Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2026

Phương xa: UỐNG SỮA NGƯỜI - St trên FB.

 



UỐNG SỮA NGƯỜI. 

Năm 1943, một phi công Mỹ rơi từ bầu trời xuống một trong những khu rừng nguy hiểm nhất trên trái đất.

Trong ba mươi mốt ngày, Fred Hargesheimer lang thang một mình qua rừng mưa nhiệt đới của đảo New Britain sau khi chiếc máy bay trinh sát đang bốc cháy của anh bị bắn hạ trên vùng lãnh thổ do quân Nhật kiểm soát trong Thế chiến thứ Hai.

Anh khi ấy hai mươi bảy tuổi.

Đói khát.

Mê sảng.

Chỉ còn thoi thóp.

Anh sống sót nhờ rễ cây và nước suối, di chuyển trong rừng vào ban đêm để tránh các toán tuần tra Nhật Bản đang lục soát hòn đảo.

Đến ngày thứ ba mươi hai, khi những tiếng nói cuối cùng vang lên từ trong cây cối, Fred tin rằng mình sắp chết.

Anh nghĩ quân Nhật đã tìm ra mình.

Nhưng không phải. Đó là một nhóm người bộ tộc Nakanai.

Người dân làng đã cõng người phi công Mỹ yếu ớt trở về làng ven biển và giấu anh khỏi lực lượng Nhật Bản, dù biết rõ hậu quả nếu bị phát hiện.

Quân Nhật đang treo thưởng cho việc bắt sống các phi công Đồng minh.

Họ cũng hành quyết bất kỳ ai giúp đỡ những người đó.

Thế nhưng dân làng vẫn giấu Fred.

Anh ốm yếu đến mức hầu như không thể nuốt được thức ăn đặc.

Rồi một người mẹ đang nuôi con bằng sữa tên Ida bước vào túp lều nơi anh nằm.

Bà quay lại với một cái chén đựng sữa của chính mình và tự tay cho anh uống trong mười ngày để giữ anh sống, trong khi vẫn nuôi đứa con nhỏ của mình.

Fred không bao giờ quên tên bà.

Mỗi khi toán tuần tra Nhật tiến gần làng, có người sẽ thổi nhẹ vào một cái vỏ ốc biển giấu gần đó.

Tiếng đó nghĩa là Fred chỉ còn vài giây để biến mất.

Và nếu anh chạy ngang bãi cát mà vẫn mang giày, những đứa trẻ trong làng sẽ đi theo phía sau, cầm những chiếc chổi nhỏ làm từ lá cọ — quét sạch dấu chân của anh trước khi lính Nhật đến.

Nếu bị phát hiện, cả ngôi làng có lẽ đã bị tàn sát.

Không ai phản bội anh.

Những đứa trẻ không thể phát âm được “Freddie”, nên chúng gọi anh là “Mastah Preddi”.

Ông chủ Freddie.

Anh sống cùng họ trong bảy tháng.

Rồi vào tháng Hai năm 1944, các biệt kích Úc cuối cùng cũng đến được ngôi làng và dùng radio gọi một tàu ngầm Mỹ đến đón anh rời đảo.

Trong một đêm không trăng, Fred chèo thuyền độc mộc ra phía tàu ngầm trong khi dân làng đứng nhìn từ bờ.

Một số người mẹ được kể lại là đã cố đưa con mình cho anh mang về Mỹ.

Fred sống sót qua chiến tranh và trở về Minnesota, nơi anh kết hôn, nuôi dạy con cái và xây dựng một cuộc sống bình thường.

Nhưng anh không bao giờ quên được những người đã cứu mình.

Đặc biệt là Ida.

Đặc biệt là những đứa trẻ với chiếc chổi nhỏ.

Suốt nhiều năm, một suy nghĩ luôn day dứt anh:

“Làm sao tôi có thể đền đáp được họ?”

Vì vậy năm 1960, Fred một mình trở lại New Britain.

Khi thuyền anh cập bãi biển, dân làng xếp hàng dọc bờ cát chờ đón anh dưới ánh trăng.

Rồi họ bắt đầu hát bài hát tiếng Anh duy nhất mà họ biết:

“God Save the Queen.”

Fred bước xuống cát và khóc.

Anh gặp lại Ida.

Anh gặp người con trai mà bà đã nuôi bằng sữa trong khi cũng nuôi anh bằng chính sữa của mình trong chiến tranh.

Và sau khi trở về nhà, anh quyết định rằng lời cảm ơn thôi chưa đủ.

Một nhà truyền giáo sau đó cho anh biết ngôi làng đang rất cần một ngôi trường.

Vậy là một người bán hàng trung niên ở Minnesota bắt đầu đi gõ cửa từng nhà trong quê hương mình, gây quỹ qua các nhóm nhà thờ và những khoản quyên góp nhỏ.

Đến năm 1963, Fred trở lại New Britain và giúp xây ngôi trường kiên cố đầu tiên của làng.

Nhiều năm sau, anh và vợ Dorothy chuyển đến sống luôn tại đó trong bốn năm — rời bỏ nước Mỹ hoàn toàn để dạy học cho trẻ em dưới chân một ngọn núi lửa, cách quê nhà mười hai ngàn dặm.

Trong vài thập kỷ tiếp theo, Fred tiếp tục trở lại hòn đảo hết lần này đến lần khác.

Anh giúp xây trường học.

Thư viện.

Một phòng khám y tế.

Năm 2000, người Nakanai chính thức tôn anh làm tù trưởng bộ tộc và trao cho anh danh hiệu “Suara Auru”.

Tù trưởng Chiến binh.

Rồi năm 2006, ở tuổi chín mươi, Fred thực hiện chuyến đi cuối cùng vào rừng.

Xác máy bay bị rơi năm 1943 cuối cùng cũng được tìm thấy.

Dân làng cõng người phi công già yếu trên vai xuyên qua rừng mưa nhiệt đới để anh được nhìn thấy nó lần cuối.

Cánh máy bay gãy từng một lần thả một người Mỹ trẻ đói khát vào cuộc đời họ vẫn còn nằm đó dưới những tán cây.

Fred Hargesheimer qua đời năm 2010 ở tuổi chín mươi tư.

Những ngôi trường và phòng khám anh giúp xây dựng vẫn còn hoạt động đến ngày nay.

Và khi người ta hỏi vì sao ông dành gần bảy mươi năm để đền đáp một ngôi làng mà ông lẽ ra có thể quên đi sau chiến tranh, Fred luôn trả lời bằng cùng một câu:

“Những người này đã cứu mạng tôi. Làm sao tôi có thể đền đáp được?”

Ông dành phần đời còn lại để cố gắng làm điều đó.

ST TRÊN FB. 

Vui chút : SỐ ĐIỆN THOẠI St trên FB.

 

SỐ ĐIỆN THOẠI 


Cuộc sống : CHUYỆN TỬ TẾ - Hiep Phan.

 



CHUYỆN TỬ TẾ

Tiệm sửa xe Hòa Bình nằm trên đường Quốc lộ 1, gần quán cháo lòng Huỳnh Của, ngay con dốc dẫn lên Trường TH Ngô Quyền_Biên Hòa (BH). Suốt những năm tháng cắp sách đến trường, ngày nào tôi cũng đi ngang qua nơi ấy.  

Đó chỉ là một tiệm sửa xe đạp, xe gắn máy cũ kỹ, chẳng có gì nổi bật giữa vô số tiệm sửa xe khác ở BH.

Điều còn ở lại trong ký ức tôi về tiệm nầy không phải là tấm bảng hiệu đã bạc màu, mà là một chiếc bơm xe lặng lẽ đặt trước cửa tiệm.

Chiếc bơm ấy dành cho tất cả mọi người. Không ai trông coi. Không ai thu tiền.

Chỉ cần bánh xe bị mềm, bất cứ ai, nhất là những đứa học trò, đều có thể dừng lại, tự lấy ra bơm đầy hơi, rồi tiếp tục đạp xe đi hết đoạn dốc còn lại để đến trường.

Nhiều năm sau, mỗi khi nhớ về tiệm Hòa Bình, điều hiện lên trong ký ức tôi vẫn là chiếc bơm ấy. Có những sư tử tế bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt như vậy, đến mức người ta dễ dàng đi ngang mà không nhận ra.

Sau năm 1975, cuộc sống còn nhiều thiếu thốn. Xe đạp là tài sản quý của nhiều gia đình, và cũng là phương tiện gắn bó với tuổi học trò của chúng tôi.

Tôi trở thành khách quen của tiệm từ những ngày ấy. Khi thì vá xe, lúc chỉnh niềng, thay sên, sửa thắng... Những hư hỏng từ chiếc xe cũ của tôi đều từng đi qua bàn tay người thợ nơi đây, với mức tiền công lúc nào cũng phải chăng.

Chủ tiệm là ông Hai. Mọi người gọi ông như vậy.

Không ai nhớ ông đã gắn bó với nghề từ bao giờ. Khi tôi biết ông, râu tóc ông đã bạc phơ, lưng đã còng và đôi bàn tay thì hằn kín dấu vết của thời gian. Tuổi cao khiến ông chỉ còn đảm nhận những việc nhẹ như vá xe, rút căm, chỉnh niềng… Những công việc nặng hơn, được giao lại cho người con trai.

Ông nói rất ít. Nhưng mỗi chiếc xe rời khỏi tiệm đều được ông gửi kèm theo một chút quan tâm. Khách của ông phần lớn là học sinh. Sau khi vá xong chiếc ruột xe, ông ít khi trao xe ngay. Ông thường kiểm tra lại thắng, ghi-đông, yên xe, pedal, dây sên... Chỗ nào lỏng thì siết lại, chỗ nào lệch thì chỉnh ngay. Ông chưa bao giờ tính thêm tiền. Có lẽ ông nghĩ rằng, nếu chỉ mất thêm ít phút để một đứa trẻ đến trường an toàn, thì vài phút ấy giá trị hơn bất kỳ đồng tiền công nào.

Một ngày đầu thập niên 1980s, khi đến tiệm để sửa chiếc xe đạp, tôi tình cờ chứng kiến một câu chuyện mà đến nay vẫn không hề quên.

Một em học trò dắt chiếc xe đạp đến để vá bánh trước. Quan sát kỹ, ông Hai thấy chiếc vỏ đã mòn đến rách tươm, phải lót thêm vài miếng cao su đệm bên trong. Đi như vậy không an toàn và rất dễ nổ bánh giữa đường.

Vào cái thời bao cấp đầy truân chuyên ấy, thay một chiếc vỏ xe mới là điều vượt quá khả năng của nhiều gia đình.

Ông nhẹ nhàng hỏi chuyện. Biết hoàn cảnh của em rất khó khăn, ông nói:

"Cháu đi chiếc vỏ này nguy hiểm lắm. Để ông tìm cho cháu cái khác."

Rồi ông chậm rãi đứng dậy, lui cui bước vào căn nhà phía sau, lục lọi một hồi rồi tìm được một chiếc vỏ xe cũ còn tạm dùng được, thay cho cháu và căn dặn:

“Chiếc vỏ xe này còn dùng tạm được một thời gian. Sau này nếu mòn nữa thì cứ mang đến đây. Ông sẽ tìm đổi cho cái khác. Đừng ngại. Ông không lấy tiền đâu. Chỉ cần cháu đi cho an toàn.”

Em học trò nhỏ lí nhí cảm ơn. Ông chỉ cười. Một nụ cười hiền như chính con người ông.

Có lẽ em học trò hôm ấy không biết rằng mình vừa nhận được một món quà còn lớn hơn rất nhiều một chiếc vỏ xe cũ. Đó là lòng tốt.

Nhiều năm đã trôi qua, hình ảnh người thợ già lặng lẽ bên những chiếc xe đạp vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức tôi. Ông không giảng giải về lòng nhân ái, cũng không nói những điều cao siêu. Ông chỉ sống tử tế, ngày này qua ngày khác, bằng chính đôi bàn tay đã chai sần vì năm tháng của mình.

Mỗi khi nhớ về ông Hai của tiệm sửa xe Hoà Bình, tôi lại nghiệm ra một điều.

Có những người cả đời không làm việc lớn lao. Họ chỉ lặng lẽ đặt một chiếc bơm miễn phí trước cửa, vá một chiếc ruột xe, chỉnh lại cây căm, thay giúp ai đó một chiếc vỏ xe cũ...

Nhưng chính những điều tưởng chừng như nhỏ nhặt ấy đã âm thầm gìn giữ niềm tin giữa con người với con người. Để những đứa học trò nhỏ năm nào khi lớn lên, vẫn tin rằng lòng tốt là điều có thật và không phải là điều hiếm gặp. Chỉ là nó thường chọn cách hiện hữu một cách âm thầm và lặng lẽ.

Giờ đây ông Hai cũng đã đi xa. Năm tháng rồi sẽ xóa mờ những con đường, những mái nhà, cả những tiệm sửa xe cũ.

Chỉ có điều tử tế là không bao giờ cũ. Nó lặng lẽ sống mãi trong ký ức của những người từng được nó chạm tới.

 HIEP PHAN.

 


Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

Hồi ức : CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ - Xuân Lan.

 




CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ ! 

Năm 1968 đoàn hát tại Quảng Ngãi ! Khán giả rất yêu mến chúng tôi nên đêm nào cũng đông ! Tôi được hát các vai đào nhì và kiêm luôn ca màn phụ diễn tân nhạc ! 

Câu chuyện bắt đầu từ một cô bé khoảng 12 tuổi ! Mình ko nhớ tên nó chỉ gọi là con NHỎ ẴM EM ! Nhỏ hay ẵm em lẩn quẩn vào rạp hát và đôi khi vô hậu trường chơi … Ko ai nói gì vì nhỏ cũng dễ thương vui vẻ ! Nhiều khi mình nhờ công việc lặt vặt nhỏ cũng giúp ! 

