Thứ Năm, 15 tháng 10, 2026

Vui không cười : TESLA ĐÃ ĐẾN VIỆT NAM - Thanh Mai.

 



TESLA ĐÃ ĐẾN VIỆT NAM 

Xe tự lái Tesla đến ngã tư, con AI trên xe đờ đẫn suy nghĩ xem giờ đi thế nào…

Dữ liệu từ camera quanh xe liên tục cảnh báo va chạm, tiếng “ tít tít “ báo động kêu liên hồi, dây an toàn tự động cứ thít chặt rồi nhả, ròi thắt chặt, túi khí phập phùng chờ bung ra tựa như bầu ngực thiếu nữ GenZ buổi đầu đi date. Hệ thống các mô tơ phụ nóng ran, nhiệt độ chạm ngưỡng cảnh báo cháy nổ. Ảnh vệ tinh truyền về là cả một trời bế tắc, AI suy nghĩ, căng hết cả chip.

Cứ mỗi một giây trôi qua, AI nó vẽ ra một triệu phương án đi chuyển khác nhau, kèm theo đó là 10 triệu tình huống có thể có va chạm/ giây. 

“ Một bác đi xe lead trùm áo kín người đang lao đến, cảnh báo nguy hiểm”, AI nó kinh hãi so sánh vụ khủn.g bố tương tự bên Baghdad. Ấy nhưng không, chị bẻ tay lái điệu nghệ khi bánh xe chị chỉ cách thân xe Tesla có 17cm. 

“ Xe bus khổng lồ đang tới, cảnh báo thoát hiểm khẩn cấp”, AI nó phân tích về tình huống một chiếc xe bus hùng dũng lao lên, nhưng may quá, chiếc xe bus tài tình dừng ngay trước mũi xe Tesla 21cm. 

“ Một chiếc ba bánh chở bình ga và thanh sắt dài “ , cảnh báo nguy hiểm …

…

Sau 90 phút hồi hộp lo lắng, cuối cùng AI nó cũng tìm thấy một hướng có thể giúp xe di chuyển thêm 38 cm. Nó vừa định lệnh cho bánh xe tiến lên 38 cm, thì bỗng có một đối tượng tạt đầu băng qua, xe phanh dúi dụi để tránh va chạm. Dây an toàn xiết chặt căng cứng, túi khí GenZ lại phập phùng chờ bung xõa…

AI hoảng hồn, chip trên xe xử lý trong một phần triệu giây, vậy mà đối tượng tạt đầu kia vẫn chiếm chỗ nhanh hơn. Nó kinh hoàng nể phục bộ vi xử lý của người Kinh.

Hết cơn hoảng hồn, nó chuyển sang tức giận. Chip đang nóng thì chớ, nó bấm còi và bật, tắt gạt nước ngắn - dài theo tín hiệu mã Morse, truyền đi thông điệp:

- Đồng chí tham gia giao thông ngu quá. 

Nhưng thông điệp chưa kết thúc, thì người tạt đầu kia vén khẩu trang xuống và chửi:

- Đmm, mày biết bố mày là ai không?

…

Mic thu âm trên xe thu được dữ liệu. Con AI trên xe miên man phân tích câu chửi, nhưng câu này ngoài sự hiểu biết của nó. Nó gửi tín hiệu qua Starlink về cho AI máy chủ của Tập đoàn Tesla:

- “Mày biết bố mày là ai không?” Đây là câu hỏi hay câu khẳng định? Nếu là câu hỏi thì nó đang hỏi bố mình, hay nó hỏi nguồn gốc bố của nó? Nếu là câu khẳng định, thì nó đang khẳng định điều gì? 

Con AI của tập đoàn chạy hết công suất rà soát dữ liệu tìm câu trả lời. Hệ thống làm mát bằng nước biển quá tải, nước biển sôi lên ùng ục, cá tôm chết nổi trắng bờ biển bang Texas kéo dài đến vịnh Mexico. 

Một lúc sau, AI máy chủ nó đáp:

- Tao bất lực với câu nói này. Tốt nhất mày nên bảo Elon Musk rút quân đi.

Còn AI trên xe thở dài:

- Tao cũng mệt mỏi quá rồi, bộ vi xử lý của chúng ta thua xa cái đầu người Kinh. 


THANH MAI.

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2026

Đời sống : GÁC CU "THÚ NGU"... - Ngô Văn Tuấn.

 



GÁC CU “THÚ NGU" TAO NHà

 Dân gian ta có câu “Ở đời có bốn cái ngu: Làm mai, lảnh nợ, gác cu, cầm chầu”. “Nghề” gác cu được xếp vị trí thứ 3 tức “đệ tam ngu”. Mấy cái ngu như làm mai, lảnh nợ thì hệ qủa đã rõ ràng, còn như gác cu, dù là “tam ngu”nhưng xem ra cái ngu này đã khiến nhiều người mê mẩn , quên ăn, quên ngủ. Có người còn bảo đây là cái ngu tao nhã, ngu phong lưu, cái ngu mà rất ít người học được.

Nhà tôi ở làng Phước Bình Tân An, La Gi Bình Thuận.  Nhà vườn rộng, trồng tòan  mít với đào. Sáng nào thức dậy quét lá cũng nghe tiếng cu gáy rân vườn. Buổi trưa treo võng nằm hóng gió, lại cũng thẫn thờ với tiếng gáy chim cu. Nghe riết rồi quen, rồi ghiền, bữa nào thức dậy thấy vắng tiếng chim,nghe nó buồn buồn, quạnh hiu sao ấy.

Tôi đã vậy ,cạnh nhà lại có thêm chú em Ba Ánh bị nghiện nặng thú gác cu. Hai anh em hể bận thôi, rảnh là mang lồng , đem cu mồi đi nhữ. Dòng sông Dinh vào mùa hè chim chóc líu lo. Những rẫy mít, rừng bụi là nơi cu hò hẹn trao tình, tiếng gáy, tiếng gù cứ như có ma lực cuốn hút khó cưởng.

Lại nói về cu: Cu có nhiều loại, cu đất, cu cườm, cu ngói, cu xanh…Ở nông thôn Việt Nam ai mà chẳng từng nghe cu gáy. Tiếng chim cu cũng đã đi vào thơ ca rất dịu dàng , đằm thắm : “ Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao/ Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ/ Mà đôi lứa đứng bên vườn tình tự…”

Thế đấy cái tiếng gáy của loài cu nó rạo rực , tình tứ là vậy. Với người bình thường tiếng gáy chỉ là tiếng gáy thôi. Nhưng với những người trót dại theo thú gác cu, thì mỗi tiếng gáy đều có âm điệu khác nhau. Có con giọng kìm, có con giọng thổ, rồi thổ đòng , thổ sấm, rồi gáy một hậu, hai hậu, ba hậu, càng nhiều hậu càng thuộc loại quý hiếm khó tìm. Cu gáy để gọi tình, gáy để giao chiến tranh giành bạn “gái”, gáy để tranh giành lãnh thổ. Mỗi lần như vậy 2 con cu trống trấn thủ ở hai nhành cây khác nhau, rồi trổ tài thi thố. Tiếng gáy chúng khi khoan, khi nhặc, khi thôi thúc, khi giục gĩa, trong giới nhà nghề gọi là chiêu, thúc, gù , dặm. Lúc này  chị cu mái chỉ lặng im theo dõi đợi người chiến thắng. Cuộc chiến chỉ kết thúc trong hai trường hợp : Chịu không nỗi tiếng gáy của đối thủ đành chấp nhận thua cuộc bay đi, hoặc phải qua một cuộc tử chiến bằng cánh, bằng mỏ, bằng chân với những miếng đòn hiểm hóc . Những người mê cu được xem một trận quyết đấu của 2 chàng cu gáy là sướng đến tê người.

Để có được một anh cu mồi đích thực “dũng sĩ “có tiếng gáy vừa gợi tình vừa kiêu hãnh, người mê gác cu phải bỏ công sức tìm kiếm cho dù gía cả có cao đến bao nhiêu. Cu gáy “dũng sĩ” phải có tướng tá oai vệ, lông mượt xám, chân đỏ như son, bộ cườm đều đặn, đầu nhỏ, mỏ đinh, giọng gáy phải vừa hấp dẫn vừa kiêu hãnh, gáy không bị hụt, gáy một chập, một chập rồi lại một chập. Cu gáy màu xám nhạt có giọng thổ(trầm), cu  xám nâu giọng kìm (cao). Giống cu cườm là giống  cu gáy tốt nhất . Trong cuộc sống hoang dã những anh cu này luôn đóng vai trò đầu đàn, sẳn sàng nghênh chiến với bất cứ “kẻ thù” nào dám xâm nhập lãnh địa. Khi được bắt về thuần dưỡng làm cu mồi, dù ở trong lồng , cu gáy cũng phải giữ nguyên được bản chất, nếu buồn rầu, nhớ rừng, nhớ bạn mà bỏ gáy hoặc tiếng gáy bị hụt, mất hết thần khí thì trở thành cu dạt, chỉ còn tác dụng nhổ lông nấu cháo. Nuôi cu mồi cũng rất công phu, ngoài những điều kiện về tướng mạo, sắc lông giọng gáy, tiếng gù như đã nói. Người nuôi chim mồi phải chọn lồng thích hợp. Chim mồi thường được nuôi bằng lồng hình quả đào. Thân lồng nửa dưới to, trên nhỏ, diện tích chỉ vừa đủ để chim xoay. Nuôi lồng nầy chim chóng thuần và rất tiện lợi khi mang chim đi. Chim mồi không ưa lồng rộng, bởi khi chúng giật mình nhảy hay bị toát đầu. Thức ăn cho chim cu thì cha ông ta đã đúc kết “ Chim cu ăn đậu, ăn mè. Bồ câu ăn lúa, Chích chòe ăn khoai.”.  Riêng chim cu non phải lấy gạo ngâm, rồi cho vào túi, túi có khoét lổ để chim non rúc ăn, vì loài cu non không há miệng đòi ăn như những loài chim khác.  

Đi gác cu đúng là “đệ tam ngu”, nhưng là thú ngu tao nhã, ngu phong lưu. Ai đã trót nghiện thì khó lòng dứt bỏ, ngay cả trong giấc ngủ cũng nằm mơ nghe tiếng gáy chim cu. Đi gác cu cao lắm chỉ hai người, đông thêm sinh ồn ào hỏng việc. “Đồ nghề” rất đơn giản, chỉ cây sào để móc đưa lồng cu mồi lên nhành cây đúng vị trí . Lồng cu hay còn gọi là lụp được đan bằng thép cứng rất công phu, phía sau lồng được che kín, chung quanh ngụy trang bằng cành lá .Phía trước “cung điện” của anh cu mồi là phần bẫy để sập những anh cu hiếu chiến xông vào trận địa.

Sau khi phát hiện nơi có nhiều chim cu . Người gác cu chọn vị trí để treo lồng, lồng treo phải đúng thế, đúng những cành cây có chim cu hay đậu. Khi trận địa đã bày xong, người gác cu tìm chỗ kín đáo ẩn mình chờ đợi. Đây là thời gian hồi hộp nhất, mọi cử động phải hết sức nhẹ nhàng, thời điểm quyết định dù có bị kiến cắn, muỗi đốt cũng phải bấm bụng chịu đựng, chỉ cần tiếng động nhẹ, cu phát hiện được sẽ bay đi ngay. Trên chiếc lồng treo cao, con cu mồi thiện chiến  láo liên một lúc rồi cất tiếng gáy xung trận, lúc đầu còn chầm chậm, sau giục gĩa liên hồi. Tử những vòm cây xa xa, cu đầu đàn phát hiện “lảnh thổ” của mình có kẻ xâm lượt, hắn gầm gừ, rồi gáy vang đáp trả. Cuộc đọ khẩu cứ như vậy kéo dài cho đến khi chủ nhà tức khí phải quyết một phen sinh tử. Từ cành cây đối diện hắn bay thẳng vào trận địa, vậy là hết, cái thanh cài đánh bật, chiếc bẫy sụp xuống, cuộc đời oanh liệt hắn khép lại từ đây.

Thường thì những con cu bị bại trận, không phải con nào cũng bị đem ra mổ thịt làm mồi ngay. Chúng được chủ nhân xem xét lại rất kỷ, những con có tiếng gáy tốt, thiện chiến được tuyển làm cu mồi, chỉ có cu dạt mới bị đem ra chế biến. Kể thì hấp dẫn, nhưng để bẫy được con cu không phải dễ chút nào, cu là loài rất nhạy, rất tinh khôn. Có khi đi gác cả tuần lễ , mười ngày vẫn không có con nào. Có phải vì thế mà người xưa mới nói, “nghề” giữ cu thuộc loại “đệ tam ngu” chăng ?!

Thịt cu thuộc nhóm đặc sản qúy hiếm, một con cu ướp muối ớt nướng bán cho dân nhậu gía đến năm mươi nghìn đồng. Gía cao, được nhiều người ưa chuộng, nên thay vì đi gác cu để tìm thú vui tao nhã, người ta dùng lưới để bẫy  hàng loạt về bán cho thực khách. Với đà săn bắt như thế này, không biết rồi đây nông thôn Việt Nam có còn chim cu để ai đó được một lần “ngu” mà tìm thú vui tao nhã này !                                    

 NGÔ VĂN TUẤN

Nước Việt : CHUYỆN XƯA MÀ KHÔNG CŨ - Lê Nguyễn.

 

( Tượng ở Ba Tri - Bến Tre )

CHUYỆN XƯA MÀ KHÔNG CŨ


    Những ngày qua, trên các phương tiện truyền thông, chuyện trọng dụng nhân tài đang trở thành một trong những chính sách quan trọng của nhà nước đương nhiệm.

    Trên tinh thần “ôn cố tri tân”, xin nhắc lại bài viết về đề tài này, đóng góp chút hiểu biết về cách sử dụng người tài của tiền nhân, biết đâu lại chẳng có đôi chút ích lợi cho người đời nay!


CÁCH TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI CỦA NGƯỜI XƯA 

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, câu nói đó của Thân Nhân Trung đã trở thành bất tử. Cũng trên tấm bia tiến sĩ đầu tiên được khắc năm 1442, vị Thượng thư họ Thân, triều Lê, đã viết: “nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”. Trong xã hội ta ngày nay, khi cuộc sống của không ít người có thực tài còn gặp nhiều trắc trở, thì việc nhắc lại tinh thần đãi ngộ, trọng dụng nhân tài của người xưa cũng là một cách “ôn cố tri tân” vậy.


       Lịch sử triều Lý Anh tông (1138-1175) có ghi lại một câu chuyện thật đáng nhớ về nhân vật Tô Hiến Thành. Ông là một đại công thần, từng đánh Đông dẹp Bắc, được phong chức Nhập nội kiểm hiệu Thái phó, Bình chương quân quốc trọng sự, nhận tước vương của vua ban cho. Những ngày cuối đời, ông lâm bệnh nặng, quan Tham tri chính sự là Vũ Tán Đường ngày đêm chăm sóc ông với tất cả lòng tận tụy, còn quan Gián nghị Đại phu Trần Trung Tá vì quá bận việc công nên không đến thăm ông được. 

      Nhìn thấy tình hình sức khỏe của ông không có cơ may hồi phục, bà Thái hậu đã đến bên giường ông, xin ông đề cử người thay thế. Khi nghe ông đề cử Trần Trung Tá, bà Thái hậu tròn xoe mắt, gặng hỏi:” Tán Đường ngày nào cũng hầu thuốc thang, ông lại không nói đến, thế là tại sao?”; và ông đã khảng khái trả lời: ”Vì Bệ hạ hỏi người nào đáng thay tôi, nên tôi nói là Trung Tá, nếu như bệ hạ hỏi người nào hầu việc ăn uống thì không phải Tán Đường còn ai?...”.   

