Thứ Ba, 30 tháng 6, 2026

Cuộc sống : CON HẠNH PHÚC LẮM! - St trên FB.

 




CON HẠNH PHÚC LẮM! 

Một hôm đang trên đường đi làm về nhà, chuông điện thoại bỗng reo lên. Anh vừa bấm máy trả lời thì nghe giọng của một cô bé thều thào từ đầu dây bên kia: 

- Ba ơi! Ba nhanh về nhà nhé, con nhớ ba lắm!

Anh biết là ai đó đã gọi nhầm số, vì anh không có con gái mà chỉ có một cậu con trai mới vừa 6 tuổi. 

Chuyện này cũng không có gì lạ nên anh trả lời:

- Gọi nhầm số rồi nhé.

Thế nhưng số điện thoại kia vẫn tiếp tục gọi đến, anh bắt đầu cảm thấy phiền phức. Anh quyết định không nghe máy. Điều khiến anh ngạc nhiên là trong khi anh kiên quyết không trả lời thì số điện thoại kia vẫn kiên trì gọi cho bằng được. Cuối cùng, anh nghe máy. Vẫn là giọng nói yếu ớt của một cô bé:

- Ba ơi! Ba nhanh về nhé, con nhớ ba lắm. Mẹ nói con không gọi nhầm số đâu, chính là số điện thoại của ba đấy. Ba ơi, con đau lắm. Mẹ nói ba rất bận nên chỉ có mình mẹ chăm sóc con. Ba ơi, con biết ba đi làm vất vả, nếu ba không về với con được thì ba hôn con qua điện thoại một lần được không ba?

Yêu cầu ngây thơ của cô bé khiến anh không có cách nào từ chối. Anh đồng ý và anh hôn cô bé qua máy. Có tiếng nói đứt quãng của cô bé qua điện thoại:

- Con…cảm ơn…ba, con…vui…lắm, con…hạnh…phúc…lắm...ba ơi...

Mấy hôm sau, số điện thoại của cô bé lại gọi… nhưng người gọi lần này không phải cô bé mà là giọng nói nặng trĩu của một người phụ nữ:

- Xin lỗi ông! Mấy ngày hôm nay thật làm phiền ông nhiều, tôi thực sự xin lỗi! Tôi đợi lo xong mọi chuyện cho cháu rồi mới gọi điện lại xin lỗi ông sau. Con bé mà mấy lần trước gọi điện cho ông là con gái tôi, số nó khổ lắm, mới sinh ra đã mắc bệnh ung thư xương. Ba cháu cũng vừa qua đời trong một vụ tai nạn giao thông. Tôi không dám cho con biết tin buồn này vì hàng ngày cháu đã phải chịu sự dày vò đau đớn của các đợt điều trị hóa chất. Mỗi lần không chịu đựng được sự đau đớn đó, miệng cháu cứ gọi ba không ngừng bởi anh ấy luôn động viên cháu phải mạnh mẽ vượt qua. Tôi thực sự không nỡ chứng kiến cảnh cháu như thế nên liều nghĩ ra một số điện thoại để nói dối nó.

Nghe thế, anh vội vàng hỏi người phụ nữ:

- Vậy cháu bé bây giờ ra sao rồi?

Người phụ nữ kia trả lời:

- cháu đi rồi ông ạ! Cháu khoe đã được ông hôn... và cháu ra đi với nụ cười mãn nguyện. Trước khi đi, tay cháu còn ôm chặt cái điện thoại vào lòng.

Nghe xong, anh sững người không biết nói gì nữa.

ST TRÊN FB. 

Thơ : TÔI VỀ ĐỐT ĐUỐC... - Văn Châu.

 



TÔI VỀ ĐỐT ĐUỐC SOI NHÂN THẾ


Tôi về đốt đuốc soi nhân thế

Thấy đời còn lắm nỗi tang thương.

Hỏi sao không buốt lòng đau quặn

- Vì ai gây tạo nỗi đoạn trường?


Tôi về đốt đuốc soi nhân thế

Điểm mặt từng tên: lũ bội tình

Hỡi anh, hỡi chị- Sao có thể

Cứ vui mừng làm người cúi xin? (*)


Tôi về đốt đuốc soi nhân thế

Chợt hiểu vì sao Mẹ vẫn buồn

Chinh chiến tan rồi; im tiếng súng

- Mà sao đời Mẹ mãi tang thương?


Tôi về đốt đuốc soi nhân thế

Nghẹn lòng, ứa lệ trước em thơ

Chén cơm khoai sắn chưa đầy bụng

Trường lớp còn xa tận tít mờ.


Tôi về đốt đuốc soi nhân thế

Nghe tiếng kêu than dậy đất trời

Núi - rừng - sông - biển hờn ai oán

Mỗi ngày biền biệt mỗi tin vui.


Tôi về đốt đuốc soi nhân thế

Soi thử lòng mình rõ trắng đen?

Đêm đêm nhìn bóng mình trên vách

Như Đạt-Ma diện bích tọa thiền.


Cũng may! tóc bạc, lòng chưa bạc

Vẫn còn đau theo vận nước non.


VĂN CHÂU.


____________________________


(*) Ý nhạc của Trịnh Công Sơn

https://www.youtube.com/watch?v=kU_L96WxWLg

Thơ : HAI NHÀ - Kiên Duyên.

 



HAI NHÀ 


Thuở ấy nhà em với nhà tôi 

Cách nhau có mỗi dậu mùng tơi 

Em thường phơi áo bằng dây chuối 

Ngan ngát hương tơ một khoảng trời 


Trò chơi ngày ấy, em nhớ không 

Bắt vài chú dế ở ven sông 

Tôi làm chú rể nghèo xơ xác 

Em giả cô dâu nép bên chồng

 

Hai đứa nhìn nhau chẳng nói chi

Gặp mà lúng liếng, đứa quay đi 

Đứa cầm mảnh ngói lia xuống ruộng 

Mặc lúa đang xuân, lúa xuân thì 


Thế rồi em lớn, chũm trái cau 

Biết mang áo ngực có khuy sau

Biết soi tóc rối trong bể nước 

Có kẻ lăm le đặt cơi trầu 


Tôi thì cứ ngô ngố , lơ ngơ 

Thích nhưng chẳng dám ngỏ nàng thơ 

Đêm đêm ngấp nghển sau dàn mướp 

Sợ ngõ nhà em, có kẻ chờ 


Rồi điều lo lắng ấy xảy ra

Họ sang dạm ngõ chiều hôm qua 

Em quên tôi với ngày thơ dại 

Quên cả trò chơi ...đám cưới gà


Bây giờ dậu vắng , gió thênh thênh 

Có con bướm trắng đậu lênh chênh 

Hồn tôi cũng kém chi đâu bướm 

Có cả mùa đông lém qua mình 


Mẹ đã xa rồi, dạo nước lên 

Hai nhà rêu mốc cũng thêm men

Chỉ còn thu chớm , hoa râm bụt 

Cháy đỏ như ai đứng treo đèn...

.....

Kiên Duyên


Thơ : MÙA LY BIỆT - Trần Huiền Ân.

 



MÙA LY BIỆT

(Học thuộc lòng của Trần Huiền Ân

Trích trong Tân Việt Văn lớp Nhứt( lớp 5),Sống Mới xuất bản năm 1967.

Có những bài thơ không chỉ để học thuộc lòng, mà còn để lưu giữ một khoảng trời tuổi thơ. "Mùa Ly Biệt" của nhà thơ Trần Huiền Ân là một bài thơ như thế. Qua hình ảnh những chùm hoa phượng đỏ, tiếng ve ngân vang và sân trường rộn rã những ngày cuối niên học, tác giả đã khắc họa thật dịu dàng khoảnh khắc chia tay giữa thầy, bạn và mái trường thân yêu.

Bài thơ không chỉ gợi lên nỗi bâng khuâng của mùa hè, mà còn gửi gắm niềm tin vào chặng đường mới phía trước. Những lời thơ mộc mạc, trong sáng, gần gũi với tâm hồn trẻ thơ đã khiến biết bao thế hệ học sinh miền Nam  yêu thích và ghi nhớ. Đây cũng là một trong những sáng tác được Trần Huiền Ân viết cho sách giáo khoa tiểu học, góp phần nuôi dưỡng tình yêu mái trường và những tình cảm đẹp trong tuổi học trò. 

Đọc lại "Mùa Ly Biệt" hôm nay, nhiều người như được trở về với tiếng ve đầu hạ, sắc phượng sân trường và những buổi chia tay ngây thơ, trong trẻo của một thời cắp sách đến trường – những ký ức tuy đã xa nhưng vẫn luôn ấm áp trong lòng người.)


MÙA LY BIỆT

Trần Huiền Ân

1.

Tưng bừng, rực rỡ ngoài song cửa,

Ve bắt đầu ca, phượng nở đầy.

Những cánh hoa màu như ánh lửa,

Báo mùa ly biệt đến rồi đây...

2.

Chín tháng vui đùa trong đống sách,

Nghĩ gì giây phút sắp xa nhau?

Ngày mai, thầy bạn cùng xa cách,

Đâu có ngồi chung một chuyến tàu!