Một bữa NHỎ ẴM EM lại gần mình nói nhỏ … Chị ơi anh của em muốn làm quen với chị … ảnh mến mộ chị ca nhạc ảnh muốn mời chị sáng mai uống nước 

Tôi ngập ngừng .. thôi chị ngại lắm đi uống nước trong đoàn thấy ! Ko được ! 

NHỎ ẲM EM thuyết phục mãi …

Tôi đành nói thôi chị đi với Tuyết ( nhỏ bạn thân) mà đi gần gần ! Qua tiệm Hủ tiếu trước cửa rạp nhe ? 

Nhỏ có vẻ mừng lắm dạ được ! Sáng mai nha chị ! Em về báo tin ảnh biết ! 

Phần mình đi tìm Tuyết ! Tuyết ơi có người mời hai đứa mai qua tiệm Hủ tiếu bên kia đường ăn sáng ! 

Tuyết vui vẻ : Vậy hả ? Nhưng tao đi thì phải dẫn em tao theo á ! 

Tôi trả lời : Em mày đi ko lẽ bỏ em tao ở nhà ? Thôi cho 2 đứa đi luôn ! 

Vậy là buổi hẹn hò của Anh con NHỎ ẴM EM thành ..7 người ! Vì ngoài Tôi và Tuyết  là 4 người , NHỎ ẲM EM là 2 và Anh ấy  nữa là 7 !!!! 

Sáng hôm ấy chúng tôi qua tiệm trước ! Anh chàng bước vào trong bộ quân phục rất chỉnh tề ! NHỎ ẴM EM giới thiệu chị đây là Anh của em .. Tôi  hơi mắc cỡ … dạ chào anh ! 

Anh có vẻ hơi lúng túng và nhút nhát sao  sao ấy ! Các em ăn gì kêu đi ! Anh ngồi xuống đầu bàn khá xa tôi ! 

Tụi nhỏ bắt đầu nhao nhao … 

Tô hoành thánh mì đi ! 

Tui Hủ tiếu khô thập cẩm nghen 

Tui ăn hủ tiếu mì  …. Vv và vv . 

Tôi và Tuyết cũng kêu và bên kia NHỎ ẴM EM cũng ko vừa gì cũng vừa ăn vừa đút cho em ăn 

Ông chủ người Hoa tất bật lo nấu  phục vụ cho kịp !!!! Hình như mọi người đều quan tâm ăn uống và quên mất mục đích buổi gặp gỡ hôm nay 

10 phút sau mấy đứa tôi ăn xong tôi mới phát hiện một sự thật kinh hoàng ! 

Chủ nhân buổi tiệc này đã biến mất ! 

Và một nhân vật nữa ko kém phần quan trọng là NHỎ ẴM EM cũng mất tiêu rồi ! 

Tôi nhìn Tuyết : Vậy là sao ????

Tuyết nói : Tao hỏng biết !! 

Hai đứa em của tôi và Tuyết cùng đứng lên … Thôi tụi em dìa rạp ! ( biến ) 

Tôi hỏi Tuyết : Giờ sao ? 

Tuyết nhún vai  : Dễ thôi , hai đứa mình cưa hai ! Giờ xin ông chủ thiếu lát về rạp hát lấy tiền qua trả ! 

Tôi nói …. Ok vậy cũng được ! À mà sao anh đó chưa ăn mà bỏ đi đâu ? Cái tô còn nguyên kìa ! 

Lúc này Tuyết mới nhìn thấy cuối bàn một tô mì xá xíu còn nguyên chưa ăn tới nó liền bảo tôi … 

Hai đứa cùng chi trả chầu này thì còn tô mì này mình cưa đôi luôn cho đều đúng ko ? 

Đúng rồi ! Hai đứa ăn luôn đi để lại làm gì ! Chia luôn !kkkk

Khi hai đứa tôi vừa cầm đủa đưa vắt mì vô miệng thì …… ngoài sân bước vô là ..

Chàng đã xuất hiện ! Ui là trời !

Tôi đứng hình luôn ! Anh thì vui vẻ kêu ông chủ tính tiền đi ! 

Anh quay qua tôi cười  vả lả … mấy em ăn hết đi anh có việc bận lắm anh phải đi ngay nha ! Chào em ! 

Tôi ko biết cảm giác mình lúc đó ra sao ? Cái gì vừa xảy ra ở đây trong buổi sáng nay ? Mọi việc đưa đẩy câu chuyện hẹn hò đầu tiên của tôi và một cái kết thật kỳ cục ! Mà bây giờ nhớ lại vẫn còn xấu hổ ! 

Tối đêm đó NHỎ ẴM EM lại bồng em xuất hiện ! Nó nói nhỏ bên tai tôi ! Hồi  sáng anh của em đi cầm cái áo !!!!

Trời ! Vậy là sao ?

NGUYỄN THỊ XUÂN LAN ( FB )

Thơ: BÊN BỜ KÝ ỨC CŨ - Hong Khuu.

 



BÊN BỜ KÝ ỨC CŨ

_Tìm Một Chữ Quên_

Ta cúi xuống nhặt mùa xuân rất cũ

Từng cánh vàng héo rũ lối thời gian

Bình minh đây sao nắng đã úa tàn?        

Trên bến vắng con đò ngang vẫn đợi...


Quay nhìn lại lối xưa xa vời vợi

Đoạn không nhau tiếp nối mãi mùa Đông

Ngày trôi qua hư ảo cứ chất chồng

Vùng xưa cũ giờ rêu phong hoang phế


Mảnh tâm tư nông nổi buồn rướm lệ

Ướt đẫm rồi hồ dễ ráo được chăng

Đôi chân trần dù đi ngược ngàn năm 

Không làm ngắn khoảng thời gian đã mất


Lời ta gọi vang rền trên mặt đất

Xé hư không đánh thức cả muôn loài

Không làm sao gọi dậy được một người

Nằm yên giấc mặc cho đời ấm lạnh


Tay run rẩy ly rượu sầu sóng sánh

Uống mềm môi...giữ ảo ảnh đừng trôi

Trên đầu ta nghe sấm nổ vang trời

Như tiễn biệt một người vào xa khuất


Tuổi thanh xuân mang đoá tình hương sắc

Theo chân người đã lịm tắt từ lâu  

Đợi chờ chi dẫu có phải mưa Ngâu

Còn ai đứng ở giữa cầu Ô Thước?

HONG KHUU.

24/06/2026

Truyện ngắn : CÁNH CỔNG SAU - Tim Nguyen.

 



CÁNH CỔNG SAU

(Truyện viết theo lời kể của nội tôi về xã hội miền Tây dưới thời Pháp thuộc. Chuyện khá dài, xin các bạn chịu khó đọc) 

Hồi đó, cái thời miền Tây Nam Bộ chưa ai thật sự là chủ mảnh đất màu mỡ này. Cuối thế kỷ 19, luồng di cư của người Việt từ các vùng đông dân ở miền đông hoặc từ miền trung về khai khẩn diễn ra liên tục, trong đó có dòng họ của ông hội đồng Hanh. Nhờ thân Pháp nên ông tiến thân và giàu có nhanh như nước lũ tháng tám.

Nhà ông hội đồng Hanh là một cõi riêng biệt, uy nghi mà lạnh lẽo. Ngôi nhà bảy gian lợp ngói âm dương nằm chễm chệ giữa đất Đồng Tháp Mười, cột gỗ căm xe sậm màu thời gian, bóng loáng nhờ mồ hôi của những đời người ở đợ lau chùi. Nền gạch tàu màu đỏ gạch, lúc nào cũng tỏa ra cái hơi mát lạnh đến rợn da gà. Ruộng đất nhà ông trải dài tới tận Gò Tháp, mùa gặt lúa chất thành đống cao ngất, nhìn như một dãy núi nhỏ chưa bao giờ biết cạn. Cái giàu của ông Hội đồng không làm người ta ngại bằng cái uy của ông, cái dựa dẫm với thực dân. Một cái hắng giọng của ông giữa sân cũng đủ làm đám tá điền đang xôn xao phải im phăng phắc, cúi đầu sát đất.

Nhưng trong cái nhà lẫm liệt đó, thứ khiến người ta sợ nhất không phải là ông, mà là Bà Lớn. Bà ít nói, bước chân đi trên nền gạch tàu không phát ra tiếng động, chỉ có tiếng chuỗi hạt mân côi bằng gỗ mun va vào nhau lách cách bên sườn. Mỗi lần bà đi ngang qua gian bếp hay dãy nhà kho, đám gia nhân đều nín thở, không ai dám ngước mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt thản nhiên như mặt nước giếng của bà. Mọi thứ trong nhà, từ vị trí cái cối xay lúa đến bữa ăn đúng giờ đúng khắc, đều có chỗ của nó. Lệ trong nhà không thành lời, nhưng ai cũng thuộc lòng như cháo lỏng, bởi cái giá của việc quên luật lệ thường là những lằn roi mây lạnh lùng.

Bà Nhỏ về sau, 20 tuổi xuân, hiến thân cho ông hội đồng người bằng tuổi cha tuổi mẹ. Người bà mảnh khảnh, nước da trắng xanh xao như bông bưởi bị ngấm mưa lâu ngày, tuổi đời còn trẻ măng mà vướng vào “vòng lao lý”. Người ta xầm xì nói bà về đây không phải vì ham cảnh giàu sang, mà vì cái nợ của cha mẹ bà quá tải nên phải bán thân vì hiếu. 

Cái cách bà đi đứng trong nhà lúc nào cũng như có một sợi dây vô hình níu lại phía sau, ngập ngừng và lạc lõng. Những buổi chiều tà, khi nắng đã nhạt màu trên những tàu dừa, bà thường đứng ở hàng hiên, đôi mắt buồn thâm trầm nhìn về cuối sông, nơi cha mẹ bà còn ở thuê trên mảnh đất của ông hội đồng. Bà đứng lâu lắm, đứng cho đến khi bóng nắng nghiêng hẳn qua một bên sân, chim chóc đã về tổ hết, bà vẫn chưa chịu quay vô cái gian buồng nồng mùi trầm hương ấy.

Trong cái guồng quay khắc nghiệt của nhà ông Hội đồng, có một thằng nhỏ tên Bím. Nó không thuộc về ai, cũng không ai nhận nó là người thân thuộc. Cha mẹ nó nghèo quá, bán nó đi từ lúc nó còn chưa kịp nhớ mặt chữ. Từ đó, nó ngủ cạnh chuồng bò trên một mớ rơm rạ khô khốc, ăn sau, làm trước hơn mọi người. Mỗi ngày của nó bắt đầu khi sương còn đọng trên cỏ, dắt đôi bò ra đồng, cắt cỏ, tắm bò dưới bến sông, rồi dọn dẹp đống phân nồng nặc. Công việc cứ lặp đi lặp lại như con nước ròng, không cần trí nhớ, không cần cảm xúc.

Mười ba tuổi, cái lưng của Bím đã quen với tư thế cúi gập. Có những ngày nắng đứng bóng, mồ hôi chảy thành dòng cay sè con mắt, lưng áo sờn rách dính chặt vào da thịt thịt đỏ ửng. Có những ngày mưa dầm, bùn sình đóng cục tới đầu gối, chân nó nứt nẻ vì ngâm nước quá lâu. Nhưng cái mệt mỏi thể xác đó không đáng kể gì bằng những lúc trễ nải công việc. Bà Lớn không bao giờ hỏi han hay mắng mỏ dài dòng. Bà chỉ cần nhìn sang lão quản gia, háy mắt là roi mây quất xuống. Tiếng roi xé gió, gọn ghẽ và lạnh buốt.

Trong ngôi nhà này, lý do không dùng để giải thích, lý do chỉ là cái cớ để hợp thức hóa một sự trừng phạt đã sẵn có trong lòng người cầm quyền. Bím không bao giờ khóc. Không phải nó gan lì, mà vì nó thấy nước mắt chẳng có chỗ nào để đặt vào giữa cái sân gạch lạnh lẽo này. Nó nuốt cái đau vào trong, đêm về lại nằm nghe tiếng bò nhai cỏ chậm rãi, đều đặn, tìm thấy sự an ủi duy nhất từ hơi thở phì phò của cặp bò sừng đắt giá mà ông chủ mua từ Indo.

Một đêm trăng mờ, Bím đang loay hoay sửa lại cái vách chuồng bò bị gió lùa thì nghe tiếng gọi rất khẽ. Tiếng gọi chỉ đủ để người cần nghe thấy, nhẹ như tiếng lá rụng trên sân. Nó quay lại, thấy Bà Nhỏ đang đứng dưới bóng cau, tà áo bà ba trắng mờ ảo trong đêm. Ánh đèn dầu từ gian nhà chính hắt ra yếu ớt, đủ để nó thấy tay bà đang cầm một gói lá chuối nhỏ. Bà đặt gói đồ xuống cái bệ đá, không nói nửa lời, rồi lẳng lặng quay bước đi. Bím mở gói lá, hơi ấm của cơm trắng và mùi thơm của cá kho tộ xộc lên mũi. Cơm vẫn còn ấm, cái ấm của lòng người mà lần đầu tiên nó được chạm tới.

Từ đó về sau, thỉnh thoảng những gói nhỏ như vậy lại xuất hiện trên bệ đá. Không hẹn trước, không dặn dò, chỉ là có. Giữa hai con người cô độc ấy không bao giờ có lấy một câu đối thoại, chỉ có những khoảnh khắc rất ngắn vừa đủ để Bím biết rằng, trong cái nhà rộng thênh thang và lạnh lẽo này, vẫn còn một đốm lửa nhỏ đang nhen nhóm đâu đó.

Những buổi chiều dắt bò về ngang sân, Bím lén nhìn lên hàng hiên. Bà Nhỏ vẫn đứng đó, nhưng ánh mắt bà không đặt vào nó, cũng không đặt vào bất cứ thứ gì cụ thể. Bà nhìn xuyên qua những rặng dừa, xuyên qua cả cánh đồng lúa đang thì con gái, nhìn về một nơi nào đó xa thẳm không có tên trên bản đồ đất này. Bím hiểu, bà cũng như nó, đang sống bằng một phần linh hồn đã gửi lại phía sau hoặc gửi đi nơi khác.

