Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

Cuộc sống : CHUYỆN MỘT TÔ PHỞ - St trên mạng.

 


CHUYỆN MỘT TÔ PHỞ. 

Là một giáo viên, mình thật sự bất ngờ với cách dạy con biết ứng xử của của các bậc phụ huynh thời bây giờ.

Chuyện là sáng hôm qua, khoảng 8h sáng mình đang ăn phở ở một quán quen gần nhà. Thì có một người đàn ông khoảng chừng 45 tuổi bước vào và gọi một bát phở tái gầu (người mình khoanh dấu đỏ). 

Chuyện sẽ chẳng có gì, nếu như khi ăn xong người đàn ông đấy chịu trả tiền rồi đi về. Nhưng không. Sau khi cắm cúi ăn một lúc, ông đấy đứng dậy kêu :"Ôi xời! Gầu thì vừa dai, vừa hôi. Nước phở thì nhạt toẹt. Ăn chẳng ra gì", sau đó ném đũa, đứng dậy tính đi về. Chị chủ thấy thế chắc cũng nóng mắt, tay cầm cái muôi múc nước phở, chạy ra chỉ thẳng vào mặt người đàn ông, bảo :

- "Ông ăn hết cả bát phở của người ta rồi, giờ ông nói thế để tính bùng mà được à. Trả tiền. Rồi đi đâu thì đi." 

Ông khách vẫn chẳng cho vào tai, lại nói: 

- "Phở nhà bà ăn chẳng ra gì, tôi không hài lòng, tôi không thanh toán!" 

 Nói xong ông đấy lại định bụng dời đi. Nhưng bị chị chủ giữ lại. Khách trong quán thấy cảnh này, người thì hiếu kì ngồi xem, còn mình và một số người khác thì khuyên ông khách. Nhưng lại bị lão đấy lườm cho rồi quát "Im mồm, việc của mấy ông bà à?"  Thấy lão đấy có vẻ không được bình thường, mà cũng sợ ảnh hưởng đến mình, nên mọi người lại thôi. Trong đầu nghĩ bảo :"Chị chủ hôm nay đen rồi. Gặp ông thần đến phá đám."

 Nhưng khi hai bên vấn đang dằng co rất cao trào, thì có một giọng nói trẻ con vang lên 

- "Bác ơi. Bác cứ về đi, lát nữa bố cháu gửi tiền cho."

Thế là mọi ánh mắt đều đổ về hướng của cậu bé (bạn nhỏ trong ảnh), một bạn học sinh tầm khoảng lớp 3, lớp 4  , nhưng không phải học sinh trường mình. 

 Thấy con trai nói thế, người bố cũng nhìn bà chủ gật đầu, để thể hiện rằng đồng ý, và để cho người đàn ông kia ra về. Lúc đi vào, chị chủ mới hỏi bạn nhỏ kia là :

- "Sao cháu lại bắt bố phải trả tiền cho cái loại ấy?" 

- "Tại cháu thấy cô với bác ấy cứ dằng co nhau ở trước quán, vừa ảnh hưởng đến người muốn đến quán ăn, vừa làm mọi người đang ăn trong này cũng chẳng còn thấy ngon nữa. Với cả một bát phở nhà mình cháu thấy cũng rẻ, thôi thì bố cháu mua thêm 1 bát, vừa là để ủng hộ cô, giúp cô vơi đi sự giận dữ để đón những người khách sau, vừa là để cả hai bố con được tận hưởng bát phở trên bàn này trọn vẹn hơn." Bạn học sinh đáp.

 Nghe xong câu trả lời, mình bất ngờ toàn tập. Trước tiên là vì sự dũng cảm của bạn nhỏ, khi mà người lớn đều đang im lặng, thì bạn ấy lại lên tiếng. Tiếp theo, là cách tư duy, phân tích và ứng xử khi gặp phải vấn đề, rất chuẩn chỉ và hợp lý. 

Mình rất ấn tượng với bạn học sinh này, nên lúc về, mình có lại bắt chuyện với bố bạn ấy, để hỏi xem bạn ấy học ở trường nào, và bí quyết dạy con của gia đình là gì mà bạn ấy lại giỏi đến thế. 

 Hỏi ra thì mới biết, bạn ấy là học sinh lớp 3 ở trên Hà Nội, được buổi cuối tuần về quê chơi với ông bà. 

Bài và ảnh sưu tầm trên mạng.

Chân tình : ĐÔI GUỐC DƯỚI HIÊN NHÀ - Tim Nguyễn.

 



ĐÔI GUỐC DƯỚI HIÊN NHÀ

Tôi lớn lên ở một cù lao nhỏ ven sông Hậu. Ở đó người ta không tính ngày tháng bằng tờ lịch treo tường, mà tính bằng con nước, con trăng. Nước lớn thì đi đồng, nước ròng thì vá lưới. Đời người cũng trôi lặng như nước, ít ai đi xa khỏi cái bờ kinh của mình.

Nhà tôi nghèo. Nghèo bền vững.

Má tôi mất sớm. Tía tôi mất khi tôi vừa biết vác lúa. Căn nhà lá tía để lại xiêu một bên sau mỗi mùa gió chướng. Mấy công ruộng ít ỏi, đất phèn làm không đủ ăn, trước khi mất tía tôi phải đem cầm cố cho người ta để có tiền thang thuốc cho má. 