Còn một chiều nay vui lãnh thưởng,

Và cùng họp mặt buổi liên hoan.

Ngời lên ánh mắt bao tin tưởng,

Một quãng đời hoa quyết bảo toàn.

Đã hết năm năm trường tiểu học,

Người vào đệ thất cách xa đây.

Kẻ về thôn xóm mơ khoai thóc,

Giúp mẹ cha vun xới, cấy cày.

3.

Ai có hẹn ngày quay gót lại,

Thăm ngôi trường cũ, dãy bàn xưa?

Thì lòng không khỏi buồn tê tái,

Nếu thấy ngoài sân rợp bóng dừa...


(Lê Văn Thông sưu tầm và biên tập)

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2026

Thơ: LỜI TỪ BIỆT TRƯỜNG XƯA - Lê Nguyễn.

 



LỜI TỪ BIỆT TRƯỜNG XƯA 

 (Tâm tình người giáo viên mầm non gửi lại ngôi trường xưa)


Em lưu luyến nhìn lớp học sáng nay,

Rồi sẽ chẳng bao giờ trông thấy nữa!

Bao năm tháng chăm đàn con bé nhỏ,

Nhìn lại đời mình, như một thoáng chiêm bao!


Đã trở thành kỷ niệm thật rồi sao?

Ôi, những sáng nắng hanh, những chiều mưa bão,

Đời đâu chỉ là nỗi lo cơm áo,

Còn là niềm hạnh phúc được yêu thương!


Thôi, vĩnh viễn từ nay em giã biệt mái trường,

Xa, nhớ lắm những nụ cười thơ trẻ,

Những tiếng ê a, cùng lời ru rất nhẹ,

Đưa các con vào giấc ngủ bình yên.


Em trở về, nhưng chẳng thể nào quên,

Những bè bạn một thời chung mái ấm,

Đời giáo viên nghèo, chia nhau khoai sắn,

Vẫn thấy lòng tràn ngập nét tin yêu.


Em trở về, nghe nhớ biết bao nhiêu,

Con đường cũ với hai hàng hoa tím,

Giờ tất cả chỉ còn trong hoài niệm,

Của một thời tuổi trẻ đã qua mau! 


Sài Gòn 6.2026

Lê Nguyễn

Vui cười : TEST THỊ LỰC - St trên FB.


 

Tản mạn : BÔNG HỒNG CÀI ÁO - Lê Văn Thông.

 



BÔNG HỒNG CÀI ÁO

Bông Hồng Cài Áo của Thiền sư Thích Nhất Hạnh . Được viết vào năm 1962, bài tùy bút đã trở thành một trong những áng văn xúc động nhất viết về mẹ và lòng hiếu thảo trong văn học Việt Nam hiện đại.

Bằng giọng văn nhẹ nhàng, chân thành và sâu lắng, Thiền sư không dùng những lời ca ngợi hoa mỹ để nói về mẹ. Ông chỉ kể lại những điều bình dị nhất, những kỷ niệm tưởng như rất đỗi đời thường, nhưng lại chạm đến nơi sâu kín nhất trong trái tim mỗi người. Qua từng dòng chữ, người đọc nhận ra rằng còn mẹ là một hạnh phúc lớn lao, và mất mẹ là nỗi trống vắng không gì bù đắp được.

Trong tác phẩm, Thiền sư kể lại một phong tục đẹp mà ông từng biết đến ở Nhật Bản. Vào Ngày của Mẹ, những ai còn mẹ được cài lên ngực áo một bông hoa màu hồng, còn những người đã mất mẹ sẽ cài một bông hoa màu trắng. Khi được tiếp nhận vào văn hóa Việt Nam, hình ảnh ấy đã trở thành nghi thức Bông hồng cài áo trong mùa lễ Vu Lan – một biểu tượng đẹp của lòng hiếu kính và sự tri ân đối với đấng sinh thành.

Chính từ nguồn cảm hứng của bài tùy bút này, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã sáng tác ca khúc Bông Hồng Cài Áo. Bài hát mang giai điệu mộc mạc, tha thiết và đã đi vào lòng biết bao thế hệ người Việt. Chỉ với vài câu hát ngắn:

«"Một bông hồng cho em,

Một bông hồng cho anh,

Và một bông hồng cho những ai

Đang còn Mẹ..."»

đã đủ gợi lên niềm hạnh phúc của những người còn được mẹ yêu thương, che chở. Đồng thời, đó cũng là lời sẻ chia lặng lẽ dành cho những ai chỉ còn biết cài lên ngực mình một bông hoa trắng để nhớ về mẹ bằng tất cả yêu thương và tiếc nuối.

Thời gian có thể làm phai màu nhiều kỷ niệm, nhưng tình mẹ thì không bao giờ cũ. Mỗi mùa Vu Lan trở về, hình ảnh bông hồng cài trên ngực áo lại nhắc mỗi người biết dừng lại giữa cuộc sống bộn bề để nghĩ về mẹ, để biết nâng niu từng phút giây còn được ở bên mẹ, còn được nghe một lời dặn dò, còn được nắm lấy bàn tay đã vì mình mà nhọc nhằn suốt cả cuộc đời.

Có lẽ, giá trị lớn nhất mà Bông Hồng Cài Áo để lại không chỉ nằm ở vẻ đẹp của văn chương hay âm nhạc, mà còn ở lời nhắc nhở giản dị mà sâu sắc: hãy yêu thương và báo hiếu khi mẹ còn hiện diện, bởi đến một ngày nào đó, điều quý giá nhất trong đời có thể chỉ còn là ký ức và nỗi nhớ.

LÊ VĂN THÔNG. 

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026

Cuộc sống : MỘT CUỘC CHIA TAY - TG Văn Chương.

 



MỘT CUỘC CHIA TAY.

Tôi chỉ cần cho anh ta mượn xe đúng một lần là đủ để hiểu rằng đây không phải là người đàn ông dành cho mình... và đặt dấu chấm hết cho mối tình này.

Tôi năm nay 56 tuổi. Sau khi ly hôn, tôi đã trải qua gần mười năm sống một mình. Tôi nhặt nhạnh từng mảnh vỡ để tự vực dậy bản thân: từ công việc, nhà cửa, bạn bè cho đến những thói quen thường nhật. Một cuộc sống giản dị, nhưng được xây dựng bằng cả sự nỗ lực và tính tự lập. Theo thời gian, tôi gần như không còn tin rằng sẽ có một ai đó bước vào cuộc đời mình và mang lại sự bình yên nữa.

Thế rồi anh xuất hiện.

Anh không phải là người đàn ông của những lời thề non hẹn biển hay những hành động lãng mạn phô trương. Anh chỉ đơn giản là luôn ở đó. Anh gọi điện cho tôi, hỏi han tình hình, nhớ từng chi tiết nhỏ nhặt. Thi thoảng, anh đến chơi với một bông hoa trên tay, chỉ thế thôi. Anh bảo rằng khi ở bên tôi, anh cảm thấy thoải mái và bình yên. Và đó cũng chính là chính xác những gì tôi tìm kiếm: sự tôn trọng, lòng tin và sự tĩnh lặng trong tâm hồn.

Suốt bốn tháng trời, chúng tôi tận hưởng mối quan hệ này một cách thong thả. Mỗi người đều giữ cho mình một khoảng không gian và sự độc lập riêng. Không áp lực, không vội vã chạy đua với thời gian. Tôi có cảm giác đó là cách tốt nhất để xây dựng một điều gì đó chân thành.

Một buổi sáng, anh gọi điện cho tôi.

Xe của anh đang phải để ở gara sửa chữa, trong khi anh lại có việc phải di chuyển cả ngày.

— Em cho anh mượn xe của em được không? Chỉ hôm nay thôi.

Tôi thoáng chút ngần ngại. Chiếc xe này là thành quả từ công sức lao động và biết bao sự chắt chiu của tôi. Nhưng tôi tự nhủ, nếu đã muốn xây dựng một mối quan hệ thì lòng tin phải có chỗ đứng của nó.

Vì vậy, tôi đã trao chìa khóa cho anh.

Buổi tối, anh trở về với dáng vẻ thư thái, mỉm cười. Chúng tôi dành thời gian bên nhau, uống một ly vang và trò chuyện như mọi khi. Trước khi ra về, anh đặt chìa khóa lên kệ tủ.

— Cảm ơn em nhé, em đã cứu bồ anh cú này.

Mọi chuyện dường như hoàn hảo và bình thường.

Sáng hôm sau, tôi bước lên xe để đi chợ mua vài thứ đồ.

Vừa nổ máy, đèn báo cạn nhiên liệu liền bật sáng.

Bình xăng gần như trống rỗng.

Trong khi rõ ràng, tối hôm trước, nó vẫn còn đầy ắp.

Tôi ngồi bất động mất vài giây, rồi bấm máy gọi cho anh.

— Anh có thấy xe gần như hết sạch xăng rồi không?

Câu trả lời của anh đến ngay lập tức, không một chút ngập ngừng:

— Ừ, anh thấy. Thì sao nào? Xe của em thì em tự đi mà đổ đầy chứ.