Rồi cái ngày gánh sơn đông mãi võ ghé chợ làng cũng đến, làm xáo động cái không khí tù đọng của vùng quê nghèo. Tiếng trống chầu thúc liên hồi, tiếng người gọi nhau í ới tạo nên một thứ âm thanh náo nhiệt lạ lẫm. Đám đông tụ lại thành một vòng tròn lớn quanh gánh hát. Ở giữa, những thân hình lực lưỡng trần trùng trục đang biểu diễn những động tác mạnh mẽ, lửa bùng lên đỏ rực giữa ban ngày rồi tắt ngấm trong tiếng vỗ tay rào rào. Một con khỉ nhỏ mặc chiếc áo đỏ sặc sỡ chạy vòng quanh làm trò, lanh chanh và tội nghiệp.

Giữa cái náo nhiệt xô bồ đó, bỗng nhiên có một khoảng lặng kỳ lạ khi một con nhỏ bước ra. Nó tên Cúc Hương cũng trạng tuổi Bím. Đôi mắt nó sáng lấp lánh như sao trời, nụ cười má lúm nhẹ tênh, không chút gượng gạo dù đang đứng trước bao nhiêu cặp mắt tò mò. Nó không biểu diễn gì cao siêu, chỉ đứng đó quay một vòng rồi chào khán giả, nhưng cái cách nó đứng giữa đám đông ngẩng cao đầu, không né tránh, không co rụt lại như những kẻ làm thân trâu ngựa đã làm Bím chết lặng.

Tiếng trống dồn lên, người ta quây lại thành một vòng tròn bụi đất. Một ông già mình trần lộn người gọn ghẽ. Mấy thanh niên xông ra, gậy quét vun vút, dao lóe sát cổ. Rồi đến màn nặng nhất: tảng đá đặt lên ngực, búa giáng xuống “cốp!” đá vỡ, người bật dậy, đám đông vỗ tay không ngớt.

Tiền lẻ rơi lách cách vào chiếc nia. Màn diễn vừa dứt, chưa kịp tan người, ông già đã đổi giọng, rao sang chuyện khác. Một tấm vải trải ra, bày vài chai thuốc lạ, vài gói bột vàng vàng. “Thuốc gia truyền, trị đau nhức, trúng gió, uống là dứt.” Nói rồi quay qua cái ghế thấp đặt sẵn bên cạnh. “Ai đau răng, nhổ không đau.” Một người đàn bà rụt rè ngồi xuống. Ông cúi đầu làm nhanh, dứt khoát. Người đàn bà còn chưa kịp nhăn mặt, chiếc răng đã nằm gọn trong tay. Đám đông lại xôn xao. Có người tin, có người nghi. Còn họ vẫn tiếp tục. Như thể đó mới là phần chính của một cuộc mưu sinh.

Bím đứng ngoài rìa đám đông, không chen vào, chỉ lặng lẽ nhìn qua kẽ hở. Nó không biết mình đang nhìn màn võ thuật gươm bay gậy múa hay nhổ răng không đau nhưng chắc chắn nó nhìn Cúc Hương. Sau buổi diễn, khi đám đông đã tan dần, Bím vẫn đứng chôn chân một chỗ. Cúc Hương lại gần, hỏi nó vài câu bâng quơ bằng chất giọng nhẹ nhàng, nhanh nhảu của người đi đây đi đó nhiều. Những câu nói qua lại chẳng giữ lại được gì cụ thể, nhưng có một điều đã ở lại mãi trong lòng thằng bé chăn bò: Một cảm giác mới lạ, như có cái gì đó trong người nó vốn đã ngủ yên từ lâu nay bỗng cựa mình thức dậy.

Những ngày sau đó, gánh hát vẫn còn nán lại chợ. Bím tìm mọi cách để ra chợ nhiều hơn, không phải để xem biểu diễn, mà để được đứng ở cái góc cũ, nhìn vào cái khoảng không gian mà Cúc Hương hay đứng. Nó thấy mình bắt đầu biết hy vọng, một thứ hy vọng mỏng manh như tơ trời nhưng lại đủ sức kéo nó ra khỏi nỗi ám ảnh của roi mây.

Nhưng cuộc đời không bao giờ êm đềm như một giấc chiêm bao. Một buổi tối trời đổ mưa tầm tã, sấm chớp rạch ngang bầu trời đen kịt, một con bò của ông Hội đồng bị sổng chuồng mất tích. Bím hốt hoảng lao mình vào màn mưa, chạy khắp các ngõ ngách, đôi chân lún sâu trong bùn lầy dính chặt. Nó đi tới khi không còn phân biệt được đâu là đường, đâu là ruộng, chỉ có tiếng mưa quất vào mặt rát rạt. Khi nó dắt được con bò trở về sân nhà, trời đã về khuya, ngôi nhà bảy gian chìm trong bóng tối im lìm. 

Bà Lớn đã chờ sẵn ở cửa, không cần một câu hỏi han, không cần nghe giải thích. Roi mây lại quất xuống, nhưng lần này đòn đánh nối nhau dồn dập, đều đặn và tàn nhẫn như một việc phải làm cho xong để giữ lấy cái uy nghiêm của dòng tộc. Đến khi Bím ngã quỵ xuống nền gạch tàu lạnh ngắt, hơi thở yếu ớt, bà mới dừng tay, quay lưng đi vào trong không một lần ngoái lại.

Đêm đó, Bím nằm co quắp sát chuồng bò. Mưa tạt vào từ những khe hở của vách lá, cái lạnh thấm dần vào tận xương tủy, vào những vết thương đang rỉ máu trên lưng. Nó không ngủ được, cơn đau hành hạ cả thể xác lẫn tâm hồn.

Trong gian nhà chính, ngọn đèn dầu hắt thứ ánh sáng vàng úa, lay lắt như hơi thở cuối của một ngày dài. Bà Nhỏ ngồi thẳng lưng, hai tay đặt lên đầu gối, bất động như một pho tượng đã quen với im lặng. Trên bàn, chuỗi trầm còn vương khói, sợi khói mảnh như một ý nghĩ chưa kịp thành lời, bay lên rồi tan vào bóng tối đặc quánh. Bà không lần chuỗi, cũng không nhìn vào đâu, ánh mắt như mắc lại ở một nơi rất xa, vượt qua bức vách, qua hàng cau, qua cánh đồng đang chìm trong mưa đêm.

Tiếng roi khi nãy vẫn còn vướng trong tai, mỗi một tiếng quất xuống đều gọn và lạnh, không chừa chỗ cho lòng người chen vào. Bà đã nghe thứ âm thanh đó từ ngày bước chân vào căn nhà này, nghe riết thành quen, quen đến mức tưởng như mình cũng đã hóa đá theo. Vậy mà đêm nay, không hiểu sao, nó không trôi qua được, cứ ở lại, cứ gõ vào một chỗ sâu kín trong lòng bà mà bấy lâu nay bà cố quên.

Bà cúi xuống, mở cái hộc nhỏ dưới bàn, bên trong là mấy đồng tiền lẻ được buộc trong một mảnh vải cũ, thứ bà để dành như người ta giữ lại một chút gì đó cho riêng mình, dù biết có khi cả đời cũng không dùng tới. Bà cầm lên, nhưng bàn tay dừng lại giữa chừng, như bị níu bởi một điều không gọi thành tên. Ngoài kia, gió quất mạnh hơn, một cánh cửa đâu đó đập vào vách, lặp đi lặp lại, khô khốc như nhắc rằng đời người có những thứ nếu không đóng lại thì sẽ mãi kẽo kẹt trong lòng.

Bà ngồi yên rất lâu, và trong cái im lặng đó, có một thứ từ từ nổi lên, không phải thương hại mà là nhận ra. Nhận ra cái bóng của chính mình ngày trước, cũng đứng ở một ngưỡng cửa, cũng không có quyền chọn, cũng bị đẩy đi như một món nợ phải trả, chỉ khác là ngày đó không có ai cho bà một con đường khác. Bây giờ Bím cần một con đường, bà biết con đường đó ở đâu. Người ta vẫn nghĩ nỗi đau nào rồi cũng qua, nhưng có những nỗi đau không đi đâu cả, nó chỉ nằm lại trong người mình, chờ một lúc nào đó đủ đầy để trỗi dậy, như nước ròng rồi cũng tới lúc nước lớn.

Bàn tay bà siết chặt mảnh vải, và lần đầu tiên trong nhiều năm, bà thấy mình đứng trước một lựa chọn, một thứ tưởng như chỉ dành cho những người còn trẻ, còn quyền sai, quyền sửa. Bà biết rõ, nếu bước ra ngoài, mọi thứ sẽ không còn yên, vì trong căn nhà này, mỗi con người đều được đặt đúng chỗ của nó, và những gì đi lệch khỏi chỗ thì sớm muộn gì cũng bị kéo về, bằng cách này hay cách khác. Chỉ cần quay mặt đi, sáng mai mọi thứ sẽ trở lại như cũ, thằng nhỏ vẫn dậy sớm, vẫn dắt bò, vẫn cúi đầu, những lằn roi rồi cũng sẽ khô, còn căn nhà này vẫn đứng đó, vững như chưa từng có gì xảy ra.

Nhưng bà cũng hiểu, nếu quay mặt đi, có một thứ sẽ chết hẳn, không phải thằng nhỏ, mà là phần người còn sót lại trong bà.

Bà đứng dậy, một động tác nhẹ nhưng như làm đứt một sợi dây đã căng quá lâu. Bà lấy thêm một gói cơm còn ấm trong bếp, không gọi ai, không nhìn ai, chỉ lặng lẽ đi ra phía sau, nơi chuồng bò tối om. Mưa tạt vào mặt, lạnh buốt, nhưng cái lạnh ấy không làm bà chùn bước, vì có những lúc người ta không còn đi bằng cảm giác nữa, mà đi bằng một thứ sâu hơn, giống như bản năng của một phần người chưa chịu chết.

Bà dừng lại ở cửa chuồng bò, và trong khoảnh khắc rất ngắn, bà biết mình vẫn còn đường quay lại, chỉ cần quay lưng là mọi chuyện coi như chưa từng xảy ra, bà vẫn là bà Nhỏ của căn nhà này, im lặng, đúng chỗ, không gây sóng gió. Nhưng chân bà không quay. Bà bước vào, cúi xuống đặt gói cơm và mảnh vải với xấp tiền gói kỹ xuống nền đất ướt, động tác chậm mà dứt, như người ta đặt xuống một món nợ đã mang theo quá lâu, nay phải trả.

Bím cựa mình, ánh mắt hai người chạm nhau trong một thoáng ngắn ngủi, nhưng đủ để hiểu. Không có lời nào được nói ra, vì có những thứ nếu nói thành lời thì sẽ nhẹ đi, mà cái đêm này cần giữ lại cái nặng của nó. Trong ánh nhìn đó không có ban ơn, không có thương hại, chỉ có một sự trao lại, như người đi trước trả lại cho người đi sau một cơ hội mà mình đã không có.

Bà đứng thêm một nhịp rồi quay đi, không dặn dò, không hứa hẹn,  không vội, cũng không chần chừ, bóng bà lẫn vào màn đêm, mỏng dần rồi mất hẳn, như thể chưa từng có mặt ở đó. Phía sau, chỉ còn tiếng mưa và một thằng nhỏ đang run run cầm lấy thứ lần đầu tiên trong đời nó biết có thể mở ra một lối khác.

Đêm đó, trong căn nhà bảy gian, không ai biết một thứ lệ đã bị phá, và cũng không ai biết, có một người đã lặng lẽ bước ra khỏi cái vòng đời mà mình tưởng không bao giờ thoát được.

Bím ôm chặt bọc cơm và gói tiền vào ngực, đứng lặng thật lâu trước khi bước ra khỏi chuồng bò. Mưa tạt vào mặt lạnh buốt, nhưng cái lạnh ấy không đáng sợ bằng nỗi ám ảnh phải ở lại. Nó nhìn về phía cổng sau, cánh cổng gỗ cũ kỹ bám đầy rêu phong, nay hé ra một khe nhỏ như hơi thở yếu ớt của tự do.

Bím bước đi, mỗi bước đều đau đớn nhưng không hề dừng lại. Bởi nó hiểu rằng: có những lúc, lối cổng chính thênh thang chỉ đầy rẫy cạm bẫy, còn con đường mòn nhỏ hẹp tuy trắc trở, nhưng lại là lối duy nhất dẫn về phía ánh sáng.

Ra đến bờ rào, nó quay đầu nhìn lại căn nhà bảy gian lần cuối, nơi đã giữ nó lại bằng roi vọt và thói quen. Căn nhà im lìm như một khối đá đã quen nuốt tiếng khóc của người khác, không có tiếng gọi, không ai chạy theo, không gì níu nó lại ngoài cái quen của một đời bị sai khiến.

Nó bước ra con đường đất dẫn ra cánh đồng, mưa trắng xóa, gió quất nghiêng những bụi cỏ ven đường, nó đi trong cái lạnh ấy, nhỏ bé như một dấu chấm lạc giữa trang đời rộng lớn. Nó không biết mình sẽ đi đâu, cũng không biết ngoài kia có gì chờ, chỉ biết phía sau là một cánh cửa đã xa dần, và đêm nay, lần đầu tiên nó không còn đứng bên trong.

***

Sau cái lách người qua khe cửa định mệnh ấy, Bím bỗng thấy mình nhỏ bé và đơn độc giữa đất trời mênh mông. Giữa cơn quẫn trí, khi đôi chân rã rời không biết đi đâu về đâu, trong đầu nó chợt lóe lên hình ảnh gánh hát Sơn Đông và khuôn mặt hiền hậu của con Cúc Hương.

Có lẽ, giữa lúc cuộc đời hắt hủi mình, chỉ có những thân phận trôi dạt, rách rưới như gánh hát ấy mới đủ bao dung để che chở cho nó. Đó không chỉ là một lối đi, mà là niềm hy vọng duy nhất nảy mầm từ đường cùng.