     Câu chuyện đó đã trở thành bài học sâu sắc về cách sử dụng nhân tài của người xưa. Người nắm chính sự phải biết phân biệt giữa tình cảm cá nhân, kể cả lòng biết ơn, với trách nhiệm đề bạt, lựa chọn người thật sự có tài, xứng đáng được giao phó trọng trách điều hành việc nước. 

      Nói đến cách tuyển chọn và trọng dụng người tài, dù là cách nay hàng ngàn năm hay trong thời đại khám phá vũ trụ bây giờ, khoa cử vẫn là phương cách đắc dụng nhất. Khoa thi đầu tiên ra đời tại nước ta vào năm 1075, dưới triều vua Lý Nhân Tông. Đó là kỳ thi Nho học tam trường và người đỗ đầu là Lê Văn Thịnh, sau làm đến chức Thái sư. Từ đó, các điều kiện khoa cử ngày một hoàn thiện, tiến đến việc tổ chức ba khoa thi tiếp liền nhau là thi Hương để lấy Cử nhân và Tú tài, thi Hội để lấy Tiến sĩ (và Phó bàng vào thời nhà Nguyễn), và thi Đình để xếp hạng tiến sĩ . Đình thí là kỳ thi ở bậc cao nhất, dành cho những người đỗ tiến sĩ trong kỳ thi Hội, được tổ chức tại sân cung điện nhà vua, nên còn gọi là Điện thí. 

      Thời Lê-Trịnh, đầu buổi thi có sự hiện diện của cả vua Lê, chúa Trịnh. Đề bài do nhà vua đích thân ra, thí sinh làm bài với giấy do triều đình cung cấp, có lính mài mực hầu. Giám khảo chấm bài thi là những quan đại thần học cao hiểu rộng trong triều. Sau nghi thức xướng danh tiến sĩ tổ chức tại sân rồng, cũng với sự chứng kiến của vua và chúa, các tân khoa được ban mũ, áo, đai dành cho bậc tiến sĩ và được dự yến vua ban ở công đường bộ Lễ. 

     Tuy vậy, việc sử dụng người tài thời xưa không máy móc dựa vào kết quả khoa cử. Các Trạng nguyên, Bảng nhãn khi ra làm quan không được giao ngay cương vị nhất, nhị phẩm triều đình như nhiều tác giả các kịch bản, tuồng hát vẫn phóng đại. Đời vua Lê Thánh Tông, năm 1472, triều đình định lệ tuyển bổ các tiến sĩ, theo đó trạng nguyên được bổ hàm chánh lục phẩm, bảng nhãn hàm tòng lục phẩm, thám hoa hàm chánh thất phẩm, đệ nhị giáp hàm tòng thất phẩm, và đệ tam giáp hàm chánh bát phẩm. Điều đó chứng tỏ rằng dù được trọng thị trong xã hội, người đỗ đạt trong khoa cử vẫn phải có một thời gian nhất định trong hoạn trường để chứng tỏ tài năng và phẩm hạnh của mình rồi mới thăng bổ vào các địa vị cao. 

     Xã hội xưa cũng nhận thức rõ rằng khoa cử dù hết sức cần thiết, cũng không phải là con đường tiến thân duy nhất của nhân tài xứ sở. Từ rất sớm, tiền nhân đã biết trọng dụng người tài qua phương thức tiến cử. Ngay trong thời kỳ đầu tiên của triều đại nhà Lê, vào tháng 10 âm lịch năm 1429, vua Lê Thái Tổ (1428-1433) đã ban lời chiếu định rằng các đại thần văn võ từ tam phẩm trở lên, mỗi người đều tiến cử một người, hoặc ở trong triều, hoặc ở thôn quê, hoặc đã làm quan, hoặc chưa làm quan. Nhà vua cũng định rõ cách thưởng phạt đối với với kẻ tiến cử người tài: nếu cử được người có tài bực trung thì thăng tước hai bậc, nếu cử được người tài đức đều giỏi, hơn hết mọi người thì được thưởng hậu. Câu cuối cùng của lời chiếu “Còn như kẻ sĩ hàn vi ở chốn hương thôn, cũng chớ lấy ngọc bán rao làm xấu hổ mà để trẫm phải than về thiếu người tài”, nói lên thành tâm của bậc quân vương đối với kẻ sĩ, dù nghèo hèn cũng không nên vì thế mà để đất nước mất đi một người tài. 

      Đời vua Lê Huyền tông (1663-1671), nhà vua định việc tiến cử rõ ràng hơn: quan nhị phẩm được cử 4 người; từ tam đến ngũ phẩm được cử 3 người; từ lục đến bát phẩm được cử 2 người; “Cử được người xứng đáng thì được khen thưởng. Nếu thấy người được bảo cử phụ lòng người cử, làm càn những việc tham lam đen tối thì cho nói trước ra, khỏi phải tội lây; nếu giấu giếm không nói cũng phải tội như người ấy” (Phan Huy Chú – Lịch triều hiến chương loại chí – Tập I-Quan chức chí – NXB Khoa học Xã hội – Hà Nội 1992, trang 581).

      Cuối đời nhà Lê, năm 1786, Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ mang quân ra Bắc “phù Lê diệt Trịnh”, khi tình hình đã tạm ổn, ông nghĩ ngay đến một danh sĩ nức tiếng đương thời là La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp. Trong hai năm 1786-1787, Nguyễn Huệ gửi liên tiếp ba thư mời phu tử ra giúp. Thư nào nhận được, phu tử cũng tìm cách thoái thác, lời lẽ trang nhã, tương kính, song rành mạch, dứt khoát. 

      Là một tướng quân đầy mưu trí, dũng cảm, hàng vạn người quy phục dưới tay, lại bị một kẻ sĩ cự tuyệt lời mời, Nguyễn Huệ không lấy thế làm giận, khi đã là Bắc Bình vương, rồi Quang Trung hoàng đế, ông vẫn trì chí gửi thư, gửi chiếu mời La Sơn phu tử tới hội kiến hay góp ý về việc nước. Cuối cùng phu tử cũng xiêu lòng, một vài lần đến gặp ông hay trả lời thư hỏi kế sách của ông.  

    Trong lúc ở Bắc hà, Nguyễn Huệ tỏ lòng trân trọng Nguyễn Thiếp, thì trong Nam, sau khi lấy lại đất Gia Định, chúa Nguyễn Ánh đã vời xử sĩ Võ Trường Toản đến hội kiến và mời ra làm quan. Theo nội dung bi văn do cụ Phan Thanh Giản soạn khắc trên mộ bia Võ Trường Toản thì cụ Võ đã từ chối lời mời ra làm quan. Việc đó không làm phật lòng Nguyễn Ánh, năm 1792, cụ Võ qui tiên, được tin, chúa Nguyễn đã tỏ lòng tiếc thương và ân tứ hiệu “Gia Định Sùng Đức Võ tiên sinh” . 

     Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh là hai kẻ thù không đội trời chung, song tấm lòng trân trọng người tài của họ như chỉ có một. Dưới triều Nguyễn, việc tiến cử người tài được tiếp tục khuyến khích, tưởng thưởng, song phép vua sẵn sàng chế tài nếu như quan lại triều đình làm sai, cử người thiếu tài, thiếu đức vào bộ máy công quyền. 

      Năm 1831, triều Minh Mạng, chính Nguyễn Công Trứ, Tham tri Hình bộ, đã rơi vào trường hợp này. Sử chép rằng, trước đó ông cùng Hiệp trấn Nam Định Nguyễn Nhược Sơn có tiến cử một người là Phi Quý Trại ở Nam Định làm Huyện thừa huyện Tiền Hải. Về sau, Tả thị lang bộ Hộ là Hoàng Quýnh từng làm việc ở Nam Định, biết Trại không có tài năng gì, chỉ lo lợi riêng mà cầu cạnh, bèn dâng sớ hặc. 

      Trong sớ tấu, sau khi nêu rõ chứng cứ, Hoàng Quýnh viết: ”…hoàng thượng cũng chưa từng lấy tình thân ái mà cho riêng ai. Hai gã kia (chỉ Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Nhược Sơn - LN) nghĩ thế nào mà dám lấy quan tước của triều đình làm cái quà của mình để thù đáp riêng. Xin trị tội để ngăn chặn con đường cầu cạnh, mà răn những kẻ bề tôi dối vua làm riêng”. Nhà vua lệnh cho Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Nhược Sơn tấu trình rồi giao cho đình thần nghị xử. Cuối cùng, Công Trứ từ chức Tham Tri (tòng nhị phẩm, như Thứ trưởng ngày nay) bị giáng xuống Tri huyện Kinh huyện (lục phẩm); Nguyễn Nhược Sơn từ Hiệp trấn (chánh tam phẩm) bị giáng xuống Tri huyện Tiền hải (lục phẩm), riêng Quý Trại bị phạt 100 trượng, cho về dân (Đại Nam thực lục chánh biên – NXB Khoa học – Hà Nội 1964, trang 200).

     Thực tế lịch sử cũng cho thấy thời xưa, việc trọng hiền tài không phải là độc quyền của giai cấp thống trị, mà nền giáo dục theo khuôn phép thánh hiền đã hun đúc trong tâm hồn kẻ sĩ một tinh thần tôn trọng người tài. Vụ án danh sĩ Cao Bá Quát tự ý sửa chữa bài thi của thí sinh là một tiêu biểu của tinh thần trọng tài đó. Năm 1841, với chức danh hành tẩu bộ Lễ, họ Cao được bổ làm sơ khảo trường thi Hương Thừa Thiên, ông cùng một sơ khảo khác là Phan Nhạ thấy có mấy quyển bài thi viết rất hay mà tiếc thay người sĩ tử sơ suất để phạm trường qui, bài sẽ phải bị loại, chưa kể tác giả của nó còn có thể bị tội hình.   

       Thương cho những người học trò có tài nhưng không may, Cao Bá Quát quyết liều cứu họ. Theo qui lệ trường thi, giám khảo không được sử dụng chung màu mực đen của thí sinh, ông bàn cùng Phan Nhạ lấy thỏi mực son màu đỏ dùng chấm bài hơ lên đèn cho ra muội đen rồi lấy đó mà sửa chữa mấy chữ phạm qui. Việc làm của hai người bị một viên giám sát trường thi bắt gặp và đàn hặc, cả hai bị tống giam, chờ xử tử, may mà vua Thiệu Trị cho chuyển thành án trảm giam hậu. 

      Làm việc này chắc chắn rằng Cao Bá Quát không vì tư lợi, vì với cách rọc phách bài thi ngày xưa, giám khảo không hề biết người viết bài là ai. Họ Cao chỉ vì tiếc cho cái tài của những người học trò lỡ phạm trường qui mà sẵn lòng đánh đổi cả tính mạng của mình để cứu họ. Hành động của ông được xem là vi phạm phép nước, nhưng về mặt đạo lý, nó phản ánh một tâm hồn cao thượng biết yêu thương và trân trọng người tài.

Lê Nguyễn

10.10.2026

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2026

Truyện năm Bính Ngọ p2 - H.V.H.

 



CON NGỰA “HỒNG TÂM”

( Phần 2 )

Năm tháng trôi qua.

Vị tân vương năm nào nay đã trở thành một vị vua lịch lãm . Nhưng ngai vàng thì cao, lòng người lại sâu cạn khó lường .

Trong triều, các phe phái ngày một chia rẽ. Người thì tìm cách giữ quyền, kẻ lo vun vén thế lực quyền lợi riêng. Những lời thật tâm trung nghĩa, lo cho dân cho nước trên điện rồng mỗi ngày một ít, còn những tiếng thì thầm sau rèm trướng của phủ đệ lại ngày một nhiều.

Nhà vua biết điều đó,nhưng tuổi còn trẻ, kinh nghiệm trị quốc cũng chưa nhiều, lại phải đứng giữa một triều đình đầy những mưu tính hiểm sâu, nên nhiều việc dù nhìn thấy, ngài vẫn chưa tìm được cách giải quyết .

Rồi một năm, trời hạn.

Mưa không đến đúng mùa. Ruộng đồng nứt nẻ, lúa chết từng cánh đồng. Sang năm kế tiếp, sâu bệnh lại hoành hành. Kho lương vơi dần, dân chúng đói khổ. Người nghèo phải bỏ làng đi tha phương kiếm ăn. Có những gia đình phải bán rẻ cả ruộng đất, trâu bò chỉ để tìm phương kế mưu sinh khác .

Nhà vua mở quốc khố cứu dân.Nhưng kho lương của triều đình cũng chẳng còn bao nhiêu.

Trong lúc quốc gia đang suy yếu thì tai họa từ phương Nam kéo đến.

Một tiểu quốc vốn nhiều năm vẫn giữ quan hệ bang giao, thậm chí lúc yếu thế còn dâng đất cầu hòa, nay bất ngờ đem đại quân tiến đánh.

Tin cấp báo từ biên giới truyền về kinh thành như sấm giữa trời quang.

“Quân tiểu quốc phía Nam đã vượt biên!”

“Có hàng vạn quân!”

“Có hàng trăm voi chiến!”

“Rất nhiều voi chiến!”

Chẳng bao lâu sau, tiếng vó ngựa, tiếng trống trận, tiếng tù và như vọng đến tận kinh thành.

Hàng trăm thớt voi chiến dũng mãnh nối nhau tiến tới. Trên lưng voi là những chiến binh hung hãn cầm giáo dài, cung mạnh . Phía sau là biển quân lính cuồn cuộn như nước lũ.

Kinh thành náo loạn.

Nhà vua lập tức truyền lệnh toàn quân toàn dân cùng chống giặc.

Nhưng rồi một sự thật đau đớn hiện ra.

Những người từng ngày ngày hô vang:“Trung quân! Ái quốc!”lại là những người bỏ chạy đầu tiên.Có kẻ tháo cả giáp, lẻn ra khỏi thành lúc nửa đêm.Có người mang theo vàng bạc, giả dạng dân thường tìm đường trốn về quê.

Có kẻ nơi tuyến đầu còn mở cổng thành xin hàng, chỉ mong đổi lấy chức tước dưới... triều đại mới... (!?)

Những người từng quỳ trước ngai vàng, thề sống chết bảo vệ xã tắc, trung thành với quân vương, hùng hổ đòi bắt tội ngay cả với một... con ngựa (!). Nay bọn họ đồng loạt biến mất !

Một viên quan chạy vào điện, mặt mày thất sắc:

“Bệ hạ! Quân giặc sắp vào phía Tây thành!”

Một viên tướng khác quỳ xuống:

“Xin bệ hạ lập tức rời khỏi kinh thành!”

Nhà vua im lặng hồi lâu rồi  hỏi:

“Còn bao nhiêu người ở lại?”

Viên tướng cúi đầu:

“Bẩm... chỉ còn vài trăm quân và một số quan viên nhất quyết không rời bỏ bệ hạ.”

Nhà vua nhìn những người đang quỳ trước mặt.Chỉ vài trăm người.

Giữa một kinh thành rộng lớn mà như thế… 

Ngoài ra vẫn còn một người bạn trung thành khác : Hồng Tâm.

Con ngựa non năm nào giờ đã trở thành một chiến mã cao lớn, khỏe mạnh và tuyệt đẹp. Bộ lông trắng hồng vẫn nổi bật “trái tim đỏ” cho dù dưới ánh lửa chiến tranh… . Đôi mắt nó sáng, sâu và bình tĩnh lạ thường.

Nhà vua vuốt lên vùng ngực  Hồng Tâm.

“Hôm nay lại phải nhờ đến ngươi rồi.”

Hồng Tâm khẽ hí.