Chính ngay khoảnh khắc đó, một điều gì đó trong tôi đã vỡ vụn.

Chuyện này hoàn toàn không phải vì tiền bạc.

Càng không phải vì một bình xăng.

Mà là vì cái cách anh ta nói với tôi.

Cái giọng điệu cằn nhằn, bực dọc đó. Cái cách anh ta coi một việc vô lý như vậy là điều hiển nhiên. Như thể sự tôn trọng chỉ là một tiểu tiết không đáng bận tâm. Như thể những gì thuộc về người khác thì không xứng đáng nhận được sự trân trọng hay giữ gìn.

Và đột nhiên, tôi nhìn ra mọi chuyện với một sự tỉnh táo đến kinh ngạc — những điều mà trước đây tôi đã tự lừa dối mình để nhắm mắt làm ngơ.

Là những lần anh ta luôn để người khác trả hóa đơn.

Là những bài đạo lý của anh ta về việc làm "người đàn ông trụ cột trong nhà", nhưng chẳng bao giờ thực sự gánh vác trách nhiệm.

Là tất cả những biểu hiện nhỏ nhặt của thói ích kỷ mà tôi đã vị tha và tìm cớ bào chữa quá nhiều lần.

Ngày hôm sau, tôi thông báo với anh ta rằng tôi không muốn tiếp tục mối quan hệ này nữa.

Anh ta ngã ngửa vì sửng sốt. Anh ta buộc tội tôi là kẻ làm quá mọi chuyện. Anh ta bảo ở độ tuổi của chúng tôi rồi, đột ngột sống bớt phức tạp đi một chút.

Có lẽ anh ta đúng ở một điểm.

Càng có tuổi, người ta lại càng trở nên đơn giản hơn thật.

Bởi vì chúng ta không còn tìm lý do để bao biện nữa.

Chúng ta không còn ngó lơ những dấu hiệu cảnh báo.

Và chúng ta nhận ra ngay lập tức những gì thực sự còn thiếu sót.

Đối với tôi, chưa bao giờ câu chuyện là về một bình xăng đầy.

Mà là về sự tôn trọng.

Về sự tinh tế.

Về sự biết điều.

Tôi đã tự mình lái xe đi đổ đầy bình xăng.

 Khi đang trên đường trở về nhà, nhìn con đường dài thênh thang trước mắt và cảm nhận khoảng không gian tĩnh lặng bên cạnh, tôi chợt thấy một cảm giác mà từ lâu lắm rồi mình chưa được nếm trải: sự bình yên.

Bởi vì có những người bước vào cuộc đời ta là để ở lại, nhưng cũng có những người đi qua chỉ để dạy cho ta một bài học. Và đôi khi, một hành động tưởng chừng như chẳng có gì lại là quá đủ để lột trần bản chất thật của một con người.

Ngày hôm đó, tôi không chỉ từ bỏ một người đàn ông. Tôi đã tìm lại được một thứ còn trân quý hơn thế rất nhiều: sự khẳng định chắc chắn rằng, tôi sẽ không bao giờ chấp nhận bất cứ điều gì thấp hơn những gì mình xứng đáng được nhận.

TG Văn Chương

Hồi ức : CON BÚP BÊ... - Nguyễn Cúc (FB)




 CON BÚP BÊ BIẾT NHẮM MỞ MẮT VÀ NHỮNG VIÊN SÔ CÔ LA KHÔNG BAO GIỜ QUÊN !

   Thập niên 60-70, ba tôi là lính thợ của sân bay Biên Hoà. Nhà có tới 7 đứa con nên cuộc sống vô cùng chật vật. Lo từng bữa ăn hàng ngày đã khó huống chi là chuyện mua sắm đồ chơi cho các con! Là chị em gái liền nhau bốn đứa nên trò chơi cũng giống nhau lắm: trốn tìm, thả diều, nhảy dây, ô ăn quan, chơi trò làm ba má trong một mái nhà tự làm bằng cây lá quanh vườn, nấu ăn với bếp nồi là lon sữa bò, mãnh sành, nặn bằng đất sét...búp bê bằng nhựa cứng thi thoảng cũng có do mấy đứa bạn con nhà khá giả “tặng “khi đã toét mắt, sứt tay, rách áo ...Vậy mà chị em tôi vẫn có một thiên đường tuổi thơ dù cuộc sống không đủ đầy. 

    Dấu ấn đậm nét nhất là con búp bê biết nhắm mở mắt của nước ngoài và những viên sô cô la thơm lừng giống như mùi cà phê ! Đó là món quà giáng sinh của ba nhận được từ đơn vị gửi tặng cho những gia đình có con. Quà tặng này là nước ngoài viện trợ cho đơn vị của ba. Tôi nhớ như in, hình ảnh ba vừa về đến cửa nhà, chúng tôi reo hò vỡ òa niềm vui chạy nhanh đến níu chân ba đòi mở quà liền tay. Lần đầu tiên được ôm trong lòng con búp bê nước ngoài biết nhắm mở mắt, da thịt mềm mịn như người thật, tóc vàng óng ả, mặc chiếc áo đầm sặc sở, vả đôi giầy dễ thương bé xíu ở chân... Tôi mừng hết lớn! Chị em tôi bốn đứa thay phiên nhau ẳm bồng, ru ngủ, chải tóc, may quần áo, thay áo cho em búp bê.... cưng như em ruột của mình. Bên cạnh đó là cảm giác ngây ngất lần đầu khi được thưởng thức hương vị ngọt ngào, thơm phức, béo ngậy sô cô la tan chảy trong miệng ... Lúc đó, tôi cứ ngỡ mình đang ở trong mơ ! Gia đình thường xuyên thiếu thốn nên tôi không bao giờ dám mơ tưởng đến hai món quà tuyệt vời và đắc tiền như vậy. 

   Đó là một lát cắt thời thơ ấu không thể quên mà tôi từng có được. Bao nhiêu năm qua rồi mà cứ ngỡ như mới hôm qua !

NGUYỄN CÚC (FB)

Thơ: NỐT LẶNG VÔ THƯỜNG - Hong Khuu (FB)

 




NỐT LẶNG VÔ THƯỜNG

Gió đi đâu, xin cho ta hỏi nhỏ

Về nơi nào...Tìm đến đó gặp ai?

Có buồn không mà hiu hắt thổi hoài!

Gieo rắc nhớ cho thêm dài đêm vắng


Nhớ gì không bốn mươi năm thầm lặng

Gom ngày xưa ta viết tặng một người

Xin ơn đời trả lại tuổi đôi mươi

Ðể theo gió đi tìm người tri kỷ


Lòng ta đó chút tàn tro âm ỉ

Đêm trở mình nghe mộng mị về ngang

Giữa tàn khuya ngơ ngẩn một cung đàn

Buông nốt lặng để lỡ làng ước vọng


Gió có biết ta còn hoài trông ngóng

Giữa nhân gian mà lạc bóng một người

Bốn mươi năm như giấc mộng rã rời

Có ai đó thoáng qua đời, xa khuất...


Nếu gặp lại xin người đừng ngoảnh mặt

Ta còn đây quay quắt một lời thương

Gió bay xa đi về phía vô thường

Mang giùm nhé chút vấn vương ngày cũ

HONG KHUU.

(23/06/2026)

Hồi ức : MỘT THỜI BỊ ĐÓI - Giáo Thứ (FB)

 



MỘT THỜI BỊ ĐÓI 

(hay là câu chuyện ăn mày :

Đang trưa ăn mày vào chùa 

Sư đem cho một lá bùa rồi đi 

Lá bùa chẳng biết làm chi 

Ăn mày bỏ túi lại đi ăn mày ).

Thế hệ chúng tôi không ai không trải qua những tháng ngày bị đói .

Cái đói hành hạ ngày này sang ngày khác, đêm nọ nối đêm kia.

Nó kéo con người đến sát mặt đất làm cho giấc mơ của người ta cũng trở nên ti tiện, tầm thường: ước gì có được bữa cơm no.

Người ta được nhà nước bán cho đủ thứ thay thế gạo để cho vào dạ dày : khoai tây, khoai lang, ngô, sắn, bột mì mốc, cao lương …nhưng sợ nhất vẫn là bo bo. Bo bo nhắc lại chuyện cũ mà vẫn còn rùng mình: cái thứ đầu vào thế nào đầu ra cũng gần y nguyên như thế. Nỗi sợ kinh hoàng nhất là mất sổ gạo. Có câu thành ngữ trong dân :

Mặt nghệt như mất sổ gạo.

Mất sổ gạo đó thực sự là một thảm họa.

Cái “nghèo” sinh ra “cái hèn”: Cái đói gặm nhấm mất lương tri và những điểm sáng còn sót lại của con người .

Đấy là cuối năm 1978, cứ đêm đêm mấy đứa bọn tôi rình mò xuống khu nhà bếp của đơn vị dùng cái que sắt khều cơm cháy đã ngấm nước gạo ( thứ  dùng để nuôi lợn ).

Nhưng kế ấy cũng chẳng đc bao lâu bọn tôi bị tay Khang béo anh nuôi phát hiện. Thế là báo động toàn đơn vị.