Đêm ấy, Bím nằm co quắp ngoài đồng vắng, lấy đất làm giường, lấy màn mưa làm chiếu để chờ trời sáng...

Gánh hát rời chợ vào sáng sớm hôm sau, và Bím đã đứng đợi sẵn ở đầu làng. Không ai hỏi nó từ đâu tới, cũng chẳng ai cần biết nó là ai. Họ đón nhận nó như cách người quê đón một đứa nhỏ lạc đường: thấy tội thì cho theo, thấy siêng thì thương.

Gánh hát lên đường, mang theo Bím mà không ai hỏi han hay cần biết thêm điều gì. Ở cái đời này, người ta chỉ quan tâm đến việc có thêm một đôi tay biết làm không lương, vậy là đủ.

Ban đầu, Bím đảm nhiệm những việc lặt vặt nhất: dọn đồ, kéo dây, nhóm lửa, bưng nước, những công việc tuy không tên nhưng lại thiết yếu cho cả đoàn. Đêm về, Bím nằm cạnh đống đạo cụ, lắng nghe tiếng người trong đoàn cười nói, chửi thề, bàn chuyện mai đây sẽ đi đâu. Những âm thanh rời rạc ấy lại mang một hơi ấm khác hẳn cái im lặng cứng nhắc như đá ở nhà ông Hội đồng.

Cúc Hương vẫn vậy, đi đến đâu cũng nhẹ tênh, cô bé cười nói rồi quên ngay, nhưng ánh mắt nhìn người khác thì không ai có thể quên được nhìn thẳng, không né tránh. Có lúc Cúc Hương đưa cho Bím một trái ổi, nói đại một câu gì đó rồi chạy đi mất, Bím không nhớ câu nói, chỉ nhớ cách cô bé đưa ổi, thật tự nhiên, như thể việc đó vốn dĩ phải thế.

Dần dà, Bím bắt đầu được tập, ban đầu chỉ là giữ dây, rồi phụ những màn đơn giản như té ngã, lăn, nằm để ông võ sư đập tản đá trên bụng trong tiếng reo hò thán phục. Dù những động tác còn vụng về, nhưng mỗi lần đứng dậy, trong người Bím lại nhẹ đi một chút, và cái lưng quen cúi nay cũng bắt đầu biết thẳng.

Đời gánh hát không phải lúc nào cũng đông khách, có bữa diễn trước vài chục người, có bữa chỉ lác đác vài đứa nhỏ xem rồi bỏ đi giữa chừng, thậm chí có bữa trời mưa, lửa tắt, cả đoàn đành co ro chờ cho cơn mưa qua. Thế nhưng, ở đây không có roi vọt, không có những ánh nhìn lạnh lẽo, chỉ có cái đói, cái mệt mà hai thứ ấy, Bím đã quá quen rồi.

Những lúc nghỉ chân bên sông, Cúc Hương thường ngồi một mình, ít nói, chỉ lặng lẽ nhìn dòng nước. Bím ngồi cách đó một khoảng, không lại gần, không gọi, nhưng đôi khi, khoảng cách giữa hai đứa tự nhiên ngắn lại, như thể con nước ròng kéo hai bờ lại với nhau. Có bữa, chiều tà buông, họ ngồi cạnh nhau từ lúc nào không hay, không nói một lời nào, chỉ nghe tiếng nước vỗ. Cái im lặng ấy, không hề nặng nề."

Ba năm trôi qua như một cái chớp mắt của con nước lớn. Gánh hát đi qua không biết bao nhiêu làng mạc, từ những vùng trù phú đến những nơi khỉ ho cò gáy. Đám đông lúc đông lúc thưa, có người tin vào những phương thuốc gia truyền, có người lại lắc đầu ngán ngẩm sau khi xem những màn biểu diễn đã cũ.

Một buổi sáng nọ, khi sương mù còn bao phủ mặt sông, ông bầu gánh bỗng nhiên biến mất không một lời từ biệt, mang theo toàn bộ vốn liếng ít ỏi của đoàn. Gánh hát rơi vào cảnh hỗn loạn rồi nhanh chóng tan rã như một cái bóng trên tường khi đèn tắt. Mỗi người đi một ngả, không ai giữ chân ai, bởi ai cũng bận lo cho cái bụng của mình trước nhất.

Sau bao thăng trầm dâu bể. Bím, thằng bé chăn bò ngày xưa, giờ phiêu dạt cùng dòng nước, tay chai sạn vì mưu sinh. Dẫu nghèo vẫn nghèo, nhưng ít ra, roi vọt đã xa, chỉ còn nỗi nhớ dai dẳng về tiếng bò, mùi rơm, và gói cơm ấm nóng của một đêm mưa.

Rồi một chiều, Bím ngồi bên bờ sông, nhìn dòng nước đỏ ngầu chảy xiết như đang cuốn đi cả những điều nó chưa kịp gọi tên. Cúc Hương lặng lẽ ngồi xuống cạnh bên. Nó im lặng rất lâu, rồi bất chợt nói: “Hay mình đi Cà Mau đi Bím… dưới đó nghe nói đất rộng, rừng nhiều, người ta dễ sống hơn.”

Giọng nó nhẹ tênh, như thể đang kể một chuyện không phải của chính mình. Nó nói về một vùng đất hứa, nơi có rừng đước, rừng tràm còn hoang sơ, nơi người ta chỉ cần chịu khó là sống được. Nhưng trong mắt nó vẫn có chút ngập ngừng bởi chính nó cũng chưa từng đặt chân đến đó bao giờ. Nó chỉ nghe người ta đồn, rồi gom góp thành một giấc mơ để tự an ủi mình.

Bím không hỏi gì. Nó chỉ nhìn dòng nước trôi, như thể dòng sông đang mời nó trôi theo về một phương trời vô định.

Hai hôm sau, hai đứa bắt đầu cuộc hành trình vô định, chúng đi theo con đường không biết điểm đến. Cứ thế mà đi. Không bản đồ, không hẹn trước, chỉ biết hướng về phía có nhiều rừng dừa nước dẫn ra biển. Con đường dài hun hút, đất mềm lún dưới chân. Có khi phải lội qua những đoạn nước ngang lưng, có khi lại ngủ dưới gốc cây, nghe tiếng muỗi vo ve suốt đêm. Đói thì xin ăn ở những xóm ven sông, mệt thì ngồi xuống nghỉ.

Sau này, có người đồn rằng thấy hai đứa đi sâu vào rừng U Minh; có người bảo chúng lạc trong một con rạch; lại có người kể rằng chúng đã dựng được một cái chòi nhỏ, sống bằng cá và củ rừng. Chẳng ai biết chắc chuyện gì đã xảy ra với Bím và Cúc Hương.

Rồi một hôm, đài radio vang lên tin thực dân Pháp thua trận, chạy về mẫu quốc. Chính quyền sụp đổ kéo theo gia đình ông hội đồng Hanh. Căn nhà lớn biến thành công sản, người ở được giải thoát. Bà Hai cũng trôi dạt đâu mất, không ai biết.

*****

Một ngày gần tết Nguyên Đán người ta thấy Bím trở lại làng xưa với Cúc Hương và 1 bé gái giống mẹ với đôi mắt to và sáng. Bây giờ Bím là một anh trai cường tráng trên một chiếc ghe to chở đầy cá mắm từ miền U Minh.

Buổi chiều sau phiên chợ, Bím vô tình đi ngang ngôi chùa nhỏ cuối xóm ẩn khuất sau hàng dương liễu. Nó khựng lại. 

Một người đàn bà tóc bạc trắng đứng nơi hiên chùa, tay lần chuỗi hạt. Gần hai thập kỷ đã trôi qua, thời gian vô tình gợi lại những đường nét cũ, một dáng đứng, một bờ vai hao gầy khiến lòng nó dội lên một cảm giác quen thuộc đến thắt ngực. Khúc sông này, ngôi chùa này, và bóng hình kia... tất cả đột ngột đánh thức một luồng ấm áp từng che chở cho nó trong một đêm mưa gió xa lắc của tuổi thơ mồ côi.

Hai ánh mắt chạm nhau qua khoảng sân bạt gió. Cả hai đều khựng lại, ngơ ngác và dò xét.

Thời gian và khoảng cách quá dài để đưa ra một lời khẳng định chắc chắn. Không có tiếng gọi, không có bước chân tiến lại, chỉ có một luồng ấm rất nhẹ lan ra giữa khoảng trống. Họ chọn cách không phá vỡ sự tĩnh lặng của cửa thiền, chọn không khơi lại những nỗi đau đã ngủ yên dưới tro tàn quá khứ, nếu thật sự cả hai là người của năm xưa.

Bím đứng yên, rồi cúi đầu, một cái cúi rất thấp, rất trang nghiêm. Cái cúi đầu không lời nhưng chứa đựng vạn dặm ân tình, như muốn gửi lại món nợ nghĩa hiệp năm xưa, như muốn nói: “Con vẫn sống, và con chưa từng quên.”

Bà không gật đầu, không lên tiếng, nhưng bàn tay đang run rẩy bỗng siết chặt chuỗi hạt rồi từ từ buông lỏng. Đó là lời thừa nhận dịu dàng, một sự buông bỏ nhẹ nhàng đầy mãn nguyện: “Nếu đúng là con... thì ta mừng. Đi đi con, bão giông qua rồi.”

Gió sông thổi qua, tà áo màu đà của bà lay nhẹ. Khoảnh khắc ấy không có xác nhận, không có nước mắt rơi, nhưng có một sự ấm áp rất hiền đủ để hai tâm hồn từng lạc nhau cảm được rằng mình vừa chạm lại một điều tưởng đã mất.

Bím quay đi, lòng nhẹ tênh như vừa trút được tảng đá ngàn cân. Nó hiểu bà, hiểu thứ tình người đơn sơ nhưng vĩ đại giữa hai mảnh đời cùng cực năm xưa.

Ngôi chùa nhỏ dần khuất sau rặng dương liễu già đong đưa theo gió như vẫy tay từ biệt. Bím ngoảnh lại, thấy bóng mình hiện rõ trên mặt sông. Dưới chân chèo, dòng nước xẻ đôi đưa họ vào khoảng không vô định của hoàng hôn, nhưng lần này, hành trình của họ không còn tăm tối, vì trong lòng Bím đã được thắp sáng bởi ngọn lửa của lòng biết ơn.

Ở hiên chùa, người đàn bà vẫn đứng lặng. Chuỗi hạt đã ngừng từ lúc nào. Ánh mắt bà không còn nhìn xa xăm, mà dừng lại ở một điểm rất gần trên bến vắng. Sau bao năm trôi dạt, mảnh ký ức cuối cùng đã trở về đúng chỗ của nó, nằm lại vĩnh viễn và bình yên trong sâu thẳm tâm hồn bà.

Bà quay vào, bước chân nhẹ tênh, mang theo một câu chuyện không lời, nhưng ấm áp như hơi thở của một người vừa tìm lại được một điều thiêng liêng tưởng đã mất.

(Tưởng nhớ đến người ông khả kính. Dòng họ tôi là một trong những đoàn người đầu tiên về miền Nam khai khẩn)


Tim Nguyen

London, 01/ 2025

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2026

Thơ : VỀ QUÊ - Lê Đình Tiến.

 


VỀ QUÊ. 


Về quê thăm bụi cúc tần

Người xưa bỏ ngõ lở dần tường bao

Về quê thăm lại cầu ao

Cây xoan đã chặt chênh chao cánh chuồn.


Về quê cứ buổn buồn buồn

Thấy vuông củ sắn thấy tròn củ khoai

Bạc tiền sấp ngửa bàn tay

Chợ quê miếng thịt buộc dây đâu rồi...


Về quê đã bạc trầu vôi

Người ta yêu đã xa xôi dặm ngàn

Người yêu ta lai nhỡ nhàng

Thành cô bán thịt đầu làng gốc đa.


Về quê cứt lợn làm hoa

Ta về ta hái mẹ ta gội đầu

Hai bờ hoa nở sang nhau

Cúi mình lạy khúc sông sâu một lần


Về quê mua láng giềng gần

Nhỡ hôm hết gạo vay dần thổi cơm

Đường làng chân vướng rạ rơm

Xa xôi có nhớ quê hương cội nguồn...


Về quê xin mẹ đánh đòn

Bao năm phiêu bạt tội còn mải chơi

Về quê úp mặt giếng khơi

May trong đáy giếng còn soi thấy mình...


Thơ Lê Đình Tiến

Trong tập ( Mây Trôi Phía Làng )

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2026

Truyện thật ngắn.: CHIM QUYÊN & NHẢN LỒNG. p2 - H.V.H




 TIẾNG HÁT RU CON. (phần 2)

(... Gợi cảm hứng từ một câu hát ru dân gian Nam Bộ)

Ông ngoại ngồi xuống chiếc ghế cây nhỏ dưới gốc vú sữa sát hàng ba ngôi nhà lá. Đêm sâu nơi miệt quê dường như đến sớm…. Đứa nhỏ có lẽ ngủ say, nhưng theo thói quen tiếng võng trong nhà vẫn kẽo kẹt đều đều. Tiếng võng đưa cùng với tiếng vạc sành rúc ngoài bờ chuối, hòa nên những âm thanh da diết không biết vì đâu !?

Ông ngoại chậm rãi châm thêm chút dầu vào cây đèn rồi mới cất tiếng:

– Hồi chiều thằng chồng của bây ăn cơm chưa mà đi thăm lưới ngoài vàm vậy?

– Dạ ăn rồi Ba. Ảnh bới tô cơm rồi ăn trong bếp rồi. 

 Sau cái thở dài nhẹ, hình như được cố nén lại.

– Tội nghiệp thằng chồng bây, đáng lẽ nó làm thầy giáo mà giờ vô đây chân lấm tay bùn… . 

Rồi có lẽ thấy gợi ra chuyện không vui, ông lảng sang chuyện khác. 

