”

 Bác sĩ: “Chúc mừng, vị giác của bạn đã trở lại. Đó sẽ là $20. ”

Bực mình, luật sư trả tiền... nhưng anh ấy vẫn chưa xong. Vài ngày sau, anh ấy đã trở lại.

Luật sư: “Bác sĩ, tôi đã mất trí nhớ của mình. Tôi không thể nhớ bất cứ điều gì. ”

 Bác sĩ: “Y tá, mang thuốc từ hộp #22. Làm ơn cho ba giọt. ”

Luật sư (hét): “Đó là dầu lửa! Lần trước bạn đã tặng tôi! ”

 Bác sĩ: “Tuyệt vời — trí nhớ của bạn đã trở lại. Đó sẽ là $20. ”

Phẫn nộ, luật sư lại giao tiền, nhưng về lần cuối, quyết thắng.

Luật sư: “Bác sĩ, thị lực của tôi đang suy giảm. Tôi khó mà nhìn thấy. ”

 Bác sĩ: “Tôi xin lỗi, chúng tôi không có thuốc chữa điều đó. Đây, hãy nhận tiền hoàn lại $100 của bạn. ”

 Luật sư (nheo mắt): “Đợi đã... Đây là $20, không phải $100! ”

 Bác sĩ: “Tuyệt vời! Thị lực của bạn đã được phục hồi. Đó sẽ là $20. ”

Cái lý của câu chuyện?

Đôi khi, trí thông minh đánh bại sự xảo quyệt - và trí tuệ là sự bảo vệ tốt nhất.

SƯU TẦM.