Vì đói quá nên người ta phải tìm mọi cách để tăng thêm thu nhập.

Buôn thuốc lá từ Bắc ninh về , sang Bình đà lấy pháo, ngược Thái nguyên buôn chè mạn… muôn kế mưu sinh nhưng rầm rộ nhất vẫn là phong trào nuôi lợn.

Hồi còn đi học đại học khu tập thể trường Kinh tế quốc dân khu dành cho giáo viên còn có chức năng phụ nữa là nuôi lợn.

Mỗi lần lên nhà thầy tôi- thầy Chỉ dạy giải tích ở tầng 4 nhà i8 là thấy lợn kêu ủn ỉn và mùi phân lợn nồng nặc.

Cho nên câu chuyện về giáo sư Văn Như Cương được người ta tương truyền tôi e là có thật.

Người ta kể câu chuyện giáo sư nuôi lợn ở khu tập thể nó gây ô nhiễm môi trường sống . Tổ dân phố hay trưởng khoa gì đó đến nhà lập biên bản: Giáo sư nuôi lợn, ông nhất trí hoàn toàn và chỉ xin thay đổi một chữ là : Lợn nuôi Văn Như Cương .

Lại có một câu chuyện hầu như sinh viên nào thời ấy cũng biết.

Có một kỹ sư kiến trúc thiết kế ngôi nhà ba tầng nhưng không tầng nào có khu vệ sinh.

Mọi người thắc mắc tại sao ,anh ta giải thích:

Tầng một dành cho các cháu mẫu giáo vì các cháu ị vào bô.

Tầng hai cho sinh viên ở vì đói bụng quanh năm nên không cần đi ị.

Tầng ba để dành cho các nhà văn nhà báo vì họ có thói quen hay ị vào mồm nhau.

Ôi ! Một thời bị đói. 

Cũng thời ấy chúng ta no nê bánh vẽ .


Lại nhớ nhà thơ Đồng Đức Bốn và nhà thơ Phạm Xuân Trường, hai nhà thơ thành danh quê đất cảng Hải Phòng:

“Mải mê đuổi một con diều 

Củ khoai nướng cả buổi chiều thành tro.”


“ Bố hoang phí một đời trai 

Đuổi theo những thứ ở ngoài tầm tay 

Bảo rằng ớt ngọt chuối cay 

Giữa đêm người bảo ban ngày cũng tin”.

GIÁO THỨ (FB)

( bài đăng lại).

Cuộc sống : CON CHÓ NHỎ VÀ... - Lê Văn Thông.




 CON CHÓ NHỎ VÀ CẬU BÉ.

Có những lúc, giữa dòng đời hối hả, lòng nhân ái không hiện ra bằng những điều lớn lao. Nó chỉ là một khoảnh khắc rất nhỏ thôi, nhưng đủ làm người ta nhớ mãi.

Chiều hôm đó, trời Sài Gòn đang nắng bỗng đổ mưa ào xuống. Đường về phía cầu đông nghịt xe cộ. Giữa dòng người vội vã ấy, tôi nhìn thấy một thằng bé ngồi sau xe máy, hai tay ôm chặt một con chó nhỏ vào lòng.

Con chó chắc đang bệnh nên được chở đi thú y. Nó run lên vì lạnh và sợ. Còn thằng bé thì luống cuống quay qua quay lại nhìn trời mưa mỗi lúc một nặng hạt. Rồi bất ngờ, nó tháo chiếc nón bảo hiểm mình đang đội xuống, nghiêng qua che cho con chó. Cả người nó ướt hết, còn con vật nhỏ thì được ôm sát vào ngực như một đứa em bé.

Khoảnh khắc đó diễn ra rất nhanh.

Người cha chạy xe phía trước có lẽ không hề biết.

Chỉ có thằng bé, con chó và tôi — người chạy xe bên cạnh — nhìn thấy.

Tự nhiên tôi thấy lòng mình lắng lại giữa cơn mưa Sài Gòn bắt chợt.

Người ta vẫn thường nói về lòng nhân ái như điều gì cao xa lắm. Nhưng thật ra, lòng nhân ái bắt đầu từ những điều rất nhỏ: biết cúi xuống trước nỗi đau của một sinh linh khác, biết thương một con vật yếu ớt.

Tôi nhớ có người từng hỏi vì sao tôi không ăn thịt chó.

Không phải vì thói quen hay sở thích.

Chỉ là tôi luôn sợ mình ăn nhầm một con chó đã giữ nhà cho ai đó suốt nửa đời người. Sợ ăn nhầm người bạn thân của một đứa trẻ. Sợ ăn nhầm một con chó nghiệp vụ từng cứu mạng con người, hay là con chó là “đôi mắt” của một người mù nào đó.

Và hơn hết… đơn giản vì tôi thương chúng.

Loài vật không biết nói tiếng người, nhưng chúng biết đau, biết nhớ, biết vui mừng khi gặp lại chủ và biết buồn khi bị bỏ rơi. Có khi, thứ tình cảm chúng dành cho con người còn chân thành hơn cả  con người dành cho nhau.

Càng đi qua nhiều năm tháng, tôi càng tin rằng cách một người đối xử với loài vật cũng là cách họ giữ gìn phần dịu dàng trong tâm hồn mình. Vì một trái tim biết rung động trước nỗi đau của một con vật nhỏ giữa cơn mưa, rồi mai này cũng sẽ biết yêu thương con người bằng một tấm lòng nhân ái.

Và biết đâu, giữa một thế giới ngày càng vội vã, chính lòng thương dành cho những sinh linh bé nhỏ lại là điều cuối cùng giúp con người còn giữ được phần người đẹp nhất trong mình.

(Lê Văn Thông, ảnh trên internet)

Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2026

Hương xưa : LỜI THỀ... - Hiep Phan.

 



LỜI THỀ HIPPOCRATES


Niên khóa 1969-1970, tôi học lớp 5 tại Trường Tiểu học Nguyễn Du, Biên Hòa.

Nhà tôi ở trên đường Trịnh Hoài Đức, không xa trường lắm, nên hằng ngày tôi đều đi bộ đến trường. Trên đường đi học, tôi thường đi ngang qua Bệnh viện Bác sĩ Phạm Hữu Chí. Sát bên bệnh viện là một tòa nhà hai tầng, phía trên có tấm bảng lớn ghi tên: Trường Tá viên Điều dưỡng Biên Hòa. Đây là nơi đào tạo điều dưỡng cho Bệnh viện Phạm Hữu Chí và các nơi khác trong tỉnh.

Một ngày nọ, sau khi tan buổi học sáng, tôi đi bộ về nhà. Khi đi ngang cổng Trường Tá viên Điều dưỡng, tôi thấy rất đông người đứng ngoài hành lang, dõi mắt nhìn về phía hội trường. Vì tò mò, tôi ôm cặp đi vào hành lang và nhìn vào bên trong.

Tôi rất ngạc nhiên khi thấy các cô chú học viên của trường mặc đồng phục áo blouse trắng, đội nón trắng. Mỗi người cầm trên tay một cây đèn cầy trắng đang cháy, đứng nghiêm trang hướng về một vị bác sĩ và đồng thanh đọc những lời gì đó mà lúc ấy tôi không hiểu.

Về nhà, tôi hỏi mẹ tôi và được bà giải thích: "Đó là các cô chú đang đọc lời thề Hippocrates. Đây là lời thề thiêng liêng của ngành y. Các cô chú ấy là những điều dưỡng đã hoàn tất khóa đào tạo và đọc lời thề trước khi chính thức bước vào nghề. Lời thề Hippocrates nhắc họ về trách nhiệm và đạo đức khi hành nghề sau này. Còn việc các cô chú cầm đèn cầy trên tay là tượng trưng cho ánh sáng của trí tuệ, của kiến thức và lòng từ bi khi chăm sóc bệnh nhân."

Sau này, khi tìm hiểu thêm, tôi được biết Bệnh viện Phạm Hữu Chí là một bệnh viện công lớn của tỉnh Biên Hòa. Đây là nơi bất kỳ bệnh nhân nào cũng có thể được tiếp nhận, chăm sóc và điều trị y tế vô điều kiện, hoàn toàn miễn phí, với cung cách phục vụ niềm nở, tôn trọng và ân cần của các bác sĩ cùng nhân viên y tế. Họ không hề hách dịch, cũng không gợi ý vòi tiền hay quà cáp từ người bệnh.

Có một lần, mẹ đưa tôi vào bệnh viện này để mổ vết thương ở lòng bàn chân do đạp phải gai nhọn. Tôi còn nhớ hôm ấy là phiên trực của bác điều dưỡng tên Hiếu. Bác vui vẻ, ôn tồn an ủi tôi hãy yên tâm, bác sẽ làm nhẹ nhàng, bảo đảm tôi sẽ hết đau và sớm đi lại bình thường. Các cô chú nhân viên cùng làm việc với bác tại phòng ngoại khoa cũng rất ân cần với bệnh nhân.

Tôi để ý, trong bệnh viện không thấy treo bất kỳ khẩu hiệu "Lương y như từ mẫu" nào cả. Nhưng cách phục vụ ân cần, tử tế của nhân viên nơi đây làm cho người bệnh cảm thấy ấm áp và gần gũi như trong gia đình.