– Hồi ba mới chừng tám, chín tuổi. Lúc đó ông nội con còn khỏe lắm.

Hồi ấy xứ mình hình như chưa có chỗ nào có đê bao. Mỗi năm nước sông Cửu Long dâng lên là đồng ruộng trắng xóa. Người ta không gọi là lụt. Người ta nói: mùa nước nổi về.

Nước đem theo phù sa, đem theo cá tôm, đem theo cả những hột giống từ miệt trên trôi xuống.

Sáng nào ông nội bây cũng chèo chiếc xuồng ba lá ra đồng.

Có bữa đi đặt lờ.

Có bữa giăng câu.

Có bữa chỉ ngồi ngó luồng nước chảy.

Ba tò mò nhìn ông rồi hỏi.

Ổng cười:

– Có nhiều việc phải ngồi mới thấy.

Ba hồi đó đâu hiểu.

Một bữa, hai ông cháu chèo ngang một đám cỏ năng.

Cá ròng ròng con đen nghịt.

Chỉ cần quơ cái rổ là đầy.

Ba mừng quá.

–  ...  Mình xúc đi !

Ông nội lắc đầu.

– Để tụi nó lớn.

– Người khác xúc mất.

– Thì kệ người khác.

Rồi ông chống dầm, nhìn đàn cá lấp loáng dưới nước.

– Con biết hông? Bắt một rổ hôm nay thì ăn được một bữa. Để tụi nó lớn thì năm sau cả xóm có cá ăn.

Ba ngồi im.

Chiếc xuồng trôi theo con nước.

Đi thêm một quãng, gặp một người đang gỡ lưới.

Con nào có trứng, ổng lựa thả xuống.

Ba ngạc nhiên.

– Sao thả vậy?

Người đó cười lớn.

– Để năm sau còn có cá mà bắt chớ!

Nói rồi ổng thả luôn mấy con cá nhỏ.

Ba tiếc đứt ruột.

Ông nội chỉ cười.

– Đó mới là người biết làm ăn.

Rồi cũng đến lúc nước rút. Trả lại đồng ruộng đất đai như trước cho con người. 

Hai ông cháu lên bờ cắt cỏ cho bò.

Ven hàng rào, dây nhản lồng bò kín một khoảng đất.

Trái vàng lúc lỉu.

Ba vừa định đưa tay hái thì ông nội nhắc.

– Lựa trái chín thôi.

– Còn mấy trái kia?

– Để đó.

– Đợi chín rồi hái.

Ông nội cười hiền.

– Chín cũng không nên hái hết. 

Ba ngơ ngác.

Đúng lúc ấy, một con chim đáp xuống giàn.

Nó nghiêng đầu ngó quanh rồi mổ một trái đã vàng rực.

Ăn được một lúc, nó vỗ cánh bay sang cây trâm bầu bên mé rạch.

Trên giàn vẫn còn mấy trái đong đưa.

Ba chỉ lên.

– Nó bỏ mấy trái kia kìa !

Ông nội bây nhìn theo con chim đã khuất.

Ổng cười, ánh mắt hiền như nước sông buổi sớm.

– Có khi nó no. Có khi nó nghe tiếng mình nên bay. Có khi trái chưa vừa ý nó. Chuyện của con chim, ai mà biết hết.

Ông bước lại gần giàn dây, vuốt nhẹ một chiếc lá.

– Nhưng bây có thấy hông?

– Dạ thấy gì ?

– Vẫn còn trái.

Ba gật đầu.

Ông nội nói tiếp, giọng chậm rãi:

– Nhờ còn mấy trái này mà hột mới già. Hột già mới mọc cây. Cây mới có trái. Trái mới nuôi chim. Chim lại đem hột đi khắp nơi.

Ổng nhìn ba.

– Đó là cái cách đất trời giữ giống.

Ba cúi xuống.

Dưới chân hàng rào, mấy cây nhản lồng non đang bò lên từ đám lá mục.

Ba hỏi:

– Vậy có ai trồng không ?

Ông nội bật cười.

– Nếu biết ai trồng thì đâu còn là chuyện hay.

Hai ông cháu ngồi nghỉ dưới bóng mát.

Gió từ ngoài đồng đưa mùi lúa trổ thơm ngan ngát.

Ông nội tách nửa trái nhản lồng đưa cho ba.

Ruột trái ngọt thanh.

Ổng vừa ăn vừa nói:

– Con người mình cũng phải học theo đất trời.

– Dạ học sao ?

– Ăn thì ăn.

Ổng ngừng một chút.

– Nhưng đừng lấy hết.

Ba không trả lời.

Hồi đó còn nhỏ quá.

Làm sao hiểu hết lời ông nội. 

Chỉ thấy xa xa, có bầy chim nào đó lại bay về.

Có con đáp xuống giàn dây nhản lồng.Lần này nó chỉ mổ thêm một trái rồi cất cánh.

Những trái còn lại vẫn vàng óng dưới nắng chiều.

…….

Ông ngoại ngừng kể.

Ông đưa mắt nhìn giàn nhản lồng ngoài sân nhà mình.

Đã mấy mươi năm trôi qua.

Con chim ngày ấy chắc chẳng còn nữa.

Ông nội cũng đã thành người thiên cổ.

Nhưng mỗi mùa trái chín, chim vẫn về.

Và trên giàn, bao giờ cũng còn vài trái đong đưa sau những bữa chim ăn.

Ông khẽ mỉm cười:

– Hồi nhỏ, ba cứ nghĩ là chim bỏ sót.

Rồi ông nhìn về phía con gái trong nhà. 

– Giờ già rồi, ba lại thích nghĩ... đó là phần đất trời để dành cho mùa sau.

……

Qua không biết bao nhiêu mùa nước nổi…  .

Đứa bé nằm trong võng ngày nào giờ nghe đâu đã là một tiến sĩ, đang nghiên cứu một giống cá sinh sản nhiều và phát triển nhanh trong mùa nước nổi.

Miền đất phía Tây này hưởng lợi từ hai nhánh sông lớn, hai nhánh sông lớn bao la đến mức phải thoát ra biển bằng chín cửa sông !... . Giờ đây, cho đến khi mà cầu và đường được mở mang xây dựng. Miền đất này còn tạo thêm ra biết bao nhiêu là của cải và nguồn lực. 

Đơn sơ và mộc mạc như dây nhản lồng lúc nào cũng bình dị vươn cao mang đến cho đời những mùa trái ngọt!... ./.

H.V.H ( 7-2026 )

Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2026

Cuộc sống : LÒNG TỰ TRỌNG - St trên FB.

 


LÒNG TỰ TRỌNG 

Cầm ly cà phê uống dở, cậu sinh viên uống cạn rồi đi về hướng chủ quán. Cậu lấy ra 10.000 trả tiền ly cà phê vừa được mời. Cậu bảo "con uống thì con trả. Chú cho con đánh giày để có thu nhập là con cám ơn nhiều lắm rồi…".

Mặc cho dòng người qua lại, cậu thanh niên vẫn cặm cụi đánh giày. Cậu ngồi trên thùng nhựa nhỏ, một tay cho vào bên trong chiếc giày, một tay cầm bàn chài phớt sơ lớp bụi.

Một ít xi được bôi lên. Xong chiếc này đến chiếc khác. Khi cả hai chiếc thấm lớp xi, cậu kẹp chiếc giày vào đùi dùng một miếng nỉ chà lên. Miếng nỉ đi đến đâu, giày bóng loáng đến đó… 

Cậu còn rất trẻ mặt mũi khôi ngô sáng sủa. Chiếc quần xanh và áo sơ mi trắng gọn gàng phẳng phiu. 

Đặc biệt, đôi mắt sáng long lanh, cậu làm việc chăm chú, cẩn thận và tỉ mỉ. Buổi sáng chủ nhật bên cạnh siêu thị Coop Mart Thủ Đức người đông nhưng cậu cũng mặc. Vẫn cặm cụi trong công việc…

Đôi giày đã đánh xong bóng loáng như mới. Cầm đến trao cho khách, nhận tiền công, cậu cúi người cám ơn rồi thu lại đôi dép cho vào thùng.

 Hàng ghế nhựa sắp dọc theo bức tường của quán cà phê vỉa hè cạnh siêu thị vẫn còn trống. Cái thú uống cà phê vào buổi sáng sớm với tờ báo trên tay dường như là thói quen của những người Sài Gòn. Hớp một ngụm cà phê nóng, đặt tờ báo lên đùi, nhìn lãng đãng ra đường…

Tôi và anh Hòa, người bạn thâm giao ngồi vào chiếc bàn kê sát tường. Không cần gọi, dường như chủ quán đã quá quen thuộc với chúng tôi. Hai ly cà phê sữa nghi ngút khói…

Khách đông dần. Mỗi người vào quán mang một tâm trạng khác nhau. Người uống vội rồi ra đi. Người nhâm nhi chậm rãi. Chúng tôi ngồi bên nhau yên lặng một hồi. Bỗng anh Hòa nói với tôi về một câu chuyện cũ. Giọng anh chùng xuống khi nhắc đến những đau buồn. 

Thôi anh ạ, tôi nói với anh ấy, mình hãy nhìn về phía trước. Chuyện gì đã qua, cho qua luôn đi.

Anh trầm ngâm. Một thanh niên tiến lại gần bên anh: “Chú cho con đánh giày nha chú”. Thì ra cậu thanh niên lúc nãy. Anh Hòa tháo đôi giày nhận đôi dép từ anh thanh niên. Tôi ngăn lại: “Ngồi xuống uống ly cà phê xong rồi đánh cũng được”.

Ly cà phê đá được mang ra. Khuấy nhẹ. Cháu đi đánh giày lâu chưa? Lễ phép, anh thanh niên thỏ thẻ, dạ chỉ mới vài tháng nay thôi chú ạ.

Câu chuyện của chúng tôi với thanh niên đánh giày cởi mở dần. Thì ra, cậu ấy là sinh viên của trường đại học Bưu chính viễn thông. 22 tuổi, quê Quảng Ngãi. Nhà nghèo rời quê hương vào thành phố trọ học, cậu không tìm ra được một công việc nào có thể có thêm thu nhập để trang trải những chi phí ăn học. 

Một người quen gợi ý cho cậu em công việc này và đã cho thuê chiếc thùng nhựa đầy đủ đồ nghề với giá 10.000đ/ngày để kiếm sống. 

Những ngày đầu còn bỡ ngỡ, cậu ta vào các nhà hàng, quán lớn để tìm khách nhưng không một nơi nào cho vào...

“Chỉ có những quán vỉa hè như thế này con mới kiếm sống được chú ạ. Không biết có phải người nghèo mới thương người nghèo không nhưng con thấy dường như là thế...

Giọng cậu sinh viên chùng xuống khi liếc nhìn thấy những hình ảnh bão lũ trên tờ báo chúng tôi cầm trên tay. "Mùa này quê con thiệt hại nhiều quá. Nhà con nằm trong rốn lũ nên cả nhà tan hoang. Trước đây con đánh giày kiếm thêm tiền học giờ đây phải làm nhiều hơn để có dư đồng nào gởi về phụ giúp gia đình".

Có một chút gì cay cay trên khóe mắt. Đời một sinh viên vất vả đến thế sao?

Trong lúc hàng ngày nhiều sinh viên hồn nhiên, vô tư lự, vui chơi, rong ruổi khắp các nẻo đường thì ở một góc xa thành phố vẫn còn có một sinh viên xa quê lăn lộn mưu sinh bằng cái nghề đơn giản không cần chút chất xám nào.

Ly cà phê vơi hơn một nửa. "Chú cho phép con làm việc nhé" rồi cậu cầm đôi giày ra một góc xa ngồi say sưa với công việc, 15 phút sau lại mang vào. Bao nhiêu vậy cháu? Dạ cho con 7.000.

Anh Hòa cầm tờ 10.000 đưa và nói cháu khỏi thối. Thế nhưng thật bất ngờ, 3.000 lẻ được cậu ấy móc ra trả lại. Con chỉ lấy đúng giá.

Cầm ly cà phê uống dở, cậu sinh viên đánh giày uống cạn rồi đi về hướng chủ quán. Cậu lấy ra 10.000 trả tiền ly cà phê vừa uống. Tôi và anh Hòa bất ngờ quá ngăn lại. Chú đãi cháu mà. "Dạ không thưa chú, con uống thì con trả. Chú cho con đánh giày để có thu nhập là con cám ơn nhiều lắm rồi…".

Chúng tôi ngớ ra. Dường như cả tôi và anh bạn lần đầu tiên mới gặp trường hợp này. Một người trẻ rất khó khăn trong cuộc sống nhưng vẫn giữ được lòng tự trọng. 

Giá như, sinh viên nói riêng và thanh niên nói chung ai cũng như anh sinh viên này chắc chắn xã hội sẽ còn đẹp hơn rất nhiều…

SƯU TẦM. 

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2026

Thơ : NHỚ SÀI GÒN !- Hong Khuu.

 



NHỚ SÀI GÒN !

Từ dạo ra đi thương nhớ Sài Gòn

Nắng nơi ấy biết có còn rực rỡ

Trời có xanh như đã từng một thuở

Mưa có buồn trên phố nhỏ ngày xưa


Có còn không tiếng gà gáy ban trưa

Chiều hò hẹn có chợt mưa chợt nắng

Đêm trở giấc còn tiếng rao lanh lảnh

Tiếng chân khua trong thanh vắng dội về


Giờ Sài Gòn còn nồng nã bụi xe?

Khu ổ chuột đêm nằm nghe mì gõ

Bùi Thị Xuân quán xôi chè còn đó

Bến Bạch Đằng lộng gió lúc chiều rơi


Có còn không thương xá Tax một thời

Để hoài niệm mãi khung trời xưa cũ

Một mảnh vỡ đời trôi trong quá khứ

Mỗi đêm về thành nỗi nhớ không nguôi


Lúc nằm yên khi động đậy đâm chồi

Cho quay quắt một kiếp người viễn xứ

Nhấp vị cà phê đắng dòng tâm sự

Ta không về đành mang nợ người thôi


Xa thật rồi ...nhớ lắm Sài Gòn ơi!