Tiếng hí vang lên giữa tiếng binh đao như một lời đáp.

Đêm ấy, nhà vua cùng vài trăm quân trung thành mở đường máu thoát khỏi kinh thành.

Quân giặc bao vây bốn phía.Hồng Tâm phi như gió.

Có lúc trước mặt là toán quân địch. Ngay phía sau giáo mác trùng trùng đuổi sát. Chợt trước mặt là một nút chặn, con voi đầu đàn to lớn của quân giặc đang hùng hổ xông tới. Không nao núng "Hồng Tâm" hí vang, hết sức bình sinh nó tung bốn vó vượt qua đầu voi, chỉ chờ thế nhà vua lia một đường bảo kiếm,tên quản tượng phía địch gục ngã!... . Tên tướng giặc thất kinh chưa kịp hoàn hồn thì bị ngay một ngọn giáo của một viên tùy tướng nào đó xuyên vào cổ họng . Vòng vây nới lỏng, và cuộc bôn tẩu bắt đầu... . Có lúc cả đoàn người phải vượt lên đèo cao rồi lao xuống một con dốc đầy đá, có lúc vượt qua con suối nước chảy xiết.

Hồng Tâm nhiều lần trượt chân nhưng vẫn đứng dậy.

Một mũi tên bay tới.Nó hạ chân, cúi rạp xuống, hơi nghiêng thân mình… . 

Mũi tên sượt qua vai nhà vua.

Một toán kỵ binh địch vượt qua tượng binh, đuổi sát phía sau.

Nhà vua quay lại nhìn.

“Hồng Tâm! Chạy nhanh hơn nữa !”

Con ngựa như hiểu tiếng người.Nó cúi đầu, dồn hết sức vào bốn chân.

Bụi đất cuộn lên phía sau.

Khoảng cách giữa nhà vua và quân địch dần xa.

Cuối cùng, trong bóng tối của núi rừng, đoàn quân trung thành biến mất khỏi tầm mắt quân xâm lược.

Kinh thành thất thủ.

Nhưng nhà vua chưa mất nước.

Những tháng ngày sau đó là những tháng ngày gian khổ.

Nhà vua sống giữa dân nghèo, chia từng bát cơm, từng nhúm nhỏ muối với binh sĩ. Ngài phát hịch qua từng làng, từng xóm, kêu gọi những người còn lòng với quê hương đứng lên.

Ban đầu chỉ vài chục người.

Rồi vài trăm.Sau đó vài nghìn.Những người nông dân cầm giáo.Những người thợ rèn ngày đêm đúc kiếm.

Những chàng trai từng chưa biết cầm cung kiếm nay học làm quen với ngọn giáo mũi tên. 

Quân đội của nhà vua dần lớn mạnh.Và Hồng Tâm vẫn ở bên cạnh nhà vua.Ngày ngày, nó cùng người đi luyện quân… . Nó mang trên lưng không chỉ nhà vua, mà còn mang theo niềm hy vọng của một đất nước đang chờ ngày hồi sinh.

Rồi ngày ấy cũng đến.

Đại quân của nhà vua từ nhiều hướng tiến về kinh thành.

Trận chiến cuối cùng diễn ra dữ dội.

Tiếng voi ré lanh lảnh rợn người.Tiếng trống trận dập dồn Tiếng kiếm giáo va vào nhau. Khói lửa lại ngút trời !...

Hồng Tâm một lần nữa lao vào giữa chiến trường.Nhà vua cưỡi trên lưng nó, dẫn quân tiến thẳng về phía trước.Quân xâm lược bị đánh bật khỏi thành.

Từng toán, từng toán tháo chạy về phương Nam.

Sau nhiều ngày giao chiến, lá cờ niên hiệu của nhà vua lại tung bay trên thành cũ.

Dân chúng đổ ra đường reo mừng.

Tiếng trống khải hoàn vang lên suốt ngày đêm.Nhà vua trở về ngai vàng.

Nhưng điều khiến mọi người bất ngờ nhất lại đến sau chiến thắng.

Khi các đại trung thần xin nhà vua xử tội những kẻ đã bỏ chạy, những kẻ đầu hàng giặc, những kẻ từng phản bội đất nước. Bọn họ đáng tội tru di cửu tộc !

Nhà vua im lặng.

Một hồi lâu sau, ngài nói:

“Không cần giết họ.”

Mọi người ngạc nhiên.“Những kẻ ấy đã phản quốc!”

Nhưng nhà vua đáp:

“Tàn chinh chiến đã có biết bao người chết ! Ta không muốn đất nước này lại có thêm những người chết vì oán thù. Hãy để lịch sử xử tội họ, chỉ thu hồi chức tước, tài sản của những kẻ có tội. Cho họ trở về làm thường dân.”

Một vị đại thần quỳ xuống hỏi:

“Bệ hạ không sợ họ sống mà tiếp tục gây họa sao?”

Nhà vua nhìn ra ngoài điện.

“Người đời sẽ phán xét họ.Những người dân tốt sẽ không để bọn ấy muốn làm gì thì làm”

Quả nhiên, nhà vua không cần ra tay.

Những kẻ từng hô vang “Trung Quân Ái Quốc” giờ sống giữa dân chúng với những ánh mắt khinh bỉ.

Đi đâu, họ cũng nghe những lời xì xào.

“Đó là người đã bỏ chạy khi đất nước nguy nan.”

“Đó là kẻ từng quỳ xin giặc tha mạng.”

“Đó là người đã phản bội nhà vua.”

Không ai muốn kết giao.

Con cháu họ cũng phải cúi mặt khi nghe người đời nhắc đến tên cha ông mình.

Họ sống.Nhưng sống trong sự khinh rẻ.Và dần dần chết đi trong nỗi nhục mà chính họ đã tạo ra.

Còn nhà vua, sau những biến cố ấy, càng hiểu sâu sắc một điều:Một đất nước không thể tồn tại chỉ nhờ thành cao, hào sâu hay quân hùng tướng mạnh.

Điều giữ cho một triều đại đứng vững, trước hết phải là lòng dân tin tưởng và có sự ủng hộ của mọi người dân.

Chiều hôm ấy, nhà vua một mình bước ra chuồng ngựa,

Hồng Tâm đang đứng dưới bóng cây.

Ngài vẫn đặt một tay lên cái ngực rộng có hình trái tim của nó, tay kia vuốt nhẹ hàm râu ... .

“Ngươi có biết không, Hồng Tâm?”

Con ngựa khẽ cúi đầu. Tai ve vẩy... .

“Giữa lúc cả triều đình tan tác... ngươi lại là kẻ chưa từng bỏ ta.”

Hồng Tâm nhìn nhà vua bằng đôi mắt đen sâu thẳm.

Nhà vua mỉm cười.

“Người ta gọi ngươi là Hồng Tâm... quả không sai.”

Gió chiều thổi qua.Bờm ngựa tung bay.Ngoài xa, tiếng chuông đâu đó trong  kinh thành ngân lên.

Một triều đại vừa đi qua cơn đại nạn.

Và câu chuyện về con ngựa “Hồng Tâm” mang trái tim trung nghĩa ấy vẫn được truyền tụng đến nhiều đời sau… ./. ( Hết) 

H.V.H ( 9- 2026 )

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

Tản mạn : TỰ BẠCH - Nguyen Thyanh.

 



TỰ BẠCH. 

27 th8 - 2026.

Tôi thường viết truyện cực ngắn về những thành phần thấp cổ bé miệng nhất của xã hội. Vì sao vậy? 

Vì giống như khi nhìn vào một bình nước trong, ta phải nhìn vào đáy bình mới biết nước có thật sự sạch không. Nếu nước sạch, sẽ không có cặn. Cũng vậy, khi soi những mảnh đời tận đáy xã hội ta sẽ biết xã hội đó như thế nào.

Những mảnh đời tận đáy xã hội giống như lớp cặn lắng đáy bình: nơi mà mọi bất công, mọi lỗ hổng của thể chế, của lòng người đều dồn về đó và hiện hình rõ nhất. "Đáy xã hội” chính là thước đo trung thực nhất.

Một xã hội cũng giống như một cơ thể. Khi khỏe mạnh, ta hiếm khi để ý đến bàn chân, nhưng khi đau, chính ngón chân út bị dằm đâm lại khiến cả người mất ngủ. Người giàu, người có quyền có rất nhiều lớp áo che chắn: tiền bạc, quan hệ, truyền thông, pháp lý. Họ ngã vẫn có đệm đỡ. Còn người nghèo, người yếu thế thì không. 

Thế nên, muốn biết một chính sách y tế có nhân đạo không, đừng hỏi giám đốc bệnh viện tư. Hãy đến phòng cấp cứu 3 giờ sáng, nhìn người mẹ bán vé số ôm đứa con sốt co giật mà trong túi chỉ có 40 nghìn đồng được đối xử thế nào.

 Muốn biết luật pháp có công bằng không, đừng nghe đọc diễn văn. Hãy ngồi ở phiên tòa xử vụ trộm ổ bánh mì. Muốn biết giáo dục có khai phóng không, đừng đến xem trường quốc tế. Hãy ghé các lớp học tình thương dưới gầm cầu.

Đáy bình không biết nói dối. Nước trong đến mấy, nếu dưới đáy có cặn bùn, rong rêu, thì cả cái bình ấy vẫn chưa sạch. 

Xã hội cũng vậy. GDP có thể tăng, nhà cao tầng có thể mọc như nấm, nhưng nếu vẫn còn những đứa trẻ ngủ gầm cầu, những cụ già nhặt ve chai bị xe tông không ai nhận, thì sự phồn vinh đó chưa thật sự trọn vẹn.

Có một câu nói nổi tiếng của Adam Smith trong tác phẩm 'Của cải của các quốc gia' (The Wealth of Nations) mà tôi rất tâm đắc :

"Không một xã hội nào có thể thực sự thịnh vượng và hạnh phúc, nếu phần lớn các thành viên trong xã hội đó nghèo khổ và khốn cùng."

Nguyen Thyanh.

Cuộc sống : TỚI LÚC SẼ BIẾT - St trên FB.

 



TỚI LÚC SẼ BIẾT. 

(Chuyện không biết Chơn- Giả, tui copy từ bạn FB Phương Nam, đọc mà cứ rươm rướm nước mắt vì cái tình người ở Việt Nam vào thế kỷ 21 in hằn vật chất vô cảm này. Mời quý bà con...)

***

Bảng nội quy dán ngay cửa dãy trọ, in khổ bự, ép nhựa đàng hoàng. Văn phong của cô thì miễn bàn. Điều một: "Tiền trọ đóng trước mùng năm. Mùng sáu cô nhắc bằng cái mặt." Điều bốn: "Karaoke sau chín giờ: mời qua chỗ khác hát. Chỗ khác là đâu cũng được, miễn không phải đây." Điều sáu: "Nước là tiền. Tắm kiểu nhà giàu thì đóng tiền kiểu nhà giàu." Điều chín: "Dắt bạn về phải báo. Không phải cô cấm - cô ghi sổ, lỡ mất đồ còn biết hỏi ai."

Mười sáu điều như vậy, đọc vừa sợ vừa muốn vỗ tay. Nhưng huyền thoại nằm ở chỗ: bảng ghi rõ "NỘI QUY (17 ĐIỀU)", mà đếm tới đếm lui chỉ có mười sáu. Chỗ điều mười bảy là một khoảng trống, vết keo còn hằn, như từng có mà bị ai xé mất. Hỏi cô, cô trả lời đúng bốn chữ: "Tới lúc thì biết." Thế là bao nhiêu thế hệ sinh viên tự chế 7749 giả thuyết. Thằng Phát tin đó là danh sách tử thần: phạm đủ mười sáu điều thì kích hoạt điều mười bảy. Con Nhi thì đoán: "Điều mười bảy chắc là cấm hỏi về điều mười bảy."

Nói cho công bằng, cô Năm khó nhưng khó đều, không thiên vị ai. Và giữa thời buổi trọ Sài Gòn chỗ nào cũng rục rịch lên giá, dãy của cô vẫn đứng im ở một triệu hai - mức giá mà tụi bạn tui nghe xong tưởng tui xuyên không từ năm 2015 về. Muốn vô ở phải xếp hàng chờ, mà thứ tự chờ thì cô xếp theo tiêu chí gì, chưa ai giải mã nổi.

Phòng số 4 cuối dãy là anh Toàn - dev ra trường ba năm, làm công ty nhỏ bên kia đường, đi bộ mười phút. Anh hiền khô, tối tối leo rank Liên Minh tới Cao Thủ, còn ngoài đời thì ba năm không leo đi đâu hết: vẫn phòng một triệu hai, vẫn cơm cô Sáu, vẫn dép tổ ong. Tài sản lớn nhất đời anh là dàn PC đèn RGB sáu chục triệu, nằm chễm chệ giữa căn phòng mười hai mét vuông. Tụi tui hay qua ké máy, nghe anh giảng đạo: "Ở đây quen rồi tụi em. Công ty lớn rủ hoài mà qua quận 1 chi cho xa, kẹt xe thấy ghê."

Rồi từ đầu năm ngoái, tự nhiên cô Năm trở mặt với đúng một mình anh Toàn. Đầu tiên tăng tiền phòng thêm ba trăm. Vài tháng sau thêm năm trăm. Qua năm nay thêm một cục nữa. Cả xóm không ai bị động tới một đồng, riêng phòng số 4 giá leo như coin. Chưa hết: cô bắt anh dời xe khỏi chỗ đậu quen, nhắc anh chuyện rác chuyện điện - những lỗi mà xưa giờ cô lơ. Tới tháng sáu là cú chốt: cô đưa anh tờ giấy hẹn cuối tháng bảy trả phòng, lý do gọn lỏn: "Hết hợp đồng, cô không ký tiếp." Xong cô treo luôn cái bảng trước cửa: "PHÒNG SỐ 4 SẮP TRỐNG - ƯU TIÊN NĂM NHẤT." Người còn chưa dọn, bảng đã treo. Lạnh chưa.

Xóm trọ chấn động, group chat nổ banh. Thằng Phát - bà con biết tánh nó rồi - đêm đó thả liền ba giả thuyết: một, cô lấy phòng cho cháu; hai, cô sắp bán dãy trọ cho cò đất, bằng chứng là tuần trước có hai người lạ tới đo đạc chụp hình; ba, anh Toàn phạm phải điều mười bảy. Con Nhi nghe tới đâu gạch tới đó, nhưng riêng vụ đo đạc thì chính nó cũng không cãi được. Còn tui kẹt cứng ở giữa: sau cái vụ nhóm Zalo hồi trước, tui biết thừa cô Năm là người thế nào, mà chuyện đó tui đâu có kể ai được. Thành ra tui chỉ dám nói yếu xìu: "Tao thấy cô hông phải người vậy đâu." Phát quạt lại liền: "Mày bênh vì phòng mày chưa bị tăng giá chớ gì."

Nó nói trúng tim đen. Tui im.

Sáng chủ nhật cuối tháng bảy, cả xóm ra phụ anh Toàn dọn nhà, không khí y như đưa tang. Con Nhi đi sau thùng đồ, mặt buồn thiu. Thằng Phát khiêng cái case RGB bằng hai tay như khiêng quan tài, vậy mà miệng vẫn cà khịa được: "Anh ơi, qua chỗ mới nhớ để nó quay mặt về hẻm cũ nghen." Anh Toàn cười mà mắt đỏ hoe.

Đúng lúc đó cô Năm kêu: "Toàn, vô cô biểu. Trí, bây bưng giùm cô thùng nước ngọt vô luôn."