Những năm đầu thập niên 1970, bóng dáng chiến tranh đã dần chạm tới Biên Hòa. Tỉnh lỵ nhỏ bé của tôi bị pháo kích triền miên. Một vài lần, tôi theo mẹ vào bệnh viện để khám bệnh. Tôi thấy không ít người dân bị thương tích bởi bom đạn. Phòng cấp cứu lúc nào cũng đông bệnh nhân, các bác sĩ và điều dưỡng luôn tất bật với công việc.

Nhưng khi để ý quan sát, tôi thấy thái độ của họ rất ân cần. Họ dùng lời nói dịu dàng, nhỏ nhẹ để an ủi và giải thích cho bệnh nhân. Tuyệt nhiên không có tình trạng thờ ơ, hách dịch hay gắt gỏng với người bệnh.

Ngày ấy, Bệnh viện Phạm Hữu Chí cũng có nhiều bác sĩ và điều dưỡng người Úc đến cùng điều trị, chăm sóc bệnh nhân. Họ cũng rất tận tụy với người bệnh. Một lần, tôi trực tiếp chứng kiến một cô điều dưỡng người Úc thay băng cho một ông cụ bị phỏng nặng, toàn thân co rút, vết thương lở loét. Ông cụ la hét đau đớn. Cô điều dưỡng ấy vẫn dịu dàng an ủi và chăm sóc ông tận tình, chu đáo như người thân.

Sau năm 1975, tôi quen biết một anh điều dưỡng làm việc trong phòng cấp cứu của một bệnh viện lớn tại Biên Hòa. Được biết, anh cũng là cựu học viên Trường Tá viên Điều dưỡng của Bệnh viện Phạm Hữu Chí.

Những năm đầu thập niên 1980, cả nước gặp nhiều khó khăn do bị quốc tế cấm vận. Thuốc men, trang thiết bị và dụng cụ y tế thiếu thốn trầm trọng. Tuy nhiên, số lượng bệnh nhân hằng ngày vẫn không hề suy giảm. Trong điều kiện thiếu thốn mọi thứ, anh bạn tôi cùng các đồng nghiệp luôn trăn trở tìm cách tận dụng và cải tiến những dụng cụ y tế sẵn có để phục vụ bệnh nhân tốt nhất.

Ngày ấy, kim chích không dùng một lần như hiện nay, mà được đun sôi hoặc hấp tiệt trùng để tái sử dụng nhiều lần. Khi có những giây phút rảnh hiếm hoi trong phiên trực, anh chăm chỉ mài số kim chích cũ cho sắc hơn, để bệnh nhân bớt đau đớn khi tiêm thuốc.

Ngoài giờ làm việc, anh nghiên cứu tài liệu và rảo quanh các chợ trời tìm phụ tùng, với hy vọng sửa chữa, phục hồi chiếc máy hút đàm bị hư. Vì thiếu chiếc máy này, nhiều bệnh nhân cấp cứu đã không qua khỏi cơn nguy kịch khi cần máy trợ giúp.

Có lần, một bệnh nhân bị phỏng nặng hai chân. Vết thương đã hoại tử và bốc mùi hôi thối. Nhiều nhân viên buồn nôn và bỏ cuộc khi phải chăm sóc bệnh nhân này. Trước tình hình ấy, anh cùng một cô điều dưỡng trẻ đã không ngại khó khăn, kiên nhẫn bóc tách, loại bỏ từng phần thịt bị hoại tử, bôi thuốc và băng bó vết thương cho bệnh nhân. Một thời gian sau, vết thương của người bệnh khô da và lành hẳn.

Có người hỏi anh: "Bộ anh chị không sợ hôi thối và gớm ghiếc khi trực tiếp chăm sóc vết thương kinh khủng như vậy sao?"

Anh vui vẻ trả lời: "Có sợ chứ, nhưng phải cố gắng thôi. Nếu mình sợ, hoặc tỏ ra gớm ghiếc, xa lánh, rồi làm sơ sài, thì sẽ làm cho người bệnh thêm buồn tủi, có khi còn nguy hiểm đến tính mạng. Họ đã đau đớn về thân xác lắm rồi, đâu thể đành lòng để họ bị tổn thương thêm về tinh thần nữa."

Đối với một vài người làm trong ngành y mà tôi từng biết, họ luôn xem người bệnh như người thân. Họ hết lòng chăm sóc bệnh nhân bằng tinh thần trách nhiệm, lòng trắc ẩn và sự chia sẻ không điều kiện, như lời họ đã từng hứa khi đọc lời thề Hippocrates trước khi chính thức dấn thân vào nghề nghiệp cao quý cứu người này.

Thỉnh thoảng, trong thực tế đời thường, tôi vẫn thấy không hiếm sự hiện diện của những thiên thần áo trắng như vậy. Họ có mặt để xoa dịu nỗi đau đớn vì tật bệnh của những bệnh nhân khốn khổ.

Nhờ có lời thề Hippocrates, đạo đức nghề nghiệp trong ngành y, tình người và lòng nhân ái đâu đó vẫn còn hiện hữu, vẫn còn tỏa sáng, chứ không hề mai một đi.

Bài của HIEP PHAN gửi chuyenxua đăng

Cuộc sống : HƯƠNG THỜI GIAN - St trên FB.

 


HƯƠNG THỜI GIAN. 

Ở nhiều vùng quê tại Pháp, vẫn có những chiếc xe bán bánh mì rong lặng lẽ chạy qua từng ngôi làng nhỏ mỗi sáng.

Chỉ là tiếng động cơ quen thuộc, mùi bánh mì nóng mới ra lò… và vài cụ già đã đứng chờ sẵn bên đường.

Trong thời đại mà mọi thứ đều được tối ưu bằng tốc độ và công nghệ, những chiếc “mobile bakery” ấy lại tồn tại vì một lý do rất con người:

có những nơi mà thứ người ta cần nhất không chỉ là thực phẩm — mà là cảm giác mình chưa bị thế giới bỏ quên.

Ở nhiều vùng nông thôn châu Âu, các cửa hàng nhỏ dần biến mất. Người trẻ chuyển lên thành phố. Dân cư thưa hơn. Những tiệm bánh truyền thống không còn đủ khách để duy trì một mặt bằng cố định.

Nhưng người già thì vẫn ở lại.

Và với họ, việc lái xe hàng chục cây số chỉ để mua một ổ bánh mì không phải chuyện đơn giản.

Thế là những tiệm bánh bắt đầu đặt cả cửa hàng của mình lên bánh xe.

Mỗi ngày, họ đi theo một lộ trình cố định xuyên qua các ngôi làng. Trên xe có baguette, bánh sừng bò, bánh ngọt, vài món nhu yếu phẩm nhỏ… nhưng thứ họ mang theo thực ra còn nhiều hơn thế.

Họ mang theo nhịp sống.

Người dân biết chính xác chiếc xe sẽ đến lúc nào.

Một vài cụ ông bước ra chỉ để mua nửa ổ bánh và hỏi thăm vài câu.

Một cụ bà sống một mình có thể cả ngày không nói chuyện với ai — ngoại trừ lúc chiếc xe bánh ghé qua.

Đó không còn là “dịch vụ giao hàng”.

Nó giống một dạng kết nối xã hội cuối cùng còn sót lại trong nhiều cộng đồng nhỏ.

Điều đẹp nhất là:

mô hình này không cố chống lại hiện đại hóa bằng sự hoài niệm cực đoan. Nó thích nghi.

Tiệm bánh không biến mất.

Nó thay đổi hình dạng để tiếp tục tồn tại.

Một chiếc xe tải nhỏ len qua những con đường quê hẹp ở Pháp đã chứng minh một điều rất đơn giản:

văn minh không nằm ở việc mọi thứ trở nên nhanh hơn,

mà nằm ở việc xã hội vẫn đủ tử tế để không bỏ rơi những người chậm hơn.

Có lẽ vì thế mà ở Pháp, bánh mì chưa bao giờ chỉ là thức ăn.

Nó là thói quen.

Là phẩm giá đời sống thường nhật.

Là cảm giác thuộc về một cộng đồng.

Và đôi khi, giữ cho một ngôi làng còn “sống” không cần những dự án hàng triệu euro.

Chỉ cần một con đường quen thuộc,

một chiếc xe nhỏ,

và mùi bánh mì nóng mỗi sáng. /.

SƯU TẦM TRÊN FB. 

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2026

Cười chút : CON KẸT ! - St trên FB

 

CON KẸT !



Đó đây : Ý CHÍ SINH TỒN - St trên FB.

  



Ý CHÍ SINH TỒN. 

Họ đã ném chú chó xuống Đại Tây Dương trong màn đêm… tin rằng biển cả sẽ kết thúc mạng sống của em.

Giữa làn nước lạnh buốt ngoài khơi Maine, một chú chó Labrador đen nhỏ bé đã bị bỏ mặc giữa sóng dữ. Không ai nghĩ em có thể sống sót.  

Nhưng suốt gần 11 tiếng đồng hồ giữa biển đêm, em vẫn chiến đấu để tồn tại. 