Ngàn con chữ chẳng đủ lời diễn tả

Bước lưu lạc dắt ta qua muôn ngả

Men theo đời là tất cả nhớ thương


Có thể nào đi ngược đoạn sông buồn

Gánh thương nhớ qua mưa nguồn chớp bể

Đào ký ức tìm lại thời hoa lệ

Trăm năm về hoang phế với thời gian


Cũng đành cam cho số kiếp đa mang

Để mộng mị đổ tràn đêm hoài cổ

Sài Gòn đó một khoảng đời tuổi nhỏ

Đi bao xa cũng thương nhớ Sài Gòn

HONG KHUU. 

(Garland, 17/09/2025)

Qua rồi : CƠM KÝ TÚC XÁ - Hong Khuu.

 



CƠM KÝ TÚC XÁ

Hồi đó… lại "hồi đó"! Nghe riết muốn đập bàn, mà hễ mở miệng là nó chui ra trước. Chắc già thiệt rồi. Tuổi già kéo tới sầm sập như cơn giông tháng Bảy, biến thời gian thành ông già hàng xóm khó tánh, ngày nào cũng chống cây gậy tre gõ cộc cộc vô đầu tui mà càm ràm: "Ê, quay lại coi. Coi cái thời thanh xuân dữ dằn của mầy kìa!" Còn tương lai thì đứng tuốt tận chân trời, mỏng lét như làn sương trên sông Vàm Cỏ Đông, nhìn thấy vậy chớ với hoài không tới, cũng chẳng còn hứa hẹn được bao nhiêu. Thành thử, hễ lòng chùng xuống là tui lại lôi mấy chuyện cũ ra nhai như bò nhai cỏ khô. Nghe tưởng ngán, mà thiệt tình… ghiền dữ lắm. Người ngoài nghe chắc ngấy tới ót, còn với tui, mấy tuồng tích cũ kỹ ấy lúc nào cũng xanh rờn như đọt mồng tơi sau mưa, cứ ngọ nguậy hoài trong xó nhớ.

Vừa hé miệng là ký ức mở cửa cái rụp, kéo tay tui leo lên chiếc xe đò chạy bằng nỗi nhớ. Không cần xăng, không cần vé, chỉ cần trái tim còn biết nhớ là xe chịu nổ máy. Chiếc xe cà tàng lóc cóc ngược dòng năm tháng, bánh xe kêu két két như than thở vì già, băng qua những mùa mưa đã tạnh, những mùa nắng đã xa, rồi dừng ngay cái ngày hôm qua còn thơm mùi khói bếp, còn ấm hơi người, còn văng vẳng tiếng ai cười phía sau lưng. Thiệt ra, muốn về tuổi thơ đâu cần mua vé. Tui đi bằng câu chuyện, đi bằng nỗi nhớ, đi bằng những điều tưởng đã quên mà chưa bao giờ chịu mất. Trên con đường đó, tui gặp đủ kiểu người. Người bể nát như cái chén sành rớt xuống sân gạch. Người trầy trụa như trái xoài bị gió quật. Nhưng kỳ lạ lắm, trong đống mảnh vỡ của số phận, lúc nào cũng còn sót lại vài mảnh sáng, đủ để mình cúi xuống nhặt lên, lau sạch bụi đời rồi cất kỹ làm vốn liếng mang theo tới cuối cuộc đời.

Nhớ tới đó là ruột gan cồn cào. Nhớ cái thời sinh viên nghèo rớt mồng tơi, đi học mang theo cả bầu trời ước mơ, còn cái bụng thì rỗng tuếch, đánh trống còn đều hơn đội nghi thức. Trưa trưa, tiếng kẻng tan trường vừa boong một cái là mấy cái bao tử đồng loạt biểu tình, réo còn xôm hơn đám con nít thấy mẹ xách bịch bánh đi chợ về.

Bữa cơm ký túc xá nằm khiêm tốn trong cái dĩa nhôm móp méo, đen thui như cái đít nồi nội kho cá ở quê. Món chính thì quanh năm suốt tháng là tà hủ. Ăn riết tưởng mình đang tu khổ hạnh để sớm thành chánh quả. Hoạ hoằn lắm mới có một bữa cơm có thịt vào ngày học sinh, sinh viên mùng Chín tháng Giêng. Tin đó lan nhanh hơn gió. Đứa nào cũng ôm phiếu ăn chạy như sợ chậm một bước là con heo đổi ý. Thịt thì quý như vàng, ai cũng ráng dành lại bữa sau. Mà hồi đó làm gì có tủ lạnh. Mấy miếng thịt cứ thản nhiên nằm chung với không khí. Vậy mà lạ nghen, tui với đám bạn chung phòng hổng đứa nào bị Tào Tháo rượt. Không biết nhờ hên, nhờ bao tử gan lì, hay nhờ tuổi trẻ lúc đó nghèo tới mức vi trùng cũng thấy... tội nghiệp.

Lên căng tin, đứa nào cũng phải thủ sẵn cây muỗng. Quên đem theo thì chỉ còn nước luyện tuyệt kỹ "ngón diệu thủ". Đám con gái vừa ăn vừa lom khom đãi thóc, lựa từng hột cơm lẫn sạn, y chang Lọ Lem lựa đậu cho dì ghẻ. Chỉ khác là Lọ Lem còn có chim sẻ phụ, còn tụi tui chỉ có mấy cái bụng đói meo mốc mỏ làm cổ động viên. Mấy ông con trai thì khỏi nói. Thóc, sạn, cơm... vít đại. Lỡ cắn trúng cục sạn nghe "cốp" một cái cũng tỉnh bơ, coi như hôm đó... bổ sung thêm chất khoáng. Đói thì đói, chớ óc hài hước tuyệt đối không chịu suy dinh dưỡng. Người ta tức cảnh sinh tình, còn tụi tui tức mình sinh nói bậy. 

Rồi "kiệt tác" truyền miệng ra đời, bẻ cong bài Thu Điếu của cụ Nguyễn Khuyến thành bản trường ca của cái bao tử:

Tô canh lạnh lẽo nước trong veo

Chiếc lá mồng tơi bé tẻo teo

Cơm nhai với sạn nghe rào rạo

Vít sạn thóc ra, đánh cái vèo!

Giờ nghĩ lại vẫn thấy mắc cười. Đám sinh viên ngày đó chưa kịp học hết cái khổ đã học xong cách cười với cái khổ. Không phải vì đời dễ, mà vì nếu không cười thì nước mắt chắc cũng đủ nấu thêm nồi canh mồng tơi.

Nhưng cười đâu có nghĩa là đời chịu thương mình.

Thi đậu đại học đã trầy da tróc vảy. Học cho xong còn trầy vi tróc vảy hơn. Đến lúc ôm tấm bằng đi xin việc mới biết đó mới là cửa ải cuối cùng. Tui đây, đường đường cử nhân, tay nâng cái bằng đại học còn thơm mùi mực, lòng ôm đầy mộng tưởng. Sau bao ngày gõ cửa khắp nơi, cuối cùng cũng được nhận vô làm... nhân viên vệ sinh của một khách sạn năm sao.

Ờ, vậy đó.

Đời nhiều khi khoái chơi chữ lắm. Đang bay thì kéo xuống. Đang cười thì chọt cho khóc. Đang mơ thì lay cho tỉnh. Ngày đầu tiên cầm cây lau nhà đi giữa đại sảnh sáng choang, tui thấy cái bóng mình phản chiếu trên nền gạch còn rõ hơn cả tấm bằng cất trong ngăn tủ. Cây lau quét bụi dưới sàn, mà cũng quét luôn chút tự ái non nớt còn sót lại của tuổi trẻ. Hôm đó, tui mới hiểu: mình học để làm người, còn đời dạy mình làm lại. Tấm bằng đâu có vô dụng, chỉ là nó chưa gặp đúng cánh cửa dành cho mình.

Giờ ngồi kể lại, tui không còn thấy tủi nữa, chỉ thấy thương. Thương cái con nhỏ ngày xưa vừa đói, vừa mệt, vừa té đau mà vẫn ráng đứng dậy, phủi quần rồi đi tiếp. Thương những bữa cơm nhiều sạn hơn thịt, nhiều tiếng cười hơn nước mắt. Và thương cái cuộc đời lạ lùng, lúc tưởng mất là đang được, lúc tưởng thua là đang học, lúc tưởng đi lạc thì hóa ra lại tìm thấy chính mình.

Bởi vậy, tui kể hoài kể mãi không phải để khoe mình từng khổ, mà để nhắc lòng rằng ai rồi cũng có một thời phải lượm từng mảnh đời bể nát mà vá lại thành cuộc sống. Điều kỳ diệu không nằm ở chỗ mình chưa từng vỡ, mà là sau bao nhiêu lần nứt toác, mình vẫn còn đủ sức ngồi đây, cười một cái rồi kể tiếp.

Còn bà con thì sao? Trong đời, có cú đau nào từng quật mình té muốn gãy sống lưng, để bây giờ mỗi lần nhắc lại, miệng cười trước... rồi mắt mới kịp cay sau?

HONG KHUU.

Tản mạn : HÀO SẢNG MIỀN NAM - Lữ Minh Trí.

 


HÀO SẢNG MIỀN NAM 

(... Tôi chả thấy dân Nam hào sảng gì cả, có được cho, được nhận gì bao giờ đâu ! )

Khi đọc những dòng bình luận về sự hào sảng ở trong Nam, tôi khá buồn và nghĩ có lẽ bạn đang nhìn sai thước đo.

Bạn đang nhầm giữa hào phóng và hào sảng. 

Có những thứ không thể “thấy”, “nhận” theo kiểu thông thường. Nhiều khi phải sống cùng, đi qua vài chuyện, rồi mới cảm được.

Khí chất hào sảng Nam Bộ không chỉ ở tiền.

Ở Sài Gòn, ở miền Tây, nhiều khi nó là không khí.

Một ngày nọ, tôi ngồi ở Starbucks trên đường Nguyễn Thị Minh Khai. Nếu bạn chưa biết thì ở chỗ đó, quán không nhận tiền mặt. Có một cụ lớn tuổi đứng loay hoay muốn mua chút đồ, nhìn có vẻ là mua quà cho con cháu. Cụ lựa rất lâu, trầm ngâm tới lui, cuối cùng cũng ưng được hai món.

Tới lúc thanh toán mới kẹt. Cụ chỉ có tiền mặt, mà quán không nhận tiền mặt. Tôi thấy vậy nên bước tới, nói để cháu quẹt thẻ giúp, cụ đưa lại tiền mặt cho cháu là được.

Chuyện nhỏ thôi, không có gì đáng kể. Nhưng lúc đó, tự nhiên trong tôi bật lên rất nhiều chuyện cũ, như có ai khều nhẹ vô một cái ngăn ký ức đã lâu không mở.

Hồi nhỏ, tôi từng đi học trên những con đường đất sét ở một vùng quê nghèo. Mùa mưa, nước ngập tới đầu gối. Sáng đi rất sớm, chiều về nếu ba mẹ không đón được thì hai chị em cứ đi bộ mấy cây số về nhà. Trên đường thấy cô chú nào chạy ngang, tôi lại học lỏm một câu cửa miệng:

Cô ơi, chú ơi, cho con có giang (quá giang) về nhà.

Đa phần người ta đã chạy huốt qua (chạy lố) rồi mới dừng lại, quay đầu nhìn lại rồi kêu: Lên xe đi con.

Có khi họ chở một đoạn. Có khi không tiện thì thôi. Nhưng chỉ cần một người dừng lại, đoạn đường sình lầy hôm đó tự nhiên ngắn hơn rất nhiều.

Năm tôi mới lớp 3, mẹ tôi bị tật đãng trí đã lâu. Có hôm đưa hai đứa con đi học xong, mẹ quên mất chuyện phải đón. Hai đứa nhỏ cứ đinh ninh rằng mẹ sẽ lấy xe đạp ra rước, nên ngồi đợi miệt mài.

Tới tối khuya, ba tôi đi làm về hỏi: Con đâu em?

Cả nhà mới tá hỏa, hai đứa nhỏ vẫn còn ở trường.

Lúc đó trường đang xây mới mấy dãy phòng. Mấy chú thợ hồ thấy hai đứa nhỏ ngồi đợi tội quá, mới lôi vô căn tin, kêu bà chủ nấu cho hai gói mì con tôm. Các chú định trả tiền, mà bà chủ căn tin cũng không lấy, nói coi như cho con cháu trong nhà ăn.

Hai gói mì con tôm hồi đó, tính bằng tiền thì không đáng bao nhiêu. Nhưng với hai đứa nhỏ ngồi trong một cái trường vắng, chờ hoài không thấy ai tới đón, nó lớn hơn rất nhiều so với giá tiền của nó.

Nó làm mình nhớ hoài.

Tôi hay ăn cơm Má Tư ở Trần Cao Vân. 

Tôi gọi má, gọi tía, vì thật sự không khác gì ăn cơm nhà. Nhiều người đi cùng tôi chắc sẽ thắc mắc, sao đi ăn quán mà gọi thân như vậy. Nhưng nếu họ ngồi đó đủ lâu, ăn vài bữa, nghe vài câu chuyện, họ sẽ hiểu.

Có lần tôi ăn cơm gặp mưa, má Tư nói:

Đi vô trong xếp mấy cái ghế lại nằm ngủ trưa tí đi con. Mưa đầu mùa đi mắc mưa là bịnh nha con.

Vậy là tôi ăn cơm xong, vô trong quán xếp ghế nằm ngủ quên luôn tới chiều. Quán mát, trời mưa lả tả, mà tôi thì mất ngủ kinh niên, gặp bữa ngủ được là ngủ sâu. Buồn ngủ gặp chiếu manh.