Tui bưng thùng nước theo sau, và đó là lần đầu tiên tui bước vô nhà cô Năm. Vừa qua cửa tui khựng lại: nguyên một mảng tường phòng khách dán kín hình. Mấy chục tấm, tấm cũ ố vàng, tấm mới còn bóng, dưới mỗi tấm ghi tay tên với năm. Tấm nào cũng cùng một kiểu: một đứa trẻ măng ôm thùng đồ đứng trước dãy trọ, mặt vừa mếu vừa cười. Có tấm chụp một anh ốm nhom ôm thùng sách, hai cánh tay trắng trơn chưa dính miếng mực xăm nào - nhìn quen dữ thần mà lúc đó tui nghĩ hoài không ra.

Cạnh mảng hình là một tờ giấy học sinh viết tay, chữ nghiêng nghiêng, ghi đủ mười bảy điều nội quy. Bản gốc. Tui kịp đọc dòng cuối cùng trước khi cô quay ra.

Điều mười bảy: "Lớn rồi thì đi."

Cô Năm đưa anh Toàn một cái phong bì dày, giọng tỉnh rụi như đọc chỉ số điện:

Mười bốn triệu bảy. Tiền tăng giá của con hơn năm nay, cô giữ đủ từng đồng. Chớ để bây giữ, bây nạp game hết. Cầm đi, đặt cọc chỗ mới.

Anh Toàn đứng như tượng sáp. Hồi lâu mới lắp bắp: "Sao... cô hông nói con?" Cô Năm nhún vai:

Nói trước thì bây ỷ lại. Với lại con giấu cô được cái gì. Con ký hợp đồng bên quận 1 từ tháng trước rồi mà giấu cả xóm, tính ở lì thêm. Bà Bảy nghe con đứng đầu hẻm gọi điện, kể cô nghe hết trơn.

Ra là vậy. Hai người "đo đạc" tuần trước là thợ, tới coi phòng số 4 để sơn lại, lắp thêm cái cửa sổ - cho đứa năm nhất sắp dọn vô, con nhỏ mới trúng tuyển sớm vô trường tui, nhà tuốt dưới miền Tây, đang cần cái giá một triệu hai hơn bất kỳ ai trong xóm. Còn mọi cú tăng giá, bắt bẻ, treo bảng ròng rã hơn năm trời - là cô Năm lùa một thằng rank Cao Thủ trong game ra khỏi cái rank Đồng ngoài đời, từng nấc một, tới khi ảnh hết đường lùi.

Anh Toàn ôm cô Năm. Cô đẩy ra liền: "Thôi thôi, đi lẹ, chiều người ta dọn vô rồi." Mà bàn tay cô vỗ vỗ lưng ảnh, chậm rãi, cái kiểu vỗ y chang má tui.

Trước khi ảnh nổ máy xe, cô Năm móc điện thoại ra: "Khoan. Ôm thùng đồ, đứng vô trước cửa, cô chụp tấm hình." Anh Toàn ôm thùng đồ đứng vô, mặt vừa mếu vừa cười - y chang mấy chục tấm trên tường. Tui đoán tuần sau, mảng tường đó sẽ có thêm một tấm mới, ghi tay: Toàn, 2026.

Tối đó tui lân la hỏi: "Cô ơi, chừng nào tới lượt con bị tăng giá?" Cô Năm nhìn tui từ đầu tới chân một lượt, rồi nói:

Lo học đi. Tới lượt con, cô đuổi hông sót một ngày đâu.

Nghe câu đó, tự nhiên tui thấy được an ủi mới ghê. Cả Sài Gòn sinh viên sợ nhất hai chữ tăng giá. Riêng xóm trọ hẻm 404 tụi tui ngầm hiểu ngược: cô Năm còn chưa đụng tới tiền phòng của mình, nghĩa là trong mắt cô, mình còn cần được che.

Chiều hôm đó, con nhỏ năm nhất ốm nhom vác cái balo bự hơn người dọn vô phòng số 4. Cô Năm đứng chống nạnh trước cửa, đọc nội quy cho nó nghe từ điều một tới điều mười sáu. Con nhỏ rụt rè: "Cô ơi, bảng ghi mười bảy điều mà cô?"

Cô Năm xoay lưng đi vô, buông đúng một câu:

"Tới lúc con sẽ biết."...

Sưu tầm trên FB 

.

Truyện năm Bính Ngọ : CON NGỰA "HỒNG TÂM" p 1- H.V.H

 



CON NGỰA “HỒNG TÂM” ( phần 1 )

Ngày ấy, ở một vương quốc nằm giữa những đồng bằng xanh ngát và những dãy núi trùng điệp, có một vị vua trị vì đã nhiều năm.

Nhà vua vốn là người cẩn trọng, ít nói nhưng sáng suốt. Trong những năm cuối đời, sức khỏe của Người ngày một yếu. Biết mình chẳng còn sống được bao lâu, nhà vua cho gọi các đại thần thân tín vào cung, căn dặn từng việc lớn nhỏ của triều đình, đặc biệt là chuyện truyền ngôi cho vị thế tử còn đang ở tuổi thiếu niên.

Ngoài giang sơn, ngai vàng và kho báu của hoàng gia, nhà vua còn có một thứ mà Người đặc biệt yêu quý.

Đó là một con ngựa non.

Bộ lông nó có màu trắng hồng nhạt, ngay giữa cái ngực rộng nở nang có một vệt hình trái tim hồng rất rõ. Đôi mắt nó trong veo, lanh lợi; bốn chân khỏe khoắn thon dài,tất cả đã cho thấy dáng vóc của một chiến mã sau này. Nhà vua đặt tên cho nó là Hồng Tâm.

Người thường bảo các quan:

“Ngựa này còn non, nhưng tâm tính rất khác thường. Nó thông minh, gan dạ và có nghĩa.”

Chẳng ai hiểu vì sao nhà vua lại nói một con ngựa có “nghĩa”.

Nhưng nhà vua chỉ cười.

Rồi một ngày, tiếng chuông, tiếng trống báo tang vang  dài khắp kinh thành.

Vua cha băng hà.

Cả hoàng cung như chìm trong màu tang trắng.

Theo di chiếu, vị thế tử lên ngôi.

Tân vương còn quá trẻ. Khuôn mặt vẫn còn nét ngây thơ của tuổi thiếu niên, nhưng trên người đã khoác long bào thay tiên đế gánh vác sơn hà. Từ ngày bước lên ngai vàng, tân vương mới hiểu rằng ngồi trên ngai cao chưa chắc đã là người có quyền lực nhất.

Triều đình bắt đầu chia thành nhiều phe.

Người này tìm cách đưa phe mình vào những chức quan trọng. Người nọ ngấm ngầm kéo bè kết cánh. Những cuộc gặp gỡ kín đáo diễn ra trong phủ các đại thần. Những lời đồn đại lan từ chợ đến quán trà, từ hành lang cung điện đến tận những ngôi làng xa xôi.

Ai cũng nói mình vì xã tắc.

Ai cũng nói mình một lòng trung quân.

Nhưng phía sau những lời ấy, mỗi người đều có một toan tính riêng.

Có người muốn giữ quyền lực của phe mình.

Có người muốn đưa họ hàng vào triều.

Có người muốn nhà vua trẻ chỉ làm một vị vua trên danh nghĩa, còn việc triều chính phải do họ quyết định.

Trong lúc ấy, tân vương lại có một niềm vui rất giản dị.

Người thích Hồng Tâm.

Mỗi buổi chiều, sau khi giải quyết công việc triều đình, nhà vua thường cho gọi người coi sóc ngựa đưa Hồng Tâm vào cấm thành.

Có hôm, Người tự tay vuốt bờm nó.

Có hôm lại lấy một quả táo đưa tận miệng.

Hồng Tâm cũng rất quý chủ. Hễ nghe tiếng bước chân nhà vua là nó hí lên, giậm chân và ngoảnh đầu tìm kiếm.

Một hôm, nhà vua cho dẫn Hồng Tâm vào vườn Thượng Uyển.

Đó là khu vườn đẹp nhất trong hoàng cung. Những cây cổ thụ trăm tuổi bonsai được chăm sóc cắt tỉa cẩn thận, hoa quý được đưa từ các vùng xa về trồng. Có hồ sen, có cầu đá, có những lối đi lát đá quanh co dưới những hàng cây xanh mát.

Hồng Tâm bước vào.

Nó nhìn bên này.ngó bên kia.Rồi…một đóa hoa mẫu đơn vừa nở bị nó ngoạm mất.

Nhà vua bật cười.

“Ngươi thật là!”

Hồng Tâm nhai ngon lành, chẳng hề có vẻ biết mình vừa phạm tội.

Nhưng tai họa thật sự xảy ra khi Hồng Tâm phát hiện một luống cây quý mới trồng.

Nó bước tới.Ngửi ngửi… .

Rồi bất ngờ dùng móng trước cào xuống đất.

Một cây bị bật gốc. Rồi… hai cây.

Người làm vườn đứng gần đó tái mét mặt.

“Bệ hạ...!”

Nhà vua cười lớn:

“Thôi, thôi! Nó còn nhỏ. Trẫm bảo người trồng lại là được.”

Người làm vườn cúi đầu:

“Bẩm… xin tuân lệnh”

Nhưng chưa hết.

Một buổi khác, khi nhà vua đang đứng bên hồ sen, Hồng Tâm chạy tới bên Người. Không biết sao nó giơ một chân trước lên, vô tình chạm ngay vào vạt long bào.

Một vết bẩn hiện rõ trên long bào màu vàng.

Mấy thái giám đứng gần đó sợ đến mức không dám thở.

Nhà vua nhìn xuống.

Rồi nhìn Hồng Tâm.

Hồng Tâm cũng nhìn Người.

Hai bên nhìn nhau một lúc. Nhà vua bật cười.

“Ngươi muốn làm phản hay sao mà dám chạm lên long bào của Trẫm?”

Hồng Tâm hí lên một tiếng.

Nhà vua lại mỉm cười khi nhìn thấy một con sâu ngái xanh lè đang nằm lăn lóc trên bãi cỏ phía dưới vạt áo!! 

Những chuyện ấy chẳng bao lâu đã đến tai các đại thần.

Và lần này, một số người không cười.

Một nhóm quan lại vốn đang tìm cách tạo ảnh hưởng trong triều lập tức có cớ. Họ họp kín.

Một viên quan nói:

“Việc này không thể xem thường!”

Người khác phụ họa:

“Đúng! Long bào là biểu tượng thiên tử. Một con vật mà dám giẫm lên long bào thì còn coi phép nước ra gì?”

Một viên quan vốn đã có hiềm khích với phe của nhà vua trẻ nói:

“Đây chính là dấu hiệu của việc cung đình không còn tôn nghiêm!”

Thế là một bản tấu được soạn.

Tên của nó rất đẹp:

“Trung Quân Ái Quốc Sớ.”

Trong đó có đoạn viết rằng: Hồng Tâm đã ăn hoa quý, phá cây quý, lại còn xúc phạm,giày xéo (!?) lên long bào của thiên tử. Nếu không nghiêm trị, phép nước sẽ không nghiêm , kỷ cương sẽ bị xem thường.

Họ đề nghị… bắt giữ con ngựa và cả quan quân phụ trách coi sóc ngựa để trị tội! 

Thậm chí có người còn đề nghị “xử theo quốc pháp” thật nặng để làm gương.

Ngày hôm sau, bản tấu được dâng lên điện.

Nhà vua ngồi trên ngai, đọc từng dòng.

Đọc xong, Người im lặng.

Cả điện rồng im phăng phắc.

Một viên đại thần bước ra:

“Tâu bệ hạ, thần thiết nghĩ việc này liên quan đến uy nghiêm của hoàng gia. Không thể vì một con vật mà bỏ qua phép nước.”

Nhà vua nhìn ông ta.

“Khanh nói đúng. Có những sự việc như vậy "

Vị quan mừng thầm.

Nhưng nhà vua nói tiếp:

“Long bào của Trẫm có dơ bẩn chút  thì giặt được. Cây bị Hồng Tâm dẫm thì trồng lại được. Hoa bị nó ăn thì lứa sau lại nở.”

Người ngừng một lát rồi hỏi:

“Nhưng Trẫm muốn hỏi các khanh một chuyện.”

Không ai dám lên tiếng.

“Trong thiên hạ này, có ai nhân danh ‘Trung Quân Ái Quốc’ để tranh giành chức tước, quyền lực và phe cánh hay không ?”

Cả điện im phăng phắc.

Nhà vua đặt bản tấu xuống.

“Chuyện của Hồng Tâm, Trẫm không truy cứu.”

Một viên quan vội nói:

“Nhưng bệ hạ...”

Nhà vua khoát tay.

“Đủ rồi.”

Rồi Người đứng dậy.

“Các khanh hãy lo việc nước, lo cho dân đen hãy còn khốn khó ngoài kia… . Đừng đem chuyện một con ngựa ăn vài đóa hoa mà làm thành đại sự. Nhất là nó đã chỉ dùng chân trước để hất một con sâu ngái trên vạt long bào… “

Nhà vua bước khỏi điện.

Ngoài sân, Hồng Tâm đang được người hầu dắt đi ngang qua.

Vừa thấy nhà vua, nó lập tức hí vang.

Nhà vua đến gần mỉm cười, đưa tay vuốt đầu nó.

“Đi nào, Hồng Tâm.”

Con ngựa ngoan ngoãn bước theo.

Nhưng phía sau những cánh cửa điện đang khép lại, có những ánh mắt vẫn dõi theo.

Một vài người cúi đầu.

Một vài người nghiến răng.

Và có người khẽ nói:

“Con ngựa ấy... rồi sẽ còn gây chuyện.”

Không ai biết rằng, từ giây phút ấy, Hồng Tâm đã vô tình trở thành một quân cờ trong cuộc tranh giành quyền lực của triều đình.

Còn vị vua trẻ vẫn chưa biết rằng phía trước mình không chỉ có chuyện những đóa hoa trong vườn Thượng Uyển...

Mà còn có những cơn giông bão ngầm đang âm thầm vần vũ… .( còn tiếp phần 2 ).

H.V.H (9 - 2026)



Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

Cuộc sống : CHUYỆN MỘT TÔ PHỞ - St trên mạng.

 


CHUYỆN MỘT TÔ PHỞ. 

Là một giáo viên, mình thật sự bất ngờ với cách dạy con biết ứng xử của của các bậc phụ huynh thời bây giờ.

Chuyện là sáng hôm qua, khoảng 8h sáng mình đang ăn phở ở một quán quen gần nhà. Thì có một người đàn ông khoảng chừng 45 tuổi bước vào và gọi một bát phở tái gầu (người mình khoanh dấu đỏ). 

Chuyện sẽ chẳng có gì, nếu như khi ăn xong người đàn ông đấy chịu trả tiền rồi đi về. Nhưng không. Sau khi cắm cúi ăn một lúc, ông đấy đứng dậy kêu :"Ôi xời! Gầu thì vừa dai, vừa hôi. Nước phở thì nhạt toẹt. Ăn chẳng ra gì", sau đó ném đũa, đứng dậy tính đi về. Chị chủ thấy thế chắc cũng nóng mắt, tay cầm cái muôi múc nước phở, chạy ra chỉ thẳng vào mặt người đàn ông, bảo :

- "Ông ăn hết cả bát phở của người ta rồi, giờ ông nói thế để tính bùng mà được à. Trả tiền. Rồi đi đâu thì đi." 

Ông khách vẫn chẳng cho vào tai, lại nói: 

- "Phở nhà bà ăn chẳng ra gì, tôi không hài lòng, tôi không thanh toán!" 