Khi bình minh vừa ló dạng, một ngư dân đánh tôm hùm tên Daniel Mercer phát hiện một thứ đang trôi nổi giữa màn sương dày đặc. Ban đầu ông nghĩ đó chỉ là mảnh gỗ vỡ sau cơn bão.  

Rồi “mảnh gỗ” ấy cử động. 

Đó là một chú chó đang kiệt sức giữa đại dương lạnh giá.  

Bộ lông đen của em ướt sũng, cơ thể run lên từng cơn vì hạ thân nhiệt. Em không còn đủ sức để bơi nữa…  

Điều duy nhất giữ em sống sót là một mảnh ván gỗ trôi dạt giữa biển. 

Nhưng em không nằm trên đó.  

Em đang cắn chặt lấy nó.  

Hàm răng của em ghim sâu vào tấm gỗ đến mức khi Daniel cố cứu, ông nhận ra em hoàn toàn không thể buông ra được nữa.  

Cơ hàm của em đã cứng lại vì sợ hãi, đau đớn và bản năng sinh tồn. Nếu cố kéo ra, hàm của em có thể sẽ vỡ nát. 

Người ngư dân già đã đứng lặng giữa boong tàu. Sau đó ông lấy cưa… cắt luôn phần gỗ mà chú chó đang cắn chặt để đưa cả em và tấm ván lên thuyền. 

Ngay cả khi được cứu, chú chó ấy vẫn không buông mảnh gỗ ra.  

Các bác sĩ thú y sau đó phải gây mê mới có thể tách hàm em khỏi tấm ván trôi. Họ phát hiện em bị tổn thương phổi do nước biển, hạ thân nhiệt nghiêm trọng, rách nướu, gãy răng, tổn thương thần kinh ở chân sau và hơn 20 mảnh gỗ đâm sâu vào bàn chân. 

Nhưng điều khiến tất cả mọi người kinh ngạc nhất là:  

Em đáng lẽ không thể sống sót.  

Suốt 11 giờ giữa làn nước lạnh buốt, cơ thể em lẽ ra đã phải buông xuôi vì kiệt sức. Nhưng em vẫn cắn chặt lấy hy vọng cuối cùng của mình. 🤍

Một bác sĩ nghẹn ngào nói:  

“Tôi từng cứu rất nhiều động vật dưới nước… nhưng chưa từng thấy ý chí sinh tồn nào mạnh mẽ đến vậy. Nó đã tự quyết định rằng mình sẽ không chết.”

Daniel bắt đầu đến thăm em mỗi ngày. Mỗi sáng trước khi ra khơi. Mỗi tối sau khi trở về cảng.  

Ông ngồi lặng cạnh chiếc lồng nhỏ, còn chú chó tựa đầu lên đôi ủng cũ của ông như thể cuối cùng em đã tìm thấy nơi an toàn. 

Khi được xuất viện, Daniel mang em về nhà và đặt tên em là “Timber”.  

Bởi chính mảnh gỗ trôi dạt ấy đã cho em cơ hội sống cuối cùng. 

Đến hôm nay, Timber vẫn mang theo những vết sẹo của đêm định mệnh đó. Một chân sau hơi tập tễnh. Vài chiếc răng sứt mẻ. Và nỗi sợ biển chưa bao giờ biến mất hoàn toàn.  

Nhưng mỗi tối, khi Daniel trở về với mùi muối biển và dầu máy trên áo, Timber lại leo lên lòng ông… rồi nhẹ nhàng cắn lấy tay áo khoác cũ. 

Không nhai. Không chơi đùa.  

Chỉ là… giữ chặt lấy nó.  

Y hệt cách em đã từng bám lấy mảnh gỗ ngoài đại dương năm đó.  

Như thể một phần trong em vẫn sợ rằng nếu buông ra… mình sẽ chìm xuống biển sâu mãi mãi. 

Daniel chưa bao giờ gỡ em ra. Ông chỉ lặng lẽ để Timber giữ lấy tay áo của mình thật lâu.  

Và rồi ông nói:  

“Người ta thường nhắc đến ý chí sinh tồn như một câu nói…”  

“Còn tôi… tôi đã tận tay kéo nó lên từ đại dương.”

St trên FB. 

Cuộc sống : LỜI NÓI MẠNH HƠN... - St trên FB.

 



(Private James Sullivan 19 tuổi đứng bịt mắt trước đội hành quyết gồm tám binh sĩ tại Căn cứ Quân đội Boston vào ngày 10 tháng 11 năm 1917. )

LỜI NÓI MẠNH HƠN VIÊN ĐẠN.

Anh bị tòa án quân sự kết án tội đào ngũ. Tuy nhiên, điều mà đội hành quyết chưa biết cho đến khoảnh khắc ấy là lý do anh đào ngũ. 

Thiếu tá William Morrison, 55 tuổi, đã đọc cáo trạng: “Binh nhì Sullivan, anh bị kết án tử hình bằng đội hành quyết vì tội đào ngũ trong thời chiến.”

James đã nói lớn: “Thưa ngài, tôi xin được phát biểu lời cuối cùng.” Thiếu tá Morrison đáp: “Hãy tiến hành.” James tiếp tục: “Tôi đào ngũ vì phát hiện em gái 12 tuổi của tôi, Rose, đã bị gả cho một người đàn ông 41 tuổi trong lúc tôi đang ở trại huấn luyện. 

Cha tôi đã bán em ấy với giá 600 đô la. Tôi đã vắng mặt không phép để cố gắng cứu em. Tôi tìm thấy em đang mang thai ở tuổi 13. Tôi đưa em đến cơ quan chức năng. Sau đó tôi trở về căn cứ và tự nộp mình. Tôi chấp nhận bản án, nhưng tôi muốn đội hành quyết này biết rằng tôi đào ngũ để cứu một đứa trẻ, chứ không phải vì hèn nhát.”

Thiếu tá Morrison đã lập tức dừng việc hành quyết và tuyên bố: “Đội hành quyết, đứng xuống. Binh nhì Sullivan, tôi hoãn thi hành bản án của anh trong khi chờ điều tra.” Quân đội đã tiến hành điều tra, phát hiện tình trạng của Rose, bắt giữ chồng và cha của em, đồng thời cho James xuất ngũ danh dự thay vì xử tử. 

James đã làm chứng tại phiên tòa cứu trợ em gái, và biên bản phiên hành quyết trở thành bằng chứng cho thấy ngay cả những người lính đối mặt với cái chết cũng ưu tiên bảo vệ gia đình.

James sống đến năm 1979, qua đời ở tuổi 81. Trước khi qua đời, ông đã hồi tưởng: “Tôi lúc ấy 19 tuổi, bịt mắt đứng trước đội hành quyết vì tội đào ngũ. Họ hỏi tôi có lời cuối cùng không. Tôi nói tôi đào ngũ để cứu em gái 12 tuổi bị bán vào hôn nhân trong lúc tôi đang huấn luyện. 

Chỉ huy đã dừng việc hành quyết. Tôi sẵn sàng chết để cứu em. Thay vào đó, lời thú nhận của tôi đã cứu tôi và kết tội những kẻ lạm dụng em. 

Đội hành quyết ấy chưa từng bắn. Lời nói của tôi mạnh mẽ hơn cả những viên đạn của họ.”

Sưu tầm trên FB. 

(Theo The History Hub)

Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2026

Tản mạn : Đà LẠT, THÀNH PHỐ... - Lê Văn Thông.

 



ĐÀ LẠT, THÀNH PHỐ BUỒN VÀ MỘT NGƯỜI TÔI THƯƠNG


Có những bài hát không chỉ để nghe.

Mà để nhớ.

Với tôi, đó là bài Thành Phố Buồn.

Mỗi lần tiếng nhạc cất lên:

“Thành phố nào nhớ không em…

Nơi chúng mình tìm phút êm đềm…”

là tôi lại thấy mình của những năm mười bảy tuổi, áo len mỏng đứng trước cổng trường Trường Trung học Bùi Thị Xuân, nhìn anh đạp xe từ con dốc bên kia đi xuống.

Đà Lạt ngày đó nhỏ lắm. Nhỏ đến mức chỉ cần vô tình đi quanh Hồ Xuân Hương vài vòng là có thể gặp nhau. Nhỏ đến mức một ánh mắt trong sương chiều cũng đủ làm người ta nhớ cả đời.

Anh học giỏi, hiền và ít nói. Còn tôi thì hay cười. Hai đứa thường đi bộ qua những con dốc quanh co đường Phù Đổng Thiên Vương, Bùi Thị Xuân, rồi vòng xuống khu Hòa Bình, ghé trước Rạp Cine Ngọc Lan đứng nhìn mưa bay qua phố.

Đà Lạt ngày ấy buồn thật. Nhưng cái buồn rất đẹp.

Buồn như hàng thông đứng im trong sương.

Buồn như mái nhà gỗ lợp tôn nằm nép bên biệt thự Pháp cũ.

Buồn như tiếng chuông Nhà thờ Con Gà ngân lên mỗi chiều xuống.