Nghe rất khó tin, nhưng với tôi lại rất bình thường. Có những chỗ ở Sài Gòn không chỉ bán cho mình một dĩa cơm. Nó cho mình một chỗ để ngồi xuống, nghỉ ngơi, thấy mình không phải người khách lạ.

Ở Sài Gòn, chuyện ăn cơm, uống cà phê xong phát hiện có ai đó đã trả tiền giùm mà mình không biết là ai, cũng không phải chuyện lạ. Tôi từng gặp nhiều lần, và nhiều khi chính tôi cũng làm vậy. Không phải để ai mang ơn. Nhiều khi chỉ thấy hạp thì làm, thấy người ta vui thì mình vui thôi.

Có lần tôi đi ăn bún riêu ngoài Hồ Con Rùa, gần đó có một nhóm anh em thợ xây dựng đang sửa công trình. Trong nhóm có một anh dẫn theo đứa con trai nhỏ đi phụ, nhìn rất tội. Ăn xong, mấy anh gọi tính tiền thì quán nói bàn kia đã thanh toán hết rồi, có để lại lời nhắn: Trả tiền cho thằng cháu nội.

Anh có con nhỏ ngơ ngác hỏi:

Ủa, tui có quen ai đâu mà được tính tiền giùm, thằng cháu nội nào vậy? thằng con tui hả? Ba tui đi bán muối lâu rồi.

Rồi cả nhóm cười khà khà, kiểu cười rất miền Nam. Vui vì cái sự dễ thương ngang hông đó.

Người trả tiền chắc cũng đi mất rồi. Không để lại tên, không cần ai mang ơn. Chỉ có cái câu “thằng cháu nội” ở lại, nghe vừa mắc cười, vừa thương, vừa rất Nam Bộ.

Miền Tây còn rõ hơn nữa. Bạn lỡ đường, ghé đại một nhà xin miếng nước, xin nghỉ nhờ một lát, nhiều khi người ta không hỏi bạn là ai trước, mà hỏi bạn ăn cơm chưa. Cái bụng người miền Tây nhiều khi vậy đó, rộng như cái sân trước nhà, có gì dọn nấy, không giàu cũng không để khách đứng ngoài mưa.

Người xưa nói người Gia Định trọng nghĩa khinh tài. Hồi nhỏ đọc mấy chữ đó tôi thấy xa lắm, tưởng là chuyện trong sách. Lớn lên mới hiểu, có những câu không phải tự nhiên mà sống lâu. Nó sống được vì vẫn còn nằm trong cách người ta đưa cái ly nước, dọn thêm chén cơm, quay đầu xe giữa đường, nấu hai gói mì cho hai đứa nhỏ ngồi đợi mẹ.

Còn ai hỏi hào sảng, khảng khái có từ khi nào, chắc phải hỏi cụ Nguyễn Đình Chiểu, người sinh ra ở đất Gia Định. Cú phán của cụ trong Lục Vân Tiên, tới giờ đọc lại vẫn nghe như một tiếng chân bước thẳng vô chuyện bất bình:

Vân Tiên ghé lại bên đàng,

Bẻ cây làm gậy nhắm làng xông vô.

Không cần nhiều lời. Thấy chuyện không đành lòng thì ghé lại. Có cây thì bẻ cây, có tay thì đưa tay, có một bữa cơm thì mời ăn một bữa cơm.

Cái hào sảng đó không nằm ở chỗ người ta có dư bao nhiêu để cho, bao ai ăn uống. Nó nằm ở chỗ, trong khoảnh khắc thấy người khác bị kẹt, người ta không nỡ để mặc.

Nó cũng khác với câu “lá lành đùm lá rách”.

Lá lành đùm lá rách là một đạo lý đẹp, nhưng trong đó vẫn có hình ảnh người còn lành che cho người đang rách, người có điều kiện hơn đỡ người khó hơn.

Còn hào sảng miền Nam nhiều khi không đặt ai ở trên, ai ở dưới. Nó không cần người kia phải khổ tận cùng mới giúp, cũng không cần người giúp phải dư dả gì. Thấy người ta kẹt thì gỡ giùm một chút, thấy thương thì làm, thấy hợp bụng thì đãi, làm xong cười khà khà rồi thôi.

Người được giúp không thấy mình bị ban ơn, người giúp cũng không thấy mình đang làm chuyện tốt chuyện lớn lao.

Cái hay nằm ở chỗ đó.

Trong người tôi là những ký ức của một đứa nhỏ từng được rất nhiều người lạ chìa tay ra. Một đứa nhỏ từng đứng bên đường sình lầy xin quá giang, từng ngồi trong trường vắng tanh ăn hai gói mì con tôm, từng ở những quán cơm mà chủ quán xem mình như con cái, từng thấy có người trả tiền bữa ăn rồi đi mất, không để lại cái tên nào cho mình mang ơn.

Thành ra sau này, khi thấy ai đó đang kẹt, tôi hay bị một cái quán tính rất lạ: đưa tay ra trước rồi tính sau.

Có lẽ hào sảng miền Nam là vậy.

Nó không ồn ào như một bài học đạo đức, cũng không sang trọng như một lời tuyên bố về lòng tốt. Nó giống hơi nước trong một căn bếp đang nấu cơm, không ai chỉ vô đó để khoe, nhưng bước vô là thấy ấm.

Hào phóng là rộng tay. Hào sảng là rộng lòng, rộng bụng, rộng cái khí chất của con người.

Vậy nên tiền bạc, vật chất chưa bao giờ là thước đo đúng nghĩa cho hai chữ hào sảng.

Hào sảng miền Nam, rốt cuộc, không phải là mình có bao nhiêu tiền, có cho ai cái gì không.

Mà là tới lúc người khác bị kẹt, chuyện đưa tay ra

mình thấy nó như chuyện tất yếu, như cần không khí để thở.

Bài này tôi chỉ viết từ một góc nhìn hẹp câu chuyện thật của một người Sài Gòn.

Tôi cũng có một người anh, cũng là người thầy, giai Hà Nội. Mỗi lần tôi ra ngoài ấy, hễ nói thuê hotel ở là bị mắng liền: “Ra nhà anh mà ở, mày dở hơi à?” 😊 

Rồi có cu em cũng dân Hà Nội, biết tôi thích uống nước “đẹp”, nó đem từ tận ngoài đó vào biếu một hũ sấu ngâm. Tôi hỏi: “Bộ trong đây không có hả?” 

Nó nói: “Làm sao ngon bằng em đem tận gốc vô biếu anh được.” 

Nên tôi nghĩ cái tình, cái nghĩa, cái sự rộng lòng thì vùng nào cũng có. Bài này chỉ là một lát cắt nhỏ về cái không khí tôi đang sống và cảm nhận ở Sài Gòn.

Những bình luận thô tục và thiếu chiều sâu, trải nghiệm hẹp nhưng thích quy chụp rộng sẽ được mời đi. Nhìn một góc rất hẹp vui lòng đừng nói lớn 👍

LỮ MINH TRÍ (FB) 

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2026

Cuộc sống : CON HẠNH PHÚC LẮM! - St trên FB.

 




CON HẠNH PHÚC LẮM! 

Một hôm đang trên đường đi làm về nhà, chuông điện thoại bỗng reo lên. Anh vừa bấm máy trả lời thì nghe giọng của một cô bé thều thào từ đầu dây bên kia: 

- Ba ơi! Ba nhanh về nhà nhé, con nhớ ba lắm!

Anh biết là ai đó đã gọi nhầm số, vì anh không có con gái mà chỉ có một cậu con trai mới vừa 6 tuổi. 

Chuyện này cũng không có gì lạ nên anh trả lời:

- Gọi nhầm số rồi nhé.

Thế nhưng số điện thoại kia vẫn tiếp tục gọi đến, anh bắt đầu cảm thấy phiền phức. Anh quyết định không nghe máy. Điều khiến anh ngạc nhiên là trong khi anh kiên quyết không trả lời thì số điện thoại kia vẫn kiên trì gọi cho bằng được. Cuối cùng, anh nghe máy. Vẫn là giọng nói yếu ớt của một cô bé:

- Ba ơi! Ba nhanh về nhé, con nhớ ba lắm. Mẹ nói con không gọi nhầm số đâu, chính là số điện thoại của ba đấy. Ba ơi, con đau lắm. Mẹ nói ba rất bận nên chỉ có mình mẹ chăm sóc con. Ba ơi, con biết ba đi làm vất vả, nếu ba không về với con được thì ba hôn con qua điện thoại một lần được không ba?

Yêu cầu ngây thơ của cô bé khiến anh không có cách nào từ chối. Anh đồng ý và anh hôn cô bé qua máy. Có tiếng nói đứt quãng của cô bé qua điện thoại:

- Con…cảm ơn…ba, con…vui…lắm, con…hạnh…phúc…lắm...ba ơi...

Mấy hôm sau, số điện thoại của cô bé lại gọi… nhưng người gọi lần này không phải cô bé mà là giọng nói nặng trĩu của một người phụ nữ:

- Xin lỗi ông! Mấy ngày hôm nay thật làm phiền ông nhiều, tôi thực sự xin lỗi! Tôi đợi lo xong mọi chuyện cho cháu rồi mới gọi điện lại xin lỗi ông sau. Con bé mà mấy lần trước gọi điện cho ông là con gái tôi, số nó khổ lắm, mới sinh ra đã mắc bệnh ung thư xương. Ba cháu cũng vừa qua đời trong một vụ tai nạn giao thông. Tôi không dám cho con biết tin buồn này vì hàng ngày cháu đã phải chịu sự dày vò đau đớn của các đợt điều trị hóa chất. Mỗi lần không chịu đựng được sự đau đớn đó, miệng cháu cứ gọi ba không ngừng bởi anh ấy luôn động viên cháu phải mạnh mẽ vượt qua. Tôi thực sự không nỡ chứng kiến cảnh cháu như thế nên liều nghĩ ra một số điện thoại để nói dối nó.

Nghe thế, anh vội vàng hỏi người phụ nữ:

- Vậy cháu bé bây giờ ra sao rồi?

Người phụ nữ kia trả lời:

- cháu đi rồi ông ạ! Cháu khoe đã được ông hôn... và cháu ra đi với nụ cười mãn nguyện. Trước khi đi, tay cháu còn ôm chặt cái điện thoại vào lòng.

Nghe xong, anh sững người không biết nói gì nữa.

ST TRÊN FB. 

Thơ : TÔI VỀ ĐỐT ĐUỐC... - Văn Châu.

 



TÔI VỀ ĐỐT ĐUỐC SOI NHÂN THẾ


Tôi về đốt đuốc soi nhân thế

Thấy đời còn lắm nỗi tang thương.

Hỏi sao không buốt lòng đau quặn

- Vì ai gây tạo nỗi đoạn trường?


Tôi về đốt đuốc soi nhân thế

Điểm mặt từng tên: lũ bội tình

Hỡi anh, hỡi chị- Sao có thể

Cứ vui mừng làm người cúi xin? (*)


Tôi về đốt đuốc soi nhân thế

Chợt hiểu vì sao Mẹ vẫn buồn

Chinh chiến tan rồi; im tiếng súng

- Mà sao đời Mẹ mãi tang thương?


Tôi về đốt đuốc soi nhân thế

Nghẹn lòng, ứa lệ trước em thơ

Chén cơm khoai sắn chưa đầy bụng

Trường lớp còn xa tận tít mờ.


Tôi về đốt đuốc soi nhân thế

Nghe tiếng kêu than dậy đất trời

Núi - rừng - sông - biển hờn ai oán

Mỗi ngày biền biệt mỗi tin vui.


Tôi về đốt đuốc soi nhân thế

Soi thử lòng mình rõ trắng đen?

Đêm đêm nhìn bóng mình trên vách

Như Đạt-Ma diện bích tọa thiền.


Cũng may! tóc bạc, lòng chưa bạc

Vẫn còn đau theo vận nước non.


VĂN CHÂU.


____________________________


(*) Ý nhạc của Trịnh Công Sơn

https://www.youtube.com/watch?v=kU_L96WxWLg

Thơ : HAI NHÀ - Kiên Duyên.

 



HAI NHÀ 


Thuở ấy nhà em với nhà tôi 

Cách nhau có mỗi dậu mùng tơi 

Em thường phơi áo bằng dây chuối 

Ngan ngát hương tơ một khoảng trời 


Trò chơi ngày ấy, em nhớ không 

Bắt vài chú dế ở ven sông 

Tôi làm chú rể nghèo xơ xác 

Em giả cô dâu nép bên chồng

 

Hai đứa nhìn nhau chẳng nói chi

Gặp mà lúng liếng, đứa quay đi 

Đứa cầm mảnh ngói lia xuống ruộng 

Mặc lúa đang xuân, lúa xuân thì 


Thế rồi em lớn, chũm trái cau 

Biết mang áo ngực có khuy sau

Biết soi tóc rối trong bể nước 

Có kẻ lăm le đặt cơi trầu 


Tôi thì cứ ngô ngố , lơ ngơ 

Thích nhưng chẳng dám ngỏ nàng thơ 

Đêm đêm ngấp nghển sau dàn mướp 

Sợ ngõ nhà em, có kẻ chờ 


Rồi điều lo lắng ấy xảy ra

Họ sang dạm ngõ chiều hôm qua 

Em quên tôi với ngày thơ dại 

Quên cả trò chơi ...đám cưới gà


Bây giờ dậu vắng , gió thênh thênh 

Có con bướm trắng đậu lênh chênh 

Hồn tôi cũng kém chi đâu bướm 

Có cả mùa đông lém qua mình 


Mẹ đã xa rồi, dạo nước lên 

Hai nhà rêu mốc cũng thêm men

Chỉ còn thu chớm , hoa râm bụt 

Cháy đỏ như ai đứng treo đèn...

.....

Kiên Duyên


Thơ : MÙA LY BIỆT - Trần Huiền Ân.

 



MÙA LY BIỆT

(Học thuộc lòng của Trần Huiền Ân

Trích trong Tân Việt Văn lớp Nhứt( lớp 5),Sống Mới xuất bản năm 1967.