 Nói xong ông đấy lại định bụng dời đi. Nhưng bị chị chủ giữ lại. Khách trong quán thấy cảnh này, người thì hiếu kì ngồi xem, còn mình và một số người khác thì khuyên ông khách. Nhưng lại bị lão đấy lườm cho rồi quát "Im mồm, việc của mấy ông bà à?"  Thấy lão đấy có vẻ không được bình thường, mà cũng sợ ảnh hưởng đến mình, nên mọi người lại thôi. Trong đầu nghĩ bảo :"Chị chủ hôm nay đen rồi. Gặp ông thần đến phá đám."

 Nhưng khi hai bên vấn đang dằng co rất cao trào, thì có một giọng nói trẻ con vang lên 

- "Bác ơi. Bác cứ về đi, lát nữa bố cháu gửi tiền cho."

Thế là mọi ánh mắt đều đổ về hướng của cậu bé (bạn nhỏ trong ảnh), một bạn học sinh tầm khoảng lớp 3, lớp 4  , nhưng không phải học sinh trường mình. 

 Thấy con trai nói thế, người bố cũng nhìn bà chủ gật đầu, để thể hiện rằng đồng ý, và để cho người đàn ông kia ra về. Lúc đi vào, chị chủ mới hỏi bạn nhỏ kia là :

- "Sao cháu lại bắt bố phải trả tiền cho cái loại ấy?" 

- "Tại cháu thấy cô với bác ấy cứ dằng co nhau ở trước quán, vừa ảnh hưởng đến người muốn đến quán ăn, vừa làm mọi người đang ăn trong này cũng chẳng còn thấy ngon nữa. Với cả một bát phở nhà mình cháu thấy cũng rẻ, thôi thì bố cháu mua thêm 1 bát, vừa là để ủng hộ cô, giúp cô vơi đi sự giận dữ để đón những người khách sau, vừa là để cả hai bố con được tận hưởng bát phở trên bàn này trọn vẹn hơn." Bạn học sinh đáp.

 Nghe xong câu trả lời, mình bất ngờ toàn tập. Trước tiên là vì sự dũng cảm của bạn nhỏ, khi mà người lớn đều đang im lặng, thì bạn ấy lại lên tiếng. Tiếp theo, là cách tư duy, phân tích và ứng xử khi gặp phải vấn đề, rất chuẩn chỉ và hợp lý. 

Mình rất ấn tượng với bạn học sinh này, nên lúc về, mình có lại bắt chuyện với bố bạn ấy, để hỏi xem bạn ấy học ở trường nào, và bí quyết dạy con của gia đình là gì mà bạn ấy lại giỏi đến thế. 

 Hỏi ra thì mới biết, bạn ấy là học sinh lớp 3 ở trên Hà Nội, được buổi cuối tuần về quê chơi với ông bà. 

Bài và ảnh sưu tầm trên mạng.

Chân tình : ĐÔI GUỐC DƯỚI HIÊN NHÀ - Tim Nguyễn.

 



ĐÔI GUỐC DƯỚI HIÊN NHÀ

Tôi lớn lên ở một cù lao nhỏ ven sông Hậu. Ở đó người ta không tính ngày tháng bằng tờ lịch treo tường, mà tính bằng con nước, con trăng. Nước lớn thì đi đồng, nước ròng thì vá lưới. Đời người cũng trôi lặng như nước, ít ai đi xa khỏi cái bờ kinh của mình.

Nhà tôi nghèo. Nghèo bền vững.

Má tôi mất sớm. Tía tôi mất khi tôi vừa biết vác lúa. Căn nhà lá tía để lại xiêu một bên sau mỗi mùa gió chướng. Mấy công ruộng ít ỏi, đất phèn làm không đủ ăn, trước khi mất tía tôi phải đem cầm cố cho người ta để có tiền thang thuốc cho má. 

Trên mấy công đất đó bây giờ có hai nấm mồ đất của tía má tôi, cỏ mọc lút đầu mỗi mùa mưa. Tôi ở lại giữ đất, mà đất cũng không còn là của mình.

Tôi không học nhiều. Chữ nghĩa đủ đọc tờ báo cũ người ta gói rau, đủ viết tên mình không sai. Quanh năm ai kêu gì làm nấy. Tía tôi trước khi nhắm mắt có dặn một câu, tôi nhớ cả đời: "Nghèo thì nghèo, con đừng để người ta coi thường cái lòng của mình." Tôi giữ câu đó như giữ cái nóc nhà.

Tôi chưa từng dám nghĩ đến chuyện vợ con đàng hoàng. Đàn ông như tôi, không ruộng, không chữ, không người thương, chỉ có sức thì mong gì hơn một bữa cơm đủ no.

Năm tôi hai mươi bốn tuổi, ông Hội đồng Phước ở làng bên cho người gọi tôi.

Nhà ông là căn nhà ngói lớn nhất vùng. Cột căm xe, sân gạch tàu. Ruộng của ông cò bay mỏi cánh. Tôi từng vác lúa cho ông nhiều mùa, chỉ dám đứng ngoài sân.

Ông ngồi trên bộ ván gõ, rót cho tôi chung trà. Rồi ông nói chuyện cô Hai. Cô Hai là con một  của ông, đẹp và có học nhất vùng. Cô được lên tỉnh học trường đầm, biết đọc sách, chữ viết tròn trịa. Trai trong vùng ai cũng ngó mà không ai dám trèo cao.

Ông không vòng vo. Ông nói cô Hai có thai với anh bạn trai trên tỉnh, nay đã bỏ cô. Ông không trách ai một lời. Chỉ nói ông là người cha, ông không muốn con gái mình phải cúi đầu ngoài chợ, không muốn đứa nhỏ sinh ra đã mang tiếng không cha.

Ông muốn tôi cưới cô Hai, và ông nói thiệt hết.

Ông chỉ cần một người đứng tên làm chồng che mắt thế gian. Một năm. Cho người đời thấy đó là một cuộc hôn nhân đàng hoàng, chứ không phải một người con gái chửa oan. Sau một năm, khi mọi chuyện lắng xuống, tôi có thể rời đi. Coi như tôi bỏ vợ đi theo người khác vậy mà. 

Để trả công, ông sẽ chuộc lại mấy công đất cha tôi đã cầm cố, trả lại cho tôi để có chỗ thờ tía má, dựng lại cái nhà. Ông sẽ không để tôi thiệt.

Tôi ngồi im rất lâu. Chung trà nguội ngắt. Tôi hiểu ông. Ông không mua tôi. Ông chỉ đang tìm một lối đi ít đau nhất cho con gái mình. Ông không muốn hỏi trai cùng làng nên tìm đến tôi và biết ba tôi bị xiết ruộng, cần phải chuộc lại.

Đêm đó tôi ra bến sông ngồi. Trăng non chiếu lăng tăng trên mặt nước. Tôi nghĩ đến hai nấm mồ của tía má tôi đang nằm trong đất người ta, cỏ mọc không ai nhang khói. Tôi nghĩ đến đời mình vốn đã không có gì để mất, không người yêu. Nếu sự có mặt của tôi giúp một người con gái giữ được chút bình yên, giúp một đứa trẻ sau này đi học không bị chúng bạn chọc ghẹo, thì cũng đáng.

Tôi nhận lời.

Đám cưới nhỏ, lặng lẽ. Tôi mặc bộ đồ mới duy nhất cô Hai mua cho, cô mặc áo dài màu bông hường. Cô cúi đầu suốt buổi lễ, lặng lẽ nhìn tôi trong chua xót cho cả hai.

Về nhà vợ, tôi ở tạm căn nhà sau, cách buồng cô cái sân phơi lúa. Chiếc rương gỗ tạp tía đóng, tôi để nguyên dưới gầm giường. Trên vách tôi chỉ treo hai bộ đồ. Tôi nghĩ mình đến như người khách, thì lúc đi cũng nhẹ.

Cô Hai cũng vậy. Cô đối với tôi lịch sự. Cơm nước có bà Năm, người giúp việc khi cô còn nhỏ. Chúng tôi như hai người khách trọ chung một nhà rộng, đi nhẹ, nói khẽ để khỏi phiền nhau.

Tôi đi làm từ khi gà chưa gáy. Tôi ra đồng của ông Hội đồng, làm như ruộng của mình. Tôi thấy bờ mẫu nào sạc thì đắp lại, thấy lu nước cạn thì gánh đầy. Không ai mượn, không ai biểu. Tôi nghĩ mình đã nhận lời làm chồng một năm thì phải làm cho trọn.

Cô Hai lúc đầu nhìn tôi như người giúp việc đồng án.. Cô không coi thường ra mặt. Con nhà gia giáo nên không trịch thượng như những người khác. Cô chỉ xa. Một cái xa rất lịch sự, rất sạch sẽ của người có văn hóa. Trong mắt cô, tôi là một phương án êm thấm mà cha cô đã chọn. Cô mang ơn tôi, nhưng ơn thì không phải là thương.

Nhưng mưa dầm thấm đất.

Điều làm cô để ý đến tôi đầu tiên không phải chuyện gì lớn. Một sáng, cô thấy đôi guốc mộc của cô hôm qua còn dính bùn vứt ở góc sân, sáng nay đã được ai đó rửa sạch, đặt ngay ngắn bên thềm. Chiều, cô thấy lu nước sau hè lúc nào cũng đầy. Cái hàng rào tre trước sân bị gió quật nghiêng, qua một đêm đã được dựng lại. Cô biết những chuyện làm đó từ tôi.

Rồi cô bệnh, một trận cảm sau mấy ngày dầm mưa. Cô nằm trong buồng, sốt hầm hập. Cô nghĩ tôi đã ra đồng. Đến khi tỉnh dậy, trên trán là chiếc khăn ướt vừa được thay. Bên cạnh cô, tôi ngồi ngủ gục trên ghế tre, tay còn cầm cái quạt mo cau.

Tối đó cô khóc. Lần đầu tiên sau khi người đàn ông trên tỉnh rời đi, cô khóc không phải vì tủi, mà vì có một người lo cho mình theo một cách rất quê, rất thật.

Từ đó, cô bắt đầu nhìn tôi bằng một con mắt khác. Cô thấy tôi ăn cơm lúc nào cũng vành chén sạch, không bỏ một hột. 

Không bao giờ ngồi vào mâm trước. Có khách đến chơi, tôi tự động bưng chén ra sau hè. 

Cô lớn lên giữa những người đàn ông biết nói lời hoa mỹ. Lần đầu cô gặp một người đàn ông ít học nhưng lòng không nhỏ nhen, nghèo nhưng không tự ti như tôi.

Và rồi cô bắt đầu lo cho tôi, cũng bằng những việc nhỏ. Thấy tôi đi cày về đau lưng, cô đem xuống phòng tôi cái gối mây kê lưng ngủ cho êm. Thấy áo tôi rách ở vai, cô không nói, trưa vắng lấy kim chỉ tự tay vá lại. Biết tôi ăn không được mắm quá mặn, cô dặn má Năm kho riêng cho tôi một tộ lạt hơn.

Tôi không gọi đó là thương nhưng hình như có mùi hương yêu đang phảng phất quanh tôi. 

Mỗi chiều, khi nghe tiếng chân tôi lội bì bõm dưới ao sau nhà, cô lại tự động đứng dậy, đi ra hiên sau nhìn tôi. Nhìn bâng quơ vậy thôi, chứ không phải chờ. Cái nhìn trìu mến của người đã phải lòng.

Chúng tôi thương nhau như phù sa bồi bờ. Không ai thấy nó bồi mỗi ngày, chỉ đến khi bãi đất đầy mới biết mình không thể rời được nữa. Nhưng ai cũng còn giữ kẽ vì cái ranh giới vô hình còn giới hạn.

Chỉ có một nơi tôi cho phép mình không giữ kẽ, là với thằng bé.

Nó ra đời vào một đêm mưa. Tôi đứng ngoài buồng nấu nước, chạy đi gọi bà mụ, tay chân lóng ngóng. Khi bà mụ trao nó cho tôi ẩm lần đầu, tay tôi run đến nỗi sợ làm rớt nó.

Từ ngày đó, tôi biết thế nào là có một gia đình để đi về. Buổi trưa đi đồng nắng rát, chỉ cần nghĩ đến chiều về thấy thằng nhỏ là tôi hết mệt.

Nhưng tôi vẫn giữ lòng mình lại bằng ba sợi dây vô hình:

Sợi dây thứ nhất là lời hứa. Một năm. Ông Hội đồng đã giữ lời, đã cho người chuộc lại mấy công đất nơi đó có mồ mả tía má tôi. Mấy năm nay cỏ mọc lút đầu mả, tôi chưa dám về thắp một nén nhang cho đàng hoàng vì đất còn trong tay người ta. Nay đất về rồi, tôi phải cố giữ bằng bất cứ giá nào. Đó là gốc của tôi.

Sợi dây thứ hai là nỗi sợ của người ít học. Cô Hai có học, biết nhiều chuyện ngoài kia. Tôi chỉ biết con nước, bờ ruộng. Có những lúc cô nói, tôi hiểu bằng tim chứ không hiểu bằng chữ. Tôi sợ cái thương hôm nay của cô chỉ là cái ơn, là sự cảm động của một năm gần gũi. 

Sợi dây thứ ba là ông Hội đồng thương con nên mới phải làm vậy, chứ nhà ông mấy đời sống trong nề nếp, gia phong nên không bao giờ chịu cho cuộc hôn nhân thật vì tôi là thằng không cha không mẹ, chữ nghĩa không có. Cái giai cấp đó nó không phải muốn bỏ là bỏ được. Nó in sâu trong xã hội rồi. 

Rồi một năm cũng qua. Một buổi chiều, ông Hội đồng gọi tôi ra sân. Ông nói mọi chuyện đã qua, người làng cũng đã quên. Ông nói tôi đã giữ trọn lời hứa, ông mang ơn tôi. Từ nay tôi có thể trở về cuộc đời của mình.

Sáng hôm ấy, tôi đứng trong căn phòng phía sau, nhìn chiếc rương gỗ nhỏ đã theo tôi đến đây từ ngày đầu tiên. Tôi xếp vào đó vài bộ quần áo như ngày mới đến, còn bộ đồ cưới tôi để lại. Chỉ có vậy. Một năm sống trong căn nhà này, vậy mà đến lúc ra đi, tôi mới thấy mình có quá nhiều thứ phải bỏ lại.

Tôi bước ra sân. Cô Hai đã đứng dưới mái hiên. “Anh Hai... đi thiệt sao?”

Tôi cúi đầu. “Dạ.” Một tiếng dạ ngắn ngủi, nhưng nghe như một lời đoạn tuyệt.

Cô im lặng. Gió thổi qua sân, làm tà áo bà ba cô khẽ lay. Một lúc lâu, cô mới nói rằng cô biết ngày này rồi cũng sẽ tới. Ngày tôi đến đây, cả hai đều nghĩ chỉ cần một năm. Một năm rồi tôi sẽ về với mảnh đất của tía má, còn cô sẽ trở lại cuộc đời của mình.

Nhưng không ai ngờ một năm lại đủ để hai người xa lạ trở thành người thân thuộc.

Cô nói cô đã quen tiếng chân tôi ngoài sân mỗi sáng. Quen buổi chiều đứng dưới mái hiên nhìn tôi từ ngoài đồng trở về. Quen một người âm thầm sửa lại hàng rào, vá mái nhà, rửa đôi guốc cho cô. Quen có một người không nói lời ngọt ngào nhưng lúc nào cũng ở đó khi cô cần.

Cô nhìn tôi, nước mắt chảy xuống. “Em quen có anh trong nhà rồi.” Tôi quay mặt đi vì mắt mình cũng đã đỏ.

Cô bước xuống bậc thềm, đi chậm đến trước mặt tôi. Hai bàn tay cô nắm chặt vào nhau. Cô muốn nói thêm điều gì đó, nhưng rồi chỉ lắc đầu. Có lẽ những lời cần nói đều đã nằm trong ánh mắt.