Có những sáng chủ nhật, chúng tôi ngồi bên nhau thật lâu mà không nói gì. Chỉ nghe gió lạnh đi qua vai áo. Tôi còn nhớ bàn tay anh lúc nào cũng lạnh. Anh nói sau này sẽ vào đại học ở Sài Gòn. Còn tôi cúi mặt im lặng.

Hồi trẻ, người ta cứ nghĩ yêu là sẽ ở bên nhau mãi mãi.

Nhưng rồi chiến tranh, cuộc sống, gia đình… mọi thứ cuốn hai đứa về hai hướng khác nhau.

Anh vào đại học.

Còn tôi đi lấy chồng.

Ngày cưới, trời Đà Lạt có mưa. Tôi ngồi trong phòng nghe ai mở bài “Thành Phố Buồn” từ quán cà phê dưới dốc. Đến câu:

 “Rồi từ đó trốn phong ba em làm dâu nhà người…”

Tôi bật khóc.

Khóc đến nghẹn lòng.

Bởi có những nỗi buồn không cần gào thét. Chỉ cần nghe đúng một bài hát, là cả tuổi xuân trở về.

Nhiều năm sau, ở bên nhà chồng, tôi vẫn không dám nghe lại bài hát ấy. Mỗi lần tiếng hát vang lên, tôi lại thấy hiện ra con dốc cũ, hàng thông cũ, chiếc áo len màu khói sương của anh đứng chờ trước cổng trường năm nào.

Nhưng Đà Lạt bây giờ đã khác rồi.

Những hàng thông bị đốn bỏ. Những biệt thự Pháp xưa biến mất. Những căn nhà gỗ nép mình trong sương được thay bằng bê tông cao tầng và những màu sơn lòe loẹt.

Từ Ngã Năm Đại Học chạy về các con đường xưa, tôi gần như không còn nhận ra nữa. Võ Tánh, Hàm Nghi, Lê Đại Hành… tất cả đổi thay đến đau lòng.

Mấy hôm nay, mạng xã hội đầy hình ảnh Đà Lạt ngập nước như một thành phố xa lạ nào đó. Tôi nhìn mà nghe buồn cả buổi chiều.

Đà Lạt ngày xưa đâu có vậy.

Ngày xưa, chỉ cần bước ra ngoài vào một buổi sáng mù sương là đã thấy cả thế giới như đang trôi trong mây. Người ta có thể đi hết một vòng hồ chỉ để nhìn mặt nước mờ hơi lạnh, nhìn Thủy Tạ lặng im trong chiều tím, rồi mang về một nỗi nhớ rất nhỏ mà rất dài.

Bây giờ tôi mới hiểu.

Thứ mất đi không chỉ là rừng thông hay biệt thự cũ.

Mà là linh hồn của một thành phố.

Và có lẽ… cũng là tuổi trẻ của tôi.

Nhiều năm rồi, tôi không còn gặp lại anh. Có thể anh đã quên tôi.Có thể anh cũng như tôi, mỗi lần nghe bài hát “Thành Phố Buồn” thì lặng đi một lúc.

Chỉ có điều, anh còn giữ được Đà Lạt trong ký ức.Còn tôi, tôi đã đánh rơi Đà Lạt ở một chiều mưa cũ nào đó — ngay giữa câu hát:

“Tiễn đưa người quên núi đồi… quên cả tình yêu…”

Bây giờ, mỗi lần nghe lại bài hát ấy, tôi không còn biết mình đang nhớ anh, nhớ tuổi trẻ hay nhớ một Đà Lạt đã mất.

Chỉ biết rằng có những thành phố khi rời xa, người ta vẫn còn có thể quay về.

Nhưng cũng có những thành phố chỉ còn tồn tại trong ký ức — nơi một hàng thông cũ, một con dốc mờ sương và một người mình từng thương .

Để rồi đến cuối cùng, điều làm người ta đau nhất không phải là mất một cuộc tình.

Mà là một ngày chợt nhận ra —

cả người mình yêu, lẫn thành phố mình yêu… đều không còn nữa.

Và rồi tôi hiểu ra rằng, có những điều trong đời không mất đi vì thời gian — mà mất đi vì con người ta không còn giữ được nguyên vẹn trái tim của ngày cũ.

Tuổi trẻ giống như sương mai trên đồi thông Đà Lạt. Đẹp đến nao lòng, nhưng chỉ cần mặt trời lên cao một chút là tan biến. Người ta cứ nghĩ mình còn rất nhiều thời gian để yêu thương, để chờ đợi, để quay về. Cho đến một ngày ngoảnh lại mới biết mọi con đường xưa đều đã đổi khác.

Có những cuộc tình không cần một lời chia tay vẫn kết thúc suốt cả một đời người.

Và có những thành phố, càng lớn lên, càng hiện đại… thì ký ức của người cũ lại càng không có chỗ để quay về.

Có lẽ vì vậy mà bài hát “Thành Phố Buồn” vẫn còn sống mãi.

Không chỉ vì giai điệu buồn.

Mà vì trong bài hát ấy, ai cũng nhìn thấy một phần tuổi trẻ của mình — một người từng thương, một nơi từng nhớ, và một quãng đời tưởng đã quên nhưng thật ra vẫn còn mãi trong tim.


(Lê Văn Thông)

Hương xưa : CHIẾC HÔN TÌNH LỚN... - Lê Phong Quan.

 

( Hình ảnh minh họa sưu tầm trên mạng )

CHIẾC HÔN TÌNH LỚN TRONG MỘT BÀI THƠ CỦA NGUYỄN TẤT NHIÊN


Thập niên 60 và đầu 70, học trò trung học Ngô Quyền (Biên Hoà) chúng tôi không xa lạ với tên Nguyễn Tất Nhiên hay Hải khùng cũng là một người (1). Anh đã nổi tiếng rất sớm từ năm 18, 20 tuổi với những sáng tác thơ được phổ thành ca khúc của các nhạc sĩ được nhiều người miền Nam mến mộ như Phạm Duy, Anh Bằng, Nguyễn Đức Quang. 

Trong số những bài thơ của N.T.N được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc rất được ưa chuộng, nhiều người biết đến cho tới tận ngày nay, đó là bài “Hai năm tình lận đận”. Bài thơ nầy N.T.N viết tặng riêng cho Minh Thuỷ (T.) (2), một người tình trong thơ và cũng là người vợ duy nhất cuộc đời anh. 

Anh si tình và theo đuổi T. từ những năm tháng cô nàng đang học bậc trung học đệ nhị cấp (cấp 3). Những buổi vào sân trường tìm nàng tóc bính đưa thư, những lần chạy xe Honda lượn lờ dốc trường Ngô Quyền giờ tan học để theo sau vạt hai tà si mê nhìn áo trắng tiểu thư, rồi có khi rà xe tỏ tình tặng quà. Đến khi giận hờn, T. nhờ cô bạn thân nhất (Tưởng Dung) mang hết quà cáp, thư từ trả lại cho N.T.N. 

Vào giữa năm 73, T. chuẩn bị thi Tú Tài II thì bài thơ “Hai năm tình lận đận” là món quà N.T.N viết tặng riêng cho T. để làm hoà với nàng, được Phạm Duy phổ nhạc phát thanh lần đầu trên sóng radio qua tiếng hát của ca sĩ Duy Quang dễ thương, nổng nàn, da diết.

    … Em xưa còn thắt bính nuôi dưỡng thêm ngây thơ

          Anh xưa còn luýnh quýnh giữa sân trường trao thư

          Em thường hay mắt liếc anh thường ngóng cổ cao

          Ngoài đường em bước chậm quán chiều anh nôn nao

          Hai năm tình lận đận hai đứa cùng hư hao

          Hai năm tình lận đận hai đứa đành xa nhau…

Đây cũng là bài thơ làm hòa định mệnh, níu giữ “tình lớn” hai người lại với nhau. 

Sau biến cố 30 tháng 4 năm 75, đến giữa năm 78, N.T.N và T. làm đám hỏi tại Biên Hoà. 

Một bài thơ ra đời vào khoảng giữa tháng 9/78 của N.T.N tựa là Nụ hôn đầu (hay Lần Đầu?) tôi không nhớ rõ, nhưng có lẽ khi hai người đã quyết định làm lễ đính hôn. Vì thời đó, lứa tuổi chúng tôi một cái chạm tay đã là e dè nếu chưa đã là gì của nhau, huống chi T. là người con gái gia đình trâm anh, tính tình nhẹ nhàng, nhút nhát. Nụ hôn đầu dành cho người mình yêu, được chấp nhận, thời tuổi chúng tôi đã được chàng thi sĩ lãng mạn khắc hoạ như một bức tranh siêu thực: liều, trời đất bàng hoàng, trật tự đổi thay, tim như ngừng đập…

LẦN ĐẦU

gửi T.

gian truân lắm mới hôn người

chiếc hôn tình lớn đem đời nhau theo

hôn em phớt nụ hôn liều

bỗng nghe trật tự khá nhiều đổi thay!

ví dù cỏ nội ngàn cây

cũng môi trường đúng mới khai lá cành

mới đơm bông, mới trái lành

như tôi hướng thiện bởi tình thăng hoa

hôn em lén nụ bất ngờ

âm ba thảng thốt đào sâu, tận cùng

hình như trời đất bàng hoàng

không, không phải thế… tim ngừng đấy thôi!

hôn em chấn động đầu đời

chiếc hôn tình lớn kiếp người đôi giây!