Có những bài thơ không chỉ để học thuộc lòng, mà còn để lưu giữ một khoảng trời tuổi thơ. "Mùa Ly Biệt" của nhà thơ Trần Huiền Ân là một bài thơ như thế. Qua hình ảnh những chùm hoa phượng đỏ, tiếng ve ngân vang và sân trường rộn rã những ngày cuối niên học, tác giả đã khắc họa thật dịu dàng khoảnh khắc chia tay giữa thầy, bạn và mái trường thân yêu.

Bài thơ không chỉ gợi lên nỗi bâng khuâng của mùa hè, mà còn gửi gắm niềm tin vào chặng đường mới phía trước. Những lời thơ mộc mạc, trong sáng, gần gũi với tâm hồn trẻ thơ đã khiến biết bao thế hệ học sinh miền Nam  yêu thích và ghi nhớ. Đây cũng là một trong những sáng tác được Trần Huiền Ân viết cho sách giáo khoa tiểu học, góp phần nuôi dưỡng tình yêu mái trường và những tình cảm đẹp trong tuổi học trò. 

Đọc lại "Mùa Ly Biệt" hôm nay, nhiều người như được trở về với tiếng ve đầu hạ, sắc phượng sân trường và những buổi chia tay ngây thơ, trong trẻo của một thời cắp sách đến trường – những ký ức tuy đã xa nhưng vẫn luôn ấm áp trong lòng người.)


MÙA LY BIỆT

Trần Huiền Ân

1.

Tưng bừng, rực rỡ ngoài song cửa,

Ve bắt đầu ca, phượng nở đầy.

Những cánh hoa màu như ánh lửa,

Báo mùa ly biệt đến rồi đây...

2.

Chín tháng vui đùa trong đống sách,

Nghĩ gì giây phút sắp xa nhau?

Ngày mai, thầy bạn cùng xa cách,

Đâu có ngồi chung một chuyến tàu!

Còn một chiều nay vui lãnh thưởng,

Và cùng họp mặt buổi liên hoan.

Ngời lên ánh mắt bao tin tưởng,

Một quãng đời hoa quyết bảo toàn.

Đã hết năm năm trường tiểu học,

Người vào đệ thất cách xa đây.

Kẻ về thôn xóm mơ khoai thóc,

Giúp mẹ cha vun xới, cấy cày.

3.

Ai có hẹn ngày quay gót lại,

Thăm ngôi trường cũ, dãy bàn xưa?

Thì lòng không khỏi buồn tê tái,

Nếu thấy ngoài sân rợp bóng dừa...


(Lê Văn Thông sưu tầm và biên tập)

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2026

Thơ: LỜI TỪ BIỆT TRƯỜNG XƯA - Lê Nguyễn.

 



LỜI TỪ BIỆT TRƯỜNG XƯA 

 (Tâm tình người giáo viên mầm non gửi lại ngôi trường xưa)


Em lưu luyến nhìn lớp học sáng nay,

Rồi sẽ chẳng bao giờ trông thấy nữa!

Bao năm tháng chăm đàn con bé nhỏ,

Nhìn lại đời mình, như một thoáng chiêm bao!


Đã trở thành kỷ niệm thật rồi sao?

Ôi, những sáng nắng hanh, những chiều mưa bão,

Đời đâu chỉ là nỗi lo cơm áo,

Còn là niềm hạnh phúc được yêu thương!


Thôi, vĩnh viễn từ nay em giã biệt mái trường,

Xa, nhớ lắm những nụ cười thơ trẻ,

Những tiếng ê a, cùng lời ru rất nhẹ,

Đưa các con vào giấc ngủ bình yên.


Em trở về, nhưng chẳng thể nào quên,

Những bè bạn một thời chung mái ấm,

Đời giáo viên nghèo, chia nhau khoai sắn,

Vẫn thấy lòng tràn ngập nét tin yêu.


Em trở về, nghe nhớ biết bao nhiêu,

Con đường cũ với hai hàng hoa tím,

Giờ tất cả chỉ còn trong hoài niệm,

Của một thời tuổi trẻ đã qua mau! 


Sài Gòn 6.2026

Lê Nguyễn

Vui cười : TEST THỊ LỰC - St trên FB.


 

Tản mạn : BÔNG HỒNG CÀI ÁO - Lê Văn Thông.

 



BÔNG HỒNG CÀI ÁO

Bông Hồng Cài Áo của Thiền sư Thích Nhất Hạnh . Được viết vào năm 1962, bài tùy bút đã trở thành một trong những áng văn xúc động nhất viết về mẹ và lòng hiếu thảo trong văn học Việt Nam hiện đại.

Bằng giọng văn nhẹ nhàng, chân thành và sâu lắng, Thiền sư không dùng những lời ca ngợi hoa mỹ để nói về mẹ. Ông chỉ kể lại những điều bình dị nhất, những kỷ niệm tưởng như rất đỗi đời thường, nhưng lại chạm đến nơi sâu kín nhất trong trái tim mỗi người. Qua từng dòng chữ, người đọc nhận ra rằng còn mẹ là một hạnh phúc lớn lao, và mất mẹ là nỗi trống vắng không gì bù đắp được.

Trong tác phẩm, Thiền sư kể lại một phong tục đẹp mà ông từng biết đến ở Nhật Bản. Vào Ngày của Mẹ, những ai còn mẹ được cài lên ngực áo một bông hoa màu hồng, còn những người đã mất mẹ sẽ cài một bông hoa màu trắng. Khi được tiếp nhận vào văn hóa Việt Nam, hình ảnh ấy đã trở thành nghi thức Bông hồng cài áo trong mùa lễ Vu Lan – một biểu tượng đẹp của lòng hiếu kính và sự tri ân đối với đấng sinh thành.

Chính từ nguồn cảm hứng của bài tùy bút này, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã sáng tác ca khúc Bông Hồng Cài Áo. Bài hát mang giai điệu mộc mạc, tha thiết và đã đi vào lòng biết bao thế hệ người Việt. Chỉ với vài câu hát ngắn:

«"Một bông hồng cho em,

Một bông hồng cho anh,

Và một bông hồng cho những ai

Đang còn Mẹ..."»

đã đủ gợi lên niềm hạnh phúc của những người còn được mẹ yêu thương, che chở. Đồng thời, đó cũng là lời sẻ chia lặng lẽ dành cho những ai chỉ còn biết cài lên ngực mình một bông hoa trắng để nhớ về mẹ bằng tất cả yêu thương và tiếc nuối.

Thời gian có thể làm phai màu nhiều kỷ niệm, nhưng tình mẹ thì không bao giờ cũ. Mỗi mùa Vu Lan trở về, hình ảnh bông hồng cài trên ngực áo lại nhắc mỗi người biết dừng lại giữa cuộc sống bộn bề để nghĩ về mẹ, để biết nâng niu từng phút giây còn được ở bên mẹ, còn được nghe một lời dặn dò, còn được nắm lấy bàn tay đã vì mình mà nhọc nhằn suốt cả cuộc đời.

Có lẽ, giá trị lớn nhất mà Bông Hồng Cài Áo để lại không chỉ nằm ở vẻ đẹp của văn chương hay âm nhạc, mà còn ở lời nhắc nhở giản dị mà sâu sắc: hãy yêu thương và báo hiếu khi mẹ còn hiện diện, bởi đến một ngày nào đó, điều quý giá nhất trong đời có thể chỉ còn là ký ức và nỗi nhớ.

LÊ VĂN THÔNG. 

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026

Cuộc sống : MỘT CUỘC CHIA TAY - TG Văn Chương.

 



MỘT CUỘC CHIA TAY.

Tôi chỉ cần cho anh ta mượn xe đúng một lần là đủ để hiểu rằng đây không phải là người đàn ông dành cho mình... và đặt dấu chấm hết cho mối tình này.

Tôi năm nay 56 tuổi. Sau khi ly hôn, tôi đã trải qua gần mười năm sống một mình. Tôi nhặt nhạnh từng mảnh vỡ để tự vực dậy bản thân: từ công việc, nhà cửa, bạn bè cho đến những thói quen thường nhật. Một cuộc sống giản dị, nhưng được xây dựng bằng cả sự nỗ lực và tính tự lập. Theo thời gian, tôi gần như không còn tin rằng sẽ có một ai đó bước vào cuộc đời mình và mang lại sự bình yên nữa.

Thế rồi anh xuất hiện.

Anh không phải là người đàn ông của những lời thề non hẹn biển hay những hành động lãng mạn phô trương. Anh chỉ đơn giản là luôn ở đó. Anh gọi điện cho tôi, hỏi han tình hình, nhớ từng chi tiết nhỏ nhặt. Thi thoảng, anh đến chơi với một bông hoa trên tay, chỉ thế thôi. Anh bảo rằng khi ở bên tôi, anh cảm thấy thoải mái và bình yên. Và đó cũng chính là chính xác những gì tôi tìm kiếm: sự tôn trọng, lòng tin và sự tĩnh lặng trong tâm hồn.

Suốt bốn tháng trời, chúng tôi tận hưởng mối quan hệ này một cách thong thả. Mỗi người đều giữ cho mình một khoảng không gian và sự độc lập riêng. Không áp lực, không vội vã chạy đua với thời gian. Tôi có cảm giác đó là cách tốt nhất để xây dựng một điều gì đó chân thành.

Một buổi sáng, anh gọi điện cho tôi.

Xe của anh đang phải để ở gara sửa chữa, trong khi anh lại có việc phải di chuyển cả ngày.

— Em cho anh mượn xe của em được không? Chỉ hôm nay thôi.

Tôi thoáng chút ngần ngại. Chiếc xe này là thành quả từ công sức lao động và biết bao sự chắt chiu của tôi. Nhưng tôi tự nhủ, nếu đã muốn xây dựng một mối quan hệ thì lòng tin phải có chỗ đứng của nó.

Vì vậy, tôi đã trao chìa khóa cho anh.

Buổi tối, anh trở về với dáng vẻ thư thái, mỉm cười. Chúng tôi dành thời gian bên nhau, uống một ly vang và trò chuyện như mọi khi. Trước khi ra về, anh đặt chìa khóa lên kệ tủ.

— Cảm ơn em nhé, em đã cứu bồ anh cú này.

Mọi chuyện dường như hoàn hảo và bình thường.

Sáng hôm sau, tôi bước lên xe để đi chợ mua vài thứ đồ.

Vừa nổ máy, đèn báo cạn nhiên liệu liền bật sáng.

Bình xăng gần như trống rỗng.

Trong khi rõ ràng, tối hôm trước, nó vẫn còn đầy ắp.

Tôi ngồi bất động mất vài giây, rồi bấm máy gọi cho anh.

— Anh có thấy xe gần như hết sạch xăng rồi không?

Câu trả lời của anh đến ngay lập tức, không một chút ngập ngừng:

— Ừ, anh thấy. Thì sao nào? Xe của em thì em tự đi mà đổ đầy chứ.

Chính ngay khoảnh khắc đó, một điều gì đó trong tôi đã vỡ vụn.

Chuyện này hoàn toàn không phải vì tiền bạc.

Càng không phải vì một bình xăng.

Mà là vì cái cách anh ta nói với tôi.

Cái giọng điệu cằn nhằn, bực dọc đó. Cái cách anh ta coi một việc vô lý như vậy là điều hiển nhiên. Như thể sự tôn trọng chỉ là một tiểu tiết không đáng bận tâm. Như thể những gì thuộc về người khác thì không xứng đáng nhận được sự trân trọng hay giữ gìn.

Và đột nhiên, tôi nhìn ra mọi chuyện với một sự tỉnh táo đến kinh ngạc — những điều mà trước đây tôi đã tự lừa dối mình để nhắm mắt làm ngơ.

Là những lần anh ta luôn để người khác trả hóa đơn.

Là những bài đạo lý của anh ta về việc làm "người đàn ông trụ cột trong nhà", nhưng chẳng bao giờ thực sự gánh vác trách nhiệm.

Là tất cả những biểu hiện nhỏ nhặt của thói ích kỷ mà tôi đã vị tha và tìm cớ bào chữa quá nhiều lần.

Ngày hôm sau, tôi thông báo với anh ta rằng tôi không muốn tiếp tục mối quan hệ này nữa.

Anh ta ngã ngửa vì sửng sốt. Anh ta buộc tội tôi là kẻ làm quá mọi chuyện. Anh ta bảo ở độ tuổi của chúng tôi rồi, đột ngột sống bớt phức tạp đi một chút.

Có lẽ anh ta đúng ở một điểm.

Càng có tuổi, người ta lại càng trở nên đơn giản hơn thật.

Bởi vì chúng ta không còn tìm lý do để bao biện nữa.

Chúng ta không còn ngó lơ những dấu hiệu cảnh báo.

Và chúng ta nhận ra ngay lập tức những gì thực sự còn thiếu sót.

Đối với tôi, chưa bao giờ câu chuyện là về một bình xăng đầy.

Mà là về sự tôn trọng.

Về sự tinh tế.

Về sự biết điều.

Tôi đã tự mình lái xe đi đổ đầy bình xăng.

 Khi đang trên đường trở về nhà, nhìn con đường dài thênh thang trước mắt và cảm nhận khoảng không gian tĩnh lặng bên cạnh, tôi chợt thấy một cảm giác mà từ lâu lắm rồi mình chưa được nếm trải: sự bình yên.

Bởi vì có những người bước vào cuộc đời ta là để ở lại, nhưng cũng có những người đi qua chỉ để dạy cho ta một bài học. Và đôi khi, một hành động tưởng chừng như chẳng có gì lại là quá đủ để lột trần bản chất thật của một con người.

Ngày hôm đó, tôi không chỉ từ bỏ một người đàn ông. Tôi đã tìm lại được một thứ còn trân quý hơn thế rất nhiều: sự khẳng định chắc chắn rằng, tôi sẽ không bao giờ chấp nhận bất cứ điều gì thấp hơn những gì mình xứng đáng được nhận.

TG Văn Chương