Rồi bất ngờ, cô bước tới ôm lấy tôi.

Đó là lần đầu tiên cô ôm tôi như bao người đàn bà ôm người mình thương. Không phải vì danh nghĩa vợ chồng. Không phải vì lòng biết ơn. Mà vì cô sợ tôi bước đi rồi sẽ không bao giờ trở lại, cô sẽ mất tôi mãi mãi.

Tôi ngượng ngùng vòng tay ôm lấy cô. Lần đầu tiên được ôm “vợ” của mình. Bờ vai cô run lên. Tôi nghe rõ tiếng tim đập mạnh của cô và cả của tôi, lần đầu tiên chúng bên nhau thật gần… Hơi ấm và mùi đàn bà làm tôi ngây ngất tâm hồn và thể xác.

Tôi muốn khóc. Tôi muốn nói rằng tôi không đi nữa. Muốn ở lại. Muốn làm chồng thật. Muốn mặn nồng trong tình chồng nghĩa vợ. Muốn chiều đi đồng về vẫn thấy cô đứng dưới mái hiên đợi tôi. Tối đến nghe tiếng thằng Tý cười trong nhà.

Cô buông tôi ra, hai bàn tay vẫn còn giữ lấy tay áo tôi. “Anh Hai... ở lại với em.” Câu nói ấy nhẹ thôi, nhưng làm lòng tôi đau hơn tất cả.

Cô nói cô sẽ xin ông cho anh làm rể thật. Cô nói ruộng đất nhà mình còn nhiều. Cô nói tôi cứ ở lại làm ruộng, nuôi thằng Tý rồi chúng tôi sống với nhau như một gia đình thật sự. Cô không cần tôi mang ơn ai nữa. Cô chỉ cần tôi đừng đi.

Tôi nghe mà lòng mềm xuống. Nhưng trong đầu tôi lại hiện lên hai nấm mồ của tía má. Tôi nhớ lời tía trước lúc mất. Tôi nhớ những năm tháng mảnh đất của dòng họ nằm trong tay người khác. Nay đất đã trở về, tôi không thể quay lưng. Phải cố giữ bằng mọi giá.

Tôi khẽ nói: “Cô Hai, tôi thương cô thiệt lòng. Tôi thương thằng Tý như con ruột. Nếu được sống cho riêng mình, tôi muốn ở lại lắm. Nhưng tôi còn lời hứa với tía má. Đất đã có rồi, tôi phải về.”

Cô đứng im. Nước mắt cứ rơi, nhưng cô không khóc thành tiếng nữa. Có lẽ cô hiểu rằng tôi không rời đi vì hết thương. Nhưng vì bổn phận. Tôi đưa tay nắm lấy bàn tay cô. Tôi giữ thật lâu, như muốn ghi nhớ hơi ấm cuối cùng. “Cảm ơn cô Hai. Mong cô mạnh khỏe và hạnh phúc sau này.”

Vác chiếc rương lên vai. Đi được vài bước, tôi dừng lại nhưng không dám quay đầu. Tôi biết chỉ cần nhìn thấy cô đứng đó, nhìn thấy đôi mắt cô đỏ hoe, tôi sẽ không còn đủ sức bước tiếp.

Phía sau, tôi nghe một tiếng nấc bật lên.  Một tiếng nói khẽ: “ Mong anh trở lại với mẹ con em”. 

Tôi cắn chặt môi bước tiếp, qua hàng rào tre, xuống con đường đất dẫn về bến sông. Nắng đã lên cao hơn, nhưng lòng tôi lạnh ngắt.

Sau lưng tôi là căn nhà từng xa lạ, nhưng đến lúc rời xa lại trở thành nơi tôi thương nhất. Đôi guốc mộc của cô vẫn nằm dưới hiên, ngay ngắn như mọi ngày. Chỉ khác một điều sẽ không còn người đàn ông mỗi chiều đi đồng về, lặng lẽ cúi xuống rửa sạch.

Tôi mang theo chiếc rương trở về với đất của tía má. Còn trái tim mình, tôi biết đã để lại nơi đó.

Một cuộc chia tay không có ai phản bội ai, không có ai hết yêu ai. Chỉ có hai người thật lòng thương nhau… nhưng cuối cùng vẫn phải bước về hai phía của cuộc đời.

TIM NGUYỄN. 

London, 12/08/2026

Một thời : MỘT BUỔI SÁNG... - St trên FB.

 


MỘT BUỔI SÁNG Ở CÀ PHÊ DINH ĐIỀN..PLEIKU 

Người ta nhớ Dinh Điền bởi một ly cà phê mà đến bây giờ, không ai dám nói mình đã hiểu hết..

..Quán nằm khiêm nhường giữa phố núi.

Một căn nhà gỗ, một tầng trệt, một tầng lầu. Không bảng hiệu lộng lẫy. Không bàn ghế cầu kỳ. Mùa mưa nghe mùi gỗ cũ quyện với hương cà phê. Mùa nắng, nắng len qua ô cửa, đậu trên những chiếc bàn đã nhẵn bóng vì năm tháng.

Tháng Ba năm 1975, gia đình chủ quán rời Pleiku. Ngôi nhà ấy rồi cũng qua nhiều lần đổi chủ.

Bây giờ, người ta đi ngang chỉ thấy một nhà nghỉ.

Nếu không có ai nhắc, sẽ chẳng mấy người biết nơi ấy từng có một quán cà phê mà chỉ cần nhắc tên, cả một thế hệ Pleiku lại mỉm cười.

Điều lạ nhất ở Dinh Điền không nằm ở căn nhà.

Mà ở người đàn bà đứng sau quầy.

Thời ấy, nhiều quán cà phê giữ chân khách bằng những cô gái trẻ, bằng tiếng cười, bằng nét duyên của người phục vụ.

Dinh Điền không có điều đó. Quán chỉ có một người mẹ lặng lẽ.

Bà pha cà phê.

Bà bưng từng ly.

Bà tính tiền.

Bà quán xuyến mọi việc từ lúc trời còn tối cho đến khi phố lên đèn.

Khách đến vì cà phê.

Ở lại vì sự tử tế.

Những người từng uống cà phê ở Dinh Điền thường kể rất ít về cách pha.

Họ chỉ nhớ vị.

Một vị đậm đến mức đầu lưỡi còn giữ mãi.

Một ly nhỏ mà đủ làm tỉnh cả buổi sáng.

Có người bảo, hôm nào không uống là thấy thiếu một điều gì đó, giống như ra khỏi nhà mà quên mang theo chiếc đồng hồ vẫn đeo mỗi ngày.

Điều kỳ lạ là càng nhiều người uống, bí quyết của Dinh Điền càng trở nên bí ẩn.

Ông Côn, người sau này gắn bó với một quán cà phê nổi tiếng khác của Pleiku, từng nhiều lần ngồi ở Dinh Điền.

Không chỉ để uống.

Ông còn muốn tìm hiểu.

Ông nhìn cách bà chủ rang cà phê.

Nhìn cách bà nấu.

Nhìn cách bà rót.

Ông thử đoán.

Rồi..

Lại thôi.

Có lúc ông nghĩ vị sánh đặc ấy được tạo nên từ nước thắng đường.

Có lúc lại nghi là nước dừa kho. Nhưng tất cả chỉ dừng ở sự phỏng đoán.

Cho đến hôm nay, bí quyết ấy vẫn theo gia đình bà chủ rời khỏi Pleiku.

Không ai biết câu trả lời.

Và cũng không còn ai để hỏi.

Có lẽ vì vậy mà Dinh Điền vẫn còn ở lại trong ký ức nhiều người.

Không phải như một quán cà phê.

Mà như một điều chưa bao giờ được giải đáp.

Có lần, tôi nhìn rất lâu một tấm ảnh cũ chụp trước quán.

Trong ảnh, chẳng có điều gì đặc biệt. Vài chiếc xe dựng trước cửa.

Mấy người khách ngồi im.

Một ô cửa gỗ mở hé.

Tôi bỗng nghĩ, điều quý nhất của bức ảnh ấy không phải là những gì còn nhìn thấy.

Mà là những gì đã đi mất.

Mùi cà phê thì không thể chụp.

Hơi nóng bốc lên từ chiếc ly cũng không thể giữ lại.

Giọng nói của bà chủ quán càng không.

..

Thời gian đã mang theo tất cả.

Chỉ để lại một cái tên..Dinh Điền.

Mỗi lần ai đó nhắc đến, trong ký ức của một người Pleiku cũ, hình như vẫn có một buổi sớm rất lạnh..Có một người đàn bà lặng lẽ đứng bên chiếc bếp.

..Và có một ly cà phê đang chờ nguội.

( Ảnh trên : Quán cà phê Dinh Điền 1970-1971. Ảnh Nguyễn Quang Hiền sưu tầm )

St trên FB. 

Hương xưa : ĐỐ VUI ĐỂ HỌC - Phạm Công Luận.

 


ĐỐ VUI ĐỂ HỌC.

Giữa thập niên 1960, trên Đài truyền hình Sài Gòn có chương trình Đố vui để học được học sinh đô thị xem nhiều và rất say mê, đến giờ, nhiều người ở lứa tuổi trên dưới 60 vẫn hào hứng khi được nghe nhắc lại chương trình này.

Chương trình này bắt đầu phát năm 1966, do Trung tâm Học Liệu thuộc Bộ Giáo dục (miền Nam) thực hiện. Những người tham gia điều hành chương trình là: các thầy cô dạy trung học như Đinh Ngọc Mô (dạy Pháp văn, có biệt tài về kịch nghệ), Lê Thanh Hoàng Dân (Phó giám đốc Trường Quốc gia Sư phạm), Cao Thanh Tùng (dạy Việt văn), Huỳnh Kim Quế (đã qua một khóa huấn luyện về vô tuyến truyền hình tại Đài Loan) và các ông bà Nguyễn Văn Đồng, Huỳnh Độ, Nguyễn Tú Anh, Đặng Ngọc Hương, Dương Thủy Ngân.

Chương trình được mô phỏng tiết mục truyền hình của Mỹ Quiz Show và tiết mục Quitte ou double của Pháp, vừa có tính giải trí, vừa có tính giáo dục, tạo tinh thần thi đua học tập của học sinh, tập cho các em bình tĩnh, phản ứng nhanh, ăn nói mạnh dạn và lưu loát trước công chúng, khuyến khích các em ưu tú, tạo tinh thần học hỏi cho học sinh nói chung.

Ở giải cá nhân, học sinh nam hay nữ các lứa tuổi từ trung học trở xuống đều có thể ghi tên dự thi, có chứng minh bằng thẻ học sinh hay căn cước. Ban tổ chức ưu tiên cho học sinh các tỉnh xa, nhất là khi thí sinh được ban giám hiệu trường tiến cử đi thi. Mỗi thí sinh sẽ trả lời 9 câu hỏi từ dễ đến khó, thời gian cho mỗi câu là 30 giây. Tiền thưởng tăng từ thấp đến cao, từ câu đầu đến câu cuối, bắt đầu từ 5 đồng, sau đó gấp đôi ở câu sau cho đến khi trả lời cả 9 câu là 1.280 đồng.

Phần thi đồng đội là cuộc thi giữa hai trường khác nhau, cùng trình độ. Ví dụ đội của Trường cộng đồng Phú Vinh ở Vĩnh Bình (nay là Trà Vinh) với Trường cộng đồng Đồ Chiểu ở Gia Định. Mỗi đội gồm 3 thí sinh, có đội trưởng chịu trách nhiệm giới thiệu các bạn trong đội mình. Câu đố trong cuộc thi có 20 câu, mỗi câu 5 điểm nếu đáp trúng. Đáp được nửa câu hay một phần thì số điểm sẽ được ban giám khảo định. Câu hỏi vừa được đưa ra, đội nào bấm chuông trước được trả lời nhưng nếu sai, đội sau sẽ được trả lời. Nếu các thí sinh hai bên đều đáp chỉ gần đúng câu hỏi, ban giám khảo sẽ quyết định số điểm. Sau 20 câu, cộng điểm để xem ai thắng. Người chiến thắng được thưởng 13.000 đồng tính chung tiền mặt và tặng phẩm. Nhưng đội thua cũng được tặng 2.000 đồng.

Có mấy chi tiết về chương trình mà học sinh lúc đó rất thích là: Các giám khảo khi giải thích câu hỏi hay thí sinh trình bày câu trả lời thì dùng bút lông viết lên bảng giấy to, hết giấy sẽ xé trang đó để viết tiếp ở trang sau. Lúc đó trường học toàn dùng phấn viết trên bảng. Nhìn chương trình, thấy giấy khổ lớn rất đắt tiền mà viết lên, xé liên tục nên mọi người xuýt xoa tiếc của. Đã vậy, bút lông lúc đó cũng được xem là loại tối tân! Đâu dễ mua và xài sang như kiểu Mỹ!

Khi công bố giải thưởng, đám học trò mê sách thèm lắm. Có tên nhà hảo tâm được xướng lên thường xuyên, là Giáo sư Lê Thanh Hoàng Dân, thì hầu như chương trình nào cũng có tặng sách. Trong số phần thưởng có nhãn hiệu trà Đỗ Hữu. Đây là hình thức "xã hội hóa giáo dục", được khéo léo lồng ghép với quảng cáo thương hiệu, cũng là nét đẹp và dấu ấn khó phai của truyền hình giáo dục ngày trước.

Giọng điều khiển chương trình của Giáo sư Cao Thanh Tùng, một vị thầy đeo kính trắng có chiếc cằm vuông, rất được ưa thích vì thầy dẫn chương trình rất sinh động, tính từ khi phát chương trình đầu tháng 7.1966 đến đầu năm 1969, Đố vui để học phát được 79 chương trình cá nhân và 29 chương trình đồng đội, mỗi tuần một chương trình. Có khoảng 1.000 thí sinh dự thi, phần lớn là học sinh tiểu học. Cứ 100 thí sinh thì có 10 thí sinh đáp trúng tất cả 9 câu hỏi.


 PHẠM CÔNG LUẬN. 

Liên kết Trang web : https://saigonxua.org/

Liên kết Facebook : https://www.facebook.com/oldsaigon75

Cuộc sống : CHUYỆN MÙA VU LAN - St trên mạng.

 



CHUYỆN MÙA VU LAN. 

- Alo. Anh hai hả? Anh đang ở đâu vậy?

- Anh Hai đang ở công ty,,có gì không cô út?

- Chiều về sớm tranh thủ qua nhà em đón Mẹ về nhà anh chị nhé

- Ủa, còn ba ngày nữa Mẹ mới qua nhà anh mà? Sao đón sớm vậy?

-Em biết, nhưng mai vợ chồng em đi du lịch với  bạn bè cả tuần mới về. Anh hai đón mẹ về nhà anh dùm em sớm vài hôm, tháng sau em bù lại cho

- Thôi được rồi, để anh về bàn với bà xã rồi tính sau

Nghe cuộc nói chuyện của cô con gái, bà Tư buông tiếng thở dài não ruột. Bà đứng lên lửng thững bước chậm chậm ra sân. Bà Tư cầm cái chổi lên quét quanh sân mà lòng ngổn ngang bao nỗi niềm. Bà Tư nhớ lại ...