 Biên Hoà - VN 16/9/78 

Nguyễn Tất Nhiên


Và sau cùng trên tất cả, “Nụ hôn đầu” của N.T.N được trở thành “chiếc hôn tình lớn mang đời nhau theo”. Cuối năm 78, N.T.N đã vượt biên cùng gia đình và vị hôn thê T.

Tháng Năm, bây giờ đã vào tháng Năm, tháng của những cơn mưa đầu bất chợt rũ xuống trần gian. Làm tôi nhớ đến những cơn mưa học trò ngày xưa. Nhớ đến những người bạn học cũ. Nhớ đến mối tình đầu thơ ngây nhưng chưa trở thành “tình lớn”, xin tản mạn một chút tình theo mưa…

  …giọt mưa xanh mấy tuổi nàng

     tôi nghe lá rụng như vàng áo xưa (N.T.N)


Sài Gòn, tháng Năm

2026

LPQ


Ps:

(1) Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh ngày 30 tháng 5, 1952 tại Biên Hoà.

…Trước 1975, Nguyễn Tất Nhiên ghi danh đại học Luật Khoa và gián đoạn việc học từ biến cố tháng Tư. Cuối năm 1978 ông cùng gia đình và vị hôn thê vượt biên, sau đó vợ chồng ông định cư tại Pháp khoảng hai năm. Tháng Tư năm 1981, gia đình ông sang Mỹ và sinh sống tại Westminster, Nam California. Ông tiếp tục sáng tác với một giọng trầm ngâm, buổn.

   Gần bốn năm sau khi hôn nhân tan vỡ, ông qua đời ngày 3 tháng 8, 1992 trên một chiếc xe đậu trong một sân chùa ở thành phố Garden Grove, Nam California, hưởng dương 40 tuổi…”

(trích Nguyễn Tất Nhiên - Thơ Văn Trọn Tập - 2025)


(2) Nguyễn Thị Minh Thuỷ, học cùng niên khoá với tôi (1966 - 1973) tại trường Trung Học Ngô Quyền, là ngôi trường công lập duy nhất của tỉnh Biên Hoà thời đó. Nguyễn Tất Nhiên học cùng trường với chúng tôi và học lớp trên hai khoá.

Tờ báo giai phẩm Xuân Ngô Quyền 1973, khi tôi là Trưởng khối Văn nghệ - Báo chí của trường thì Minh Thuỷ tham gia Ban Báo chí và là Trưởng ban Biên tập của giai phẩm Xuân.

LÊ PHONG QUAN.

Chuyện tình chị tôi : HOA NGỌC LAN - Nguyễn Thị Hương.

 



Chuyện tình chị tôi :

     HOA NGỌC LAN

  Chị là con gái đầu lòng của O tôi. Ngày chị sinh, dượng tôi trồng một cây ngọc lan trước ngõ. Chị bao nhiêu tuổi thì cây bấy nhiêu năm. Cây cao, lá xanh ngắt, cứ đến mùa, hoa thơm ngát cả một góc sân. Sáng nào đi học ngang, anh cũng đứng lại. Chị biết ý, chạy ra, với tay hái chùm hoa còn đẫm sương, dúi vào túi áo anh: “Cho anh đó, để thơm cả buổi học.”

   Chị và anh ở cùng thôn Nhất Đông, một làng nhỏ của vùng đất hiền hòa An Cựu. Chị ở xóm dưới còn anh ở xóm trên, ngày ngày cùng đi học. Chị học trường Đồng Khánh còn anh là trai Quốc Học. Buổi sáng, chị với tà áo trắng tinh khôi, chân bước nhẹ thướt tha dưới hàng tre xanh rì rào trong gió sớm mai, còn anh lẽo đẽo theo sau. Anh hay trêu chị: “Mai mốt lớn, anh sẽ trồng cả vườn ngọc lan cho em hái.” Chị đỏ mặt, cúi đầu bẽn lẽn cười.

     Nhà chị nghèo, Dượng đi lính bị thương, để lại ở chiến trường Quảng Trị một chân với thân thể nhiều miểng đạn nên đau yếu liên miên. Một mình O chạy chợ nuôi bầy con nheo nhóc. Hết lớp đệ tứ chị cắn răng xếp tà áo trắng tinh khôi lại, nghỉ học. Chị nói với mẹ: “Để con ở nhà phụ mẹ, cho mấy em được đi học.” 

     Chiều chiều, chị vẫn hái vài cánh hoa ngọc lan thỉnh thoảng gửi tặng anh rồi lặng lẽ khóc.

   Chị đẹp. Đẹp kiểu con gái Huế, dịu dàng mà thăm thẳm, chị là cánh hoa đồng nội xinh đẹp của thôn Nhất Đông ngày ấy. Đôi mắt chị màu nâu khói, buồn như một chiều thu không nắng. Nhiều trai làng để ý đến chị, cũng muốn làm quen. Nhưng lòng chị đã trót gửi cho anh, chàng trai xóm trên.Tình cảm anh chị đến tự nhiên như cỏ cây hoa lá ven sông. Hai đứa thương nhau từ dạo gánh nước chung ở bến sông, cùng chung con đường đi học. Anh nghèo, nhà chị càng nghèo hơn, mà nghèo lại hay thương nhau.

     Mẹ hay thở dài: “Nhà mình nghèo, nhà nó cũng nghèo. Cha con thì bệnh, mẹ trông cả vào con."

    Chị không nói. Chỉ cúi mặt. Nước mắt chảy ngược vô trong.

   Rồi một hôm nhà chị có người đến dạm ngõ. Nhà họ ở trên phố chợ Đông Ba. Mẹ kéo chị lại, bảo: “Người ta xin cưới. Người ta hứa lo thuốc thang cho cha, cất lại cái nhà dột, cho các em con ăn học.”

     Đêm đó, chị ra bến sông, nơi anh chị lần đầu gặp nhau và thường hẹn hò. Chị thả vài cánh hoa ngọc lan xuống dòng nước đang lững lờ trôi. Chị khóc. Chị thương anh và thương luôn cả chị. Ngày mai chị đi lấy chồng.

    Anh nghe tin, buồn đến đứt ruột. Anh bỏ học, đăng lính hải quân, theo tàu vô Nam. Anh đi như chạy trốn một nỗi đau, chạy trốn cả mùi hoa ngọc lan đã thành kỷ niệm. Anh trách anh sao không giữ chị dài lâu để chị lỡ duyên tình đầu. Anh trách ông trời sao không cho anh chị đi hết con đường. 

  Ngày nhà chị pháo nổ, đám cưới chị rình rang cả xóm. Chị mặc áo cô dâu xinh xắn nhưng đôi mắt màu nâu khói vẫn buồn rười rượi. Mẹ nắm tay chị, an ủi: “Đời con gái, sướng khổ tại duyên trời.” Chị lại khóc.

   Chồng chị tử tế, lo cho dượng thuốc thang, lo cho các em chị ăn học. Chị sinh được đứa con trai giống chồng như khuôn. Chị làm tròn bổn phận dâu con, bổn phận vợ, bổn phận mẹ. Chỉ có một thứ chị không làm tròn được là quên anh. Mùi hoa ngọc lan mỗi độ tháng ba về làm chị đau nhói.

    Hơn mười năm sau, tôi gặp lại chị trên một con phố Đà Nẵng. Tóc chị vẫn dài, búi gọn sau gáy. Dáng chị đằm thắm hơn xưa, nhưng đôi mắt màu nâu khói thì vẫn vậy, vẫn buồn, vẫn thăm thẳm như chiều thu.

   Hai chị em vô quán nước bên đường. Chị nhấp ngụm trà, nhìn tôi, khẽ hỏi:  

“Bao lâu rồi, em có gặp anh ấy không? Nghe nói… ảnh đi hải quân, đóng đâu trong Nam…”

   Tôi lắc đầu: “Từ ngày ảnh đi, biệt tăm luôn chị à. Nghe đâu tàu lênh đênh, lâu lắm mới ghé bờ một lần.”

   Chị lặng thinh không nói. Gió thổi sợi tóc mai lòa xòa trước trán chị. Đôi mắt màu nâu khói bỗng ướt như cả một trời chiều mưa đổ. Chị thở dài, nhìn xa xăm ra ngoài phố.

    Trong cuộc đời có nhiều cuộc tình bắt đầu bằng nhiều thứ, riêng chị, mối tình của chị bắt đầu bằng những chùm hoa ngọc lan, bằng áo trắng tinh khôi, rồi kết thúc bằng một lần cúi mặt làm dâu. Còn anh mang theo mùi hương ngọc lan cũ, đi suốt một đời lênh đênh, không một lần trở lại.

Chị, cả đời chắc chỉ dám gọi anh là “người xưa cũ” trong những chiều mưa xứ Huế miên man và thầm hát

Tóc mai sợi ngắn sợi dài

Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm...


Nguyễn Thị Hương 

28.4.2026