Chồng chết sớm để lại cho bà Tư hai đứa con còn thơ dại. Lúc đó thằng Hai vừa mới chập chững biết đi những bước đầu tiên, con Út thì đang còn nằm nôi. Biết bao nhiêu khổ cực dồn hết lên đôi vai của bà, một sớm hai sương bà tảo tần lo cho hai đứa con khôn lớn. Buông cái này là bà chụp cái kia, làm và chỉ biết làm, miễn sao có tiền nuôi con là được

Khi hai con khôn lớn. Con Út muốn se sua với bạn thỏ thẻ với bà "Mẹ ơi con muốn mua áo mới", thằng Hai " mẹ ơi, cho con tiền mua chiếc xe đạp". Bà vui vẻ " Uhm. Để đó mẹ lo". Cứ thế, thằng Hai con Út trưởng thành chỉ biết ăn và học trong vòng tay của Mẹ đến khi ra trưởng và lập gia đình riêng. Cả hai đứa đều thành danh trong xã hội. Lúc hai đứa con còn nhỏ, tuy nghèo nhưng rộn rã tiếng cười. Bà Tư buông tiếng thở dài, bà tiếc nuối cái thời gian mẹ con đầm ấm đã qua.....

Tiếng chuông gọi cửa làm bà Tư giật mình. Bà đi vội ra mở cửa, con dâu ào vào, thằng Hai theo sau. Con dâu lên tiếng

- Cô Út có nhà không hả Mẹ?

Bà vừa đóng cửa lại vừa trả lời

- Nó ở trên lầu đó. Cơm nước gì chưa mà bây qua đây

Cô con dâu không trả lời, đi vội vào trong nhà. Cô Út nghe ồn ào dưới nhà liền chạy xuống. Chị dâu liền hỏi

- Cô Út làm gì mà tui gọi cháy máy không chịu nghe

- Em ở trong phòng xếp mấy bộ đồ để mai đi

- Cô đi rồi mẹ tính sao?

Cô Út hơi khó chịu

- Thì em có gọi cho anh Hai nhờ đón Mẹ về bên anh chị vài hôm rồi mà

Cô con dâu gắt..!!!

- Không được. Mai cuối tuần vợ chông tui cũng có việc đi tỉnh phát quà từ thiện hai ngày mới về. Cô Út xem tính sao thì tính.

Cô con Út lớn tiếng

- Anh Chị làm gì mà khó khăn vậy. Đi phát quà từ thiện thôi mà có cần phải gấp như vậy không. Chị lúc nào việc nhỏ cũng làm lên cho nghiêm trọng. Chờ em về rồi hãy đi !

Cô con dâu cũng không vừa

- Vậy sao cô không ở nhà đi để hôm nào đến phiên Mẹ qua tui rồi cô đi du lịch.

Bà Tư sợ mấy đứa con nhìn thấy nên quay mặt đi nơi khác để lau vội giọt nước mắt đang trào ra vì kìm lại không được. Chờ cho cục đắng nghẹn ở cổ trôi xuống. Bà Tư vui vẻ cười ha hả nói

- Chuyện nhỏ mà sao tụi bây ầm ĩ thế. Được rồi để đó Mẹ lo

Thằng Hai chen ngang

- Mẹ lo cách nào?

Bà Tư chậm rãi nói

- Lâu quá Mẹ không về quê, sẵn dịp vợ chồng con Út đi du lịch mươi hôm, vợ chồng thằng Hai cũng bận. Luôn tiện này Mẹ cũng muốn về Quê ở chơi với dì Năm bây vài hôm

Bà Tư nói xong, mấy đứa con đều nhất trí cao cách giải quyết của bà. Con Út lên tiếng

- Vậy thì mai anh Hai cho tài xế qua chở Mẹ ra bến xe

Bà Tư lại vui vẻ cười to để cho mấy đứa con yên tâm

- Cứ để đó Mẹ lo. Mai mẹ nhờ chú Ba xe ôm đầu ngõ chở mẹ ra bến xe được rồi.

Đêm hôm đó bà Tư suy nghĩ nhiều lắm. Tháng này ở nhà con Út thì tháng sau ở nhà thằng Hai. Bà Tư cảm thấy mình làm vướng bận cho con cái, vì mình mà hai anh em cãi nhau về chuyện ăn ở của bà. Làm Mẹ, bà không đành lòng nhìn cảnh như vậy.

*****

Tuần sau

- alo cô Út hả? Cô về chưa

- Còn 2 hôm nữa em mới về. Có gì không anh Hai

- Hôm nay anh nóng ruột quá nên gọi cho dì Năm hỏi thăm Mẹ, thì dì Năm nói là không có thấy Mẹ về nhà dì Năm.

Thế là cô Út và anh Hai cãi nhau ầm ĩ. Người này đỗ lỗi cho người kia. Cô Út đành phải bỏ cuộc du lịch bay về cùng anh Hai đi tìm Mẹ khắp nơi nhưng vô vọng...

*********

Năm năm sau

Tại một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô cách xa thành phố ,có một ngôi mộ lẻ loi ở sau chùa. Trên tấm bia có ghi

Phần mộ bà Nguyễn Thị Tư

Pháp danh. . .

Mất ngày. . . Tháng. . . Năm

Không rõ nhân thân

Mọi người trong làng kể lại. Cách đây năm năm, có một bà cụ từ đâu đến xin ở trong ngôi chùa nhỏ này. Từ đó ngôi chùa trở nên sạch sẽ nhờ bàn tay chăm chỉ của bà cụ. Sớm tối bà cụ tụng kinh gõ mõ. Bà cụ hiền lành phúc hậu nên được dân làng yêu quý, họ đem đến cho cụ mớ rau, khoai củ và những cây nhà lá vườn. Cứ thế, bà cụ sống nhờ vào lòng yêu thương của dân làng. Mọi người ở đây ai cũng nhìn thấy được cụ bà có một nỗi niềm gì đó mà không tỏ cùng ai. Vì nét mặt cụ luôn toát lên một nỗi buồn phảng phất cho đến tận lúc bà ra đi mãi mãi... .


CHA MẸ NUÔI CON BIỂN, HỒ LAI LÁNG

CON NUÔI CHA MẸ TÍNH THÁNG, KỂ NGÀY

ĐỌC XONG MÀ SUY NGẪM ! BÁO HIẾU MẸ, CHA !!!


St

Đời sống : GÁI NGOAN NỬA MÙA - Hong Khuu.

 



GÁI NGOAN NỬA MÙA. 

(Viết theo lời kể của chị bạn)

Kể ra tui cũng thuộc dạng gái ngoan - nhưng là gái ngoan nửa mùa, kiểu trái ổi bị nắng hun một bên, bên kia vẫn ráng giữ màu xanh cho có vẻ đoan trang. Nhìn thì tưởng hiền khô, chứ bên trong cũng có chút gió thổi qua, cũng biết cười, biết thương, biết lỡ bước vài lần cho thiên hạ khỏi nói mình chưa từng nếm mùi nhân gian.

Người ta hay nói ở đời có bốn món ăn chơi gọi là tứ đổ tường: rượu chè, cờ bạc, trai gái, hút xách. Tui xin khai thiệt, rượu chè thì tui biết nguyên cặp, còn ba món kia mỗi thứ chỉ dám xí một nửa, như thể ông trời chia phần vừa đủ để tui có chút chuyện kể mà không bị xếp vô danh sách "hư toàn tập".

Mà nói cho công bằng, rượu cũng có năm bảy kiểu. Có người uống vì buồn, có người uống vì vui, có người uống để quên sự đời. Còn tui uống đúng một ly trong đời - ly rượu giao bôi ngày cưới. Cùng một ngụm rượu đi xuống cổ họng, nhưng uống sai lúc người ta gọi là sa ngã, uống đúng ngày người ta lại gọi là nên duyên. Cùng một bài làm mà gặp hai người chấm khác nhau là điểm số đổi liền. Có khi số phận con người cũng giống ly rượu kia, không nằm ở thứ mình cầm trên tay, mà nằm ở câu chuyện phía sau nó.

Cha mẹ mất sớm, họ hàng ai cũng có cuộc sống riêng để lo, tui với thằng em trai giống như hai cây cỏ mọc bên vệ đường, không ai ngày ngày tưới nước, cũng chẳng ai đứng đó che dù khi trời nắng gắt. Hai chị em đành tự làm chỗ dựa cho nhau mà lớn lên.

Rồi giữa chốn đông người, tui gặp ảnh. Ảnh cũng mồ côi, cũng thiếu một mái nhà tinh thần giống tui. Hai đứa như hai chiếc lá bị gió cuốn đi mỗi hướng, vậy mà cuối cùng lại vô tình rơi xuống cùng một góc sân. Hai tâm hồn từng thiếu thốn gặp nhau, thôi thì dựng tạm một căn nhà bằng thương yêu mà trú, chẳng cần lệnh song thân - mà thiệt tình muốn xin cũng chẳng biết xin ai. Hai đứa lúc đó nghĩ đơn giản lắm: cha mẹ không còn, nhưng trái tim vẫn còn đập đều, vậy thì mình thương nhau thôi.

Đám cưới thời bao cấp nghèo mà ấm như nồi canh rau tập tàng ngày mưa. Không nhà hàng máy lạnh, không sân khấu đèn màu, không xe hoa chạy vòng vòng cho thiên hạ đứng coi. Cưới ngay tại nhà, căn nhà nhỏ xíu hôm đó tự nhiên rộng ra lạ thường vì chứa đầy tiếng cười, tiếng gọi nhau, tiếng chân chạy tới chạy lui của bà con hàng xóm. Nhà chật mà khách đông nên phải chia ca, người này vừa đặt đũa xuống là người kia vô ngồi, dọn bàn nhanh như chạy giặc, chậm một chút là khách đến sau không còn chỗ mà ngồi chớ đừng nói chi chỗ đứng.

Nhưng nghèo cũng có cái dễ thương của nghèo. Không tiền mua hoa thì lấy tàu dừa làm cổng, không trang trí sang trọng thì lấy bàn tay bạn bè làm đẹp cho ngày vui. Áo cưới đi thuê, xe hoa không có, xác pháo đỏ cũng không. Nhưng có một thứ tiền bạc không mua được - những người hàng xóm, bạn bè sẵn lòng bỏ công sức ra giúp mình trong ngày quan trọng nhất của một kiếp người.

Mấy đứa bạn gái xúm lại đi kiếm tàu dừa về dựng cổng cưới, rồi cả đám ngồi cặm cụi cắt chữ dán lên tường: "Bình Châu Hạnh Phúc Muôn Năm." Làm xong, đứa nào cũng nhìn thành quả với ánh mắt tự hào, cứ như vừa xây xong cung điện tình yêu. Ai dè bác tổ trưởng dân phố đi ngang, đứng nhìn một hồi rồi phán một câu tỉnh bơ: "Đám cưới thì chúc hạnh phúc trăm năm chứ đâu phải hội nghị mà cái gì cũng muôn năm." Cả đám im re, ngẫm lại thấy bác nói cũng có lý. Thế là lật đật sửa chữ "muôn" thành "trăm", khổ nỗi giấy đỏ hết sạch, chỉ còn giấy bạc. Thời đó đâu có chuyện muốn màu gì bấm điện thoại một cái là ra, có gì xài nấy. Chữ "trăm" đành cắt bằng giấy bạc, dán chìm vào giữa hàng chữ đỏ, đứng gần thì thấy rõ, mà lùi ra xa một chút, cái màu bạc lạc lõng ấy cứ như tan biến đi đâu mất, để lại một khoảng trống lửng lơ giữa dòng chữ "Bình Châu Hạnh Phúc ... Năm". Nghĩ kỹ lại thấy nó hay - cái khoảng trống nhìn từ xa ấy, đâu phải để bỏ mãi, mà là để dành sẵn cho cô dâu chú rể tự mình điền vào, năm này qua năm khác, bằng chính những tháng ngày họ sống với nhau.

Cưới xong, căn nhà chỉ còn hai vợ chồng với thằng em trai đang học lớp 12. Và đây mới là đoạn khiến tui nghĩ mấy người cùng thời nghe xong chắc cười khúc khích. Hồi đó thanh niên tụi tui đâu có internet, đâu có điện thoại thông minh, đâu có Google hỏi gì cũng ra. Muốn biết chuyện trai gái chỉ có nghe người này kể người kia, mấy cuốn sách chuyền tay, mấy câu chuyện nói nhỏ dưới mái hiên. Trong kho tàng "kiến thức bí mật" của tuổi mới lớn ngày ấy, có một cái tên mà hễ ai nghe tới cũng làm bộ ho một tiếng, nhìn trời nhìn đất, giả bộ như chưa từng biết - Cô Giáo Thảo. Tui hồi đó cũng nghe thiên hạ nói qua, nhưng thiệt tình lúc đó tui đã có quá nhiều thứ phải lo rồi, nào cơm áo, tiền bạc, nuôi em, tính chuyện tương lai, chưa kịp nghiên cứu sách vở thì đã phải bươn chải đủ bề. Tui nghĩ bụng, người ta học Cô Giáo Thảo bằng mấy trang giấy truyền tay, còn tui học chuyện yêu thương bằng chính cuộc sống. Ở đó không có ai giảng bài, không có đáp án cuối sách, chỉ có hai người tự học cách hiểu nhau.

Đêm tân hôn, hai đứa hồi hộp như học sinh chờ phát đề thi. Bao nhiêu năm giữ gìn, cuối cùng cũng tới ngày được bước vào một môn học mà không ai dạy trong sách giáo khoa.  Chiến bào được khoát lên.  Ai dè, ngay lúc hai đứa đang chuẩn bị "vào bài", thằng em trai ngồi học ở nhà trước bỗng hét lớn: "Anh chị làm gì mà rầm rầm hoài vậy? Đừng làm ảnh hưởng việc học của em!"

Trời đất ơi. Hai đứa tui lúc đó giống y chang học sinh đang làm bài kiểm tra, tự nhiên giám thị đi ngang hỏi làm tới đâu rồi, muốn trả lời cũng không biết trả lời sao. Tui nhỏ giọng phân trần: "Căn nhà này cách âm không được tốt..." Thằng nhỏ đáp liền, tỉnh queo: "Chứ còn gì nữa! Anh chị nói gì ngoài đây em nghe hết!" Ảnh trố mắt: "Tường nhà em xây bằng giấy hả?" Nó đốp lại không chút do dự: "Không, nhưng mười căn nhà chung một cái loa thông báo luôn đó!" Nói xong còn gõ cửa: "Nhỏ tiếng chút! Em đi học bài đây!"

Hai vợ chồng nhìn nhau, trong đầu cùng hiện lên một câu hỏi lớn hơn cả đề thi đại học: vậy rồi làm sao học tiếp môn này? Ảnh lặng lẽ đứng dậy dọn mấy cái ly rượu bị đổ, không giận không trách, nhưng cái vẻ mặt thất vọng nhìn mà thương. Đêm đó hai đứa nằm quay mặt ra hai phía, mỗi người âm thầm giải một bài toán khó - làm sao thương nhau khi căn nhà không có lấy một chút riêng tư, làm sao giữ lửa khi bên ngoài luôn có một vị khán giả bất đắc dĩ. Cuối cùng tụi tui nghiệm ra, chuyện vợ chồng cũng phải biết coi hoàn cảnh, tìm phương pháp, chờ đúng thời điểm, chứ không phải cứ muốn là được. Cái khó nó bó cái lòng. Bài giải của tụi tui lúc đó chỉ có hai chữ: chờ thời.

Rồi mùa hè năm đó, thằng em thi đậu đại học, lên đường đi học, ra trường, rồi đi xa theo phân công nhiệm sở. Căn nhà nhỏ ngày nào từng vang tiếng than "anh chị làm gì mà ồn quá", cuối cùng cũng trở lại yên tĩnh, chỉ còn hai vợ chồng, không còn ai gõ cửa, không còn ai làm giám khảo bất đắc dĩ. Thằng em ngày xưa giờ cũng có gia đình riêng, chắc nhiều năm sau nó mới hiểu được cái đêm đó anh chị nó không phải ồn ào vì thiếu ý thức, chỉ là hai con người từng cô đơn quá lâu, cuối cùng cũng tìm được nhau.

Có những chuyện lúc xảy ra chỉ muốn kiếm cái lỗ chui xuống vì mắc cỡ, vậy mà vài chục năm sau nhớ lại, nó lại thành một viên kẹo ký ức, ngậm vô thấy vừa ngọt vừa cay vừa mắc cười. Tuổi trẻ của tụi tui không có nhiều thứ, không nhà đẹp, không tiền nhiều, không cuộc sống tiện nghi. Nhưng có một thứ mà thời nào cũng quý - có một người bên cạnh để cùng mình đi qua những ngày thiếu thốn, rồi vài chục năm sau vẫn còn ngồi cười với nhau về những chuyện từng làm mình đỏ mặt.

Hạnh phúc là sau bao nhiêu năm, vẫn có người ngồi cạnh mình mà nói: "Nhớ cái hồi đó không?"

Còn bạn thì sao? Có kỷ niệm nào ngày xưa từng muốn giấu nhẹm xuống đất, vậy mà thời gian phủ lên một lớp bụi vàng, để rồi mỗi lần nhớ lại chỉ biết vừa mắc cỡ vừa cười một mình không?

HỒNG KHUU.

Thơ : TÌM LẠI CHÚT HƯƠNG XƯA - hathuthuy.

 



TÌM LẠI CHÚT HƯƠNG XƯA

Gần nửa trăm năm trở về chốn cũ 

Một thời giáo viên gói lại nơi này 

Mái trường làng xưa tranh tre vách lá 

Thương học trò chân đất bước đường xa

Thầy cô cũng quen dần trong gian khó 

Trang giáo án nghiêng trăng gầy rừng núi 

Tiếng thác ầm ì vọng giữa đồi xa

Giờ tất cả... Đã trôi vào dĩ vãng 

Phố thị rộn ràng điện sáng lung linh

Đường rộng mở ,Hồ Trị An bát ngát

Cỏ mật xanh tươi chan chứa nắng vàng 

Mây trên trời ngừng trôi cùng vọng tưởng 

Hương mùa xưa... Thuở cô giáo xa nhà.

hathuthuy



PHÁO TẾT NGÀY XƯA. 

Đêm Lễ Độc Lập, pháo bông nổ rần rần, sáng rực một góc trời. Người ta reo hò, giơ điện thoại quay lia lịa sợ lỡ mất khoảnh khắc đẹp, còn tui đứng đó chẳng thèm ngửa cổ lên ngó. Tiếng nổ ấy không bay lên mây mà cắm thẳng vô ngực, rồi từ trong đó nó lôi tuột tui về lại những đêm giao thừa xa lắc. Pháo bông bây giờ đẹp thiệt, màu mè lộng lẫy đủ kiểu, nhưng cái ký ức tuổi trẻ đâu có nhớ bằng mắt - nó nhớ bằng mũi hít mùi khói, bằng cái tai nghe tiếng nổ giòn, bằng con tim thót lại mỗi bận giật mình. Chỉ cần một tiếng đùng lảng vảng đâu đó là mùi khói pháo năm cũ lại kéo về, khiến chân tự động chạy về nhà, ngồi gõ lại mấy dòng này, hổng đợi tới Tết mới nhớ.

Hổng biết bây giờ đời đổi thay kiểu gì chớ hồi đó, cứ tới mùa Giáng Sinh là Sài Gòn đông nghẹt, đông tới mức tưởng cả thành phố hẹn nhau cùng một giờ để bước ra đường. Mà nói thiệt, hồi đó Giáng Sinh đâu còn là chuyện riêng của đạo nào - nó là cái cớ để người ta diện bộ đồ đẹp nhứt trong tủ, xịt chút dầu thơm mua ở chợ, chải tóc láng o, rồi chen nhau đi ngắm thiên hạ, vậy thôi. Mới chạng vạng là mấy con đường dẫn vô nhà thờ Đức Bà đã bị chặn thanh chắn ngang xương. Muốn vô hả? Xỏ dép mà đi bộ. Ngộ cái, càng cấm xe người ta càng ùn ùn kéo tới, đông cỡ nào cũng có chỗ chen.

Tui hồi đó mười lăm mười sáu. Cái tuổi nghe "đi hông?" là gật cái rụp, chưa biết đi đâu cũng ừ trước đã. Mười bốn đứa con gái ở chợ Chiều hú nhau một tiếng là đứa nào đứa nấy lôi ra bộ đồ được cưng nhứt - có đứa áo còn thơm mùi hồ vải, có đứa mang đôi dép nhựa trắng cả năm chỉ dám xỏ đúng ba lần. Cả bầy lóc cóc qua chợ Thị Nghè, lượn ngang Sở Thú, quẹo Nguyễn Bỉnh Khiêm, rồi tiến thẳng đại lộ 30 Tháng 4 về hướng nhà thờ Đức Bà. Đi thì nói cười rân trời mà mắt đứa nào cũng bận liếc thiên hạ, thấy trai đẹp đi qua thì giả đò ngó lơ, ai dè tim đập thình thịch muốn rớt ra ngoài.

Vui thì vui vậy, chớ hồi đó có cái để sợ. Pháo.

Nói tới pháo là nói tới quốc nạn thiệt sự chớ chẳng phải nói cho vui. Nó nổ bất tử, hổng thèm báo trước. Mấy thằng choai choai thì y như đang chờ có dịp, cứ lựa mấy cô gái mà quăng pháo cho đã. Nổ cái đùng ngay bên hông, tà áo nám một vệt đen, da rát buốt, hồn muốn văng ra khỏi xác, còn tụi nó thì đứng cười hô hố như mới lập chiến công cứu nước. Ghét thì ghét đó mà nghĩ lại cũng mắc cười, đúng cái tuổi ăn chưa no lo chưa tới.

Mà nói người ta hoài kỳ quá, hồi nhỏ tui đâu có hiền hơn ai. Tết nào ba tui cũng mua sẵn bốn nồi pháo dài cả thước Tây, tốn không ít tiền, má cằn nhằn tiếc tiền mua bánh trái, mà ba cứ cười xòa, coi như ba đâu có mua pháo, ba mua cái không khí xuân cho cả nhà. Một nồi giao thừa, ba nồi chia đều ba ngày Tết. Giao thừa mà thiếu tiếng pháo thì coi như chưa tới giao thừa. Cả xóm thay phiên đốt, nhà này vừa dứt nhà kia nổi liền, điếc cả tai mà lòng cứ rộn lên kỳ cục. Dưới bến, tàu kéo còi u... u... dài, còn má thì lầm rầm khấn vái, ba lom khom châm nồi pháo đầu tiên. Sáng mùng Một ra ngõ, đất đỏ au xác pháo, mùi khói còn vương trong áo mấy ngày liền.

Tui cũng ham, ai nói không ham là xạo. Nghe đâu đốt pháo là chạy tới, đợi nổ xong nhào vô lượm mấy trái lép đem về đốt lại, riết rồi tưởng mình gan lắm. Cho tới một bữa, châm lửa chưa kịp quăng thì nó bùm ngay trong tay. Lửa nháng, tay tê dại, phồng rộp, rướm máu, đau tới mức khóc mà chẳng kịp biết mình khóc hồi nào. Từ đó thấy pháo là né, né lẹ hơn né chủ nợ cuối năm.

Rồi 1 tháng 1 năm 1995, pháo bị cấm hẳn. Giao thừa từ đó im ru, đám cưới cũng hết cảnh xác pháo hồng rải lối đưa dâu. Bình yên hơn thiệt, cái đó ai cũng công nhận. Nhưng mà bình yên riết rồi cũng thấy thiêu thiếu cái gì đó, kiểu như nhà bớt ồn thì ngủ ngon hơn, mà đôi khi nửa đêm giật mình tỉnh giấc lại thấy trống trải là lạ.

Sau ngày đó  giao thừa với tui chỉ còn nén nhang, chút vàng mã, với tiếng còi tàu Tân Cảng vẫn u... u... vọng vào đêm như hồi xưa, có điều người nghe nó bây giờ như già hơn . Muối giờ tối là tui leo lên giường ngủ khì, kệ đồng hồ tự lật sang năm mới. Không phải hết thương Tết đâu, mà tới tuổi này mới ngộ ra thêm một tuổi cũng là bớt một đoạn đời, thôi ngủ cho khỏe, tính sau.

Có lần bạn hỏi tui rốt cuộc là nhớ tiếng pháo hay nhớ cái Tết nghèo ngày đó. Thiệt tình tui đâu có thèm nhớ tiếng nổ đôm đốp làm gì, cái tui nhớ là cái thời nghe pháo nổ là biết ba còn đó, đám bạn quỷ sứ còn đó, và tui thì vẫn còn là con nhỏ mười sáu tuổi, đầu óc trống trơn chỉ toàn háo hức với dại khờ. Tiếng pháo ngoài đường tắt lâu rồi, nhưng cái thứ âm thanh đó nó chuyển chỗ ở, giờ nằm lì trong lồng ngực, thỉnh thoảng lại nổ lên một cái, chẳng cần xin phép ai.

Bạn giữ được cái gì của Tết xưa tới giờ, hay cũng ngủ khì qua giao thừa như tui rồi?

HONG KHUU.

Vui chút :SO SÁNH.

 


SO SÁNH... 

Có cặp vợ chồng người Bắc cắm trại gần lều của cặp vợ chồng người Nam ..

Bà vợ Bắc nghe bà Nam mắng chồng: 

" Tối ngày địt , địt, địt ….Đứng địt , , ngồi địt , nằm địt và giờ lại còn vừa đi vừa địt nữa ...Mệt với ông quá đi .!!."...

Nghe bà Nam nói thế , bà Bắc quay sang chồng và mai mỉa :

" Đấy , ông thấy chồng người ta chưa ???..Suốt ngày đứng , ngồi , nằm đều địt và thậm chí vừa đi vừa địt nữa ...Còn ông ,chỉ mỗi chuyện địt nằm cũng không xong.””

Bị vợ mắng te tát , ông chồng Bắc gãi đầu và nói : 

" Gì thì cũng cố làm được ,nhưng vừa đi vừa địt thì tôi chịu thôi ...Không làm được đâu" 

SƯU TẦM TRÊN FB. 

Thiên nhiên : HÃY GIỮ MÀU XANH.

 




HÃY GIỮ MÀU XANH. 

Năm 2017, một con cá voi ở Na Uy đã cố gắng bơi vào bờ, quyết tâm tìm cái chết. 

Dù các chuyên gia đã cố gắng giúp đỡ thế nào cũng vô ích. Sau khi nó chết, các chuyên gia mổ bụng nó ra, cảnh tượng trước mắt khiến tất cả mọi người đều sững sờ.

Lúc đó là giữa trưa, mặt trời chiếu rực rỡ lên toàn bộ bãi biển. Du khách đều đi tìm nơi tránh nóng. Lúc này, một con cá voi điên cuồng mắc cạn về phía bãi biển.

Nhiều du khách nhìn thấy cảnh tượng này đều kinh ngạc, nhao nhao gọi. Dưới sự chứng kiến của mọi người, con cá voi nhanh chóng mắc cạn trên bãi biển. Lúc này là lúc mặt trời gay gắt nhất, nếu không kịp thời đưa cá voi trở lại biển, thì rất có thể nó sẽ phải đối mặt với cái chết.

Du khách trên bờ rất lo lắng cho sự an nguy của cá voi. Khi cá voi sắp mắc cạn, đã có người kịp thời thông báo cho cảnh sát. Cảnh sát cùng các chuyên gia bảo vệ động vật đã đến. Lúc này, xung quanh cá voi có một đám đông lớn, không ngừng tưới nước lên lớp da khô của nó.

Mọi người muốn dùng sức mạnh của đám đông để đưa nó trở lại biển, nhưng dù mọi người có đẩy thế nào, cá voi vẫn không nhúc nhích. Rõ ràng là nó dường như không muốn trở lại biển, nhưng mọi người đương nhiên đã bỏ qua điểm này, dù sao thì làm sao có sinh vật nào lại không muốn sống.

Thấy sức người không thể cứu được nó, mọi người liền vận chuyển máy móc hạng nặng đến. Nhờ sức mạnh của máy móc, mọi người nhanh chóng đưa cá voi trở lại biển. Ngay khi tất cả mọi người đều thở phào nhẹ nhõm, đột nhiên xảy ra một cảnh tượng khiến tất cả những người có mặt đều cảm thấy khó tin.

Con cá voi vừa được đưa trở lại biển lại từ từ bơi về phía bờ biển. Ban đầu mọi người nghĩ nó muốn cảm ơn, nhưng khi cá voi lại mắc cạn trên bãi biển, mọi người đột nhiên có chút hoảng loạn.

Nhưng để cá voi có thể sống sót, mọi người lại hợp sức đưa nó trở lại biển, nhưng lần này cũng vẫn như lần trước, cá voi lại quay trở lại bãi biển.

Điều này khiến những người cứu hộ không khỏi suy nghĩ, tại sao lại xảy ra tình huống này? Nếu chỉ là một lần mắc cạn, thì vẫn có thể định nghĩa là tai nạn, nhưng bây giờ liên tục mắc cạn, khả năng duy nhất là bản thân cá voi không muốn sống nữa.

Sau khi đưa ra kết luận này, những người cứu hộ vô cùng đau buồn. Dù họ có tìm mọi cách cứu giúp một trăm lần, chỉ cần cá voi không có ý chí cầu sinh, thì sau khi họ rời đi nó vẫn sẽ chết.

Đám đông vây quanh trên bờ dường như cũng cảm nhận được ý muốn tìm cái chết của nó. Trong chốc lát, tất cả mọi người đều chìm trong đau buồn. Lúc này, mọi người đều đau buồn cho con cá voi sắp chết. Có người không hiểu, có người đau lòng, cũng có người hy vọng vẫn có thể cố gắng thêm một chút.

Nhưng đã quá muộn rồi, lúc này con cá voi nằm trên bãi biển nóng bỏng thoi thóp. Chỉ trong hai ba giờ ngắn ngủi, lượng nước trên bề mặt cá voi đã hoàn toàn bốc hơi. Lúc này, tất cả mọi người đều chìm trong đau buồn, tất cả mọi người cùng chứng kiến một sinh mệnh mạnh mẽ cứ thế mà lụi tàn.

Nếu xác cá voi cứ mắc cạn trên bãi biển, một khi xảy ra phản ứng hóa học rất có thể sẽ dẫn đến nổ. Để tránh nguy cơ tiềm ẩn này xảy ra, nhân viên quyết định mổ xẻ và vận chuyển xác cá voi đi.

Vì kích thước của cá voi quá lớn, mọi người chỉ cần mổ bụng cá voi thôi đã mất vài giờ rồi. Khi mọi người mổ bụng cá voi, tất cả mọi người đều sốc.

Ai cũng biết cá voi thích ăn cá nhỏ và các sinh vật biển khác, nhưng trong bụng con cá voi này không những không thấy cá nhỏ, mà toàn là túi nhựa và chai lọ.

Trong chốc lát, tất cả mọi người đều im lặng. Những thứ này không thể tiêu hóa trong bụng là một điều đau đớn đến nhường nào. Những người có mặt cuối cùng cũng hiểu tại sao cá voi lại liên tục tìm cái chết, có lẽ cái chết đối với nó lại là một sự giải thoát.

Hy vọng mọi người đều có thể hình thành thói quen vứt rác vào thùng rác, đừng phá hoại môi trường trái đất xinh đẹp của chúng ta, hy vọng mỗi người đều có thể yêu quý ngôi nhà của chúng ta, bảo vệ động vật.

St TRÊN FB.