Trên mấy công đất đó bây giờ có hai nấm mồ đất của tía má tôi, cỏ mọc lút đầu mỗi mùa mưa. Tôi ở lại giữ đất, mà đất cũng không còn là của mình.

Tôi không học nhiều. Chữ nghĩa đủ đọc tờ báo cũ người ta gói rau, đủ viết tên mình không sai. Quanh năm ai kêu gì làm nấy. Tía tôi trước khi nhắm mắt có dặn một câu, tôi nhớ cả đời: "Nghèo thì nghèo, con đừng để người ta coi thường cái lòng của mình." Tôi giữ câu đó như giữ cái nóc nhà.

Tôi chưa từng dám nghĩ đến chuyện vợ con đàng hoàng. Đàn ông như tôi, không ruộng, không chữ, không người thương, chỉ có sức thì mong gì hơn một bữa cơm đủ no.

Năm tôi hai mươi bốn tuổi, ông Hội đồng Phước ở làng bên cho người gọi tôi.

Nhà ông là căn nhà ngói lớn nhất vùng. Cột căm xe, sân gạch tàu. Ruộng của ông cò bay mỏi cánh. Tôi từng vác lúa cho ông nhiều mùa, chỉ dám đứng ngoài sân.

Ông ngồi trên bộ ván gõ, rót cho tôi chung trà. Rồi ông nói chuyện cô Hai. Cô Hai là con một  của ông, đẹp và có học nhất vùng. Cô được lên tỉnh học trường đầm, biết đọc sách, chữ viết tròn trịa. Trai trong vùng ai cũng ngó mà không ai dám trèo cao.

Ông không vòng vo. Ông nói cô Hai có thai với anh bạn trai trên tỉnh, nay đã bỏ cô. Ông không trách ai một lời. Chỉ nói ông là người cha, ông không muốn con gái mình phải cúi đầu ngoài chợ, không muốn đứa nhỏ sinh ra đã mang tiếng không cha.

Ông muốn tôi cưới cô Hai, và ông nói thiệt hết.

Ông chỉ cần một người đứng tên làm chồng che mắt thế gian. Một năm. Cho người đời thấy đó là một cuộc hôn nhân đàng hoàng, chứ không phải một người con gái chửa oan. Sau một năm, khi mọi chuyện lắng xuống, tôi có thể rời đi. Coi như tôi bỏ vợ đi theo người khác vậy mà. 

Để trả công, ông sẽ chuộc lại mấy công đất cha tôi đã cầm cố, trả lại cho tôi để có chỗ thờ tía má, dựng lại cái nhà. Ông sẽ không để tôi thiệt.

Tôi ngồi im rất lâu. Chung trà nguội ngắt. Tôi hiểu ông. Ông không mua tôi. Ông chỉ đang tìm một lối đi ít đau nhất cho con gái mình. Ông không muốn hỏi trai cùng làng nên tìm đến tôi và biết ba tôi bị xiết ruộng, cần phải chuộc lại.

Đêm đó tôi ra bến sông ngồi. Trăng non chiếu lăng tăng trên mặt nước. Tôi nghĩ đến hai nấm mồ của tía má tôi đang nằm trong đất người ta, cỏ mọc không ai nhang khói. Tôi nghĩ đến đời mình vốn đã không có gì để mất, không người yêu. Nếu sự có mặt của tôi giúp một người con gái giữ được chút bình yên, giúp một đứa trẻ sau này đi học không bị chúng bạn chọc ghẹo, thì cũng đáng.

Tôi nhận lời.

Đám cưới nhỏ, lặng lẽ. Tôi mặc bộ đồ mới duy nhất cô Hai mua cho, cô mặc áo dài màu bông hường. Cô cúi đầu suốt buổi lễ, lặng lẽ nhìn tôi trong chua xót cho cả hai.

Về nhà vợ, tôi ở tạm căn nhà sau, cách buồng cô cái sân phơi lúa. Chiếc rương gỗ tạp tía đóng, tôi để nguyên dưới gầm giường. Trên vách tôi chỉ treo hai bộ đồ. Tôi nghĩ mình đến như người khách, thì lúc đi cũng nhẹ.

Cô Hai cũng vậy. Cô đối với tôi lịch sự. Cơm nước có bà Năm, người giúp việc khi cô còn nhỏ. Chúng tôi như hai người khách trọ chung một nhà rộng, đi nhẹ, nói khẽ để khỏi phiền nhau.

Tôi đi làm từ khi gà chưa gáy. Tôi ra đồng của ông Hội đồng, làm như ruộng của mình. Tôi thấy bờ mẫu nào sạc thì đắp lại, thấy lu nước cạn thì gánh đầy. Không ai mượn, không ai biểu. Tôi nghĩ mình đã nhận lời làm chồng một năm thì phải làm cho trọn.

Cô Hai lúc đầu nhìn tôi như người giúp việc đồng án.. Cô không coi thường ra mặt. Con nhà gia giáo nên không trịch thượng như những người khác. Cô chỉ xa. Một cái xa rất lịch sự, rất sạch sẽ của người có văn hóa. Trong mắt cô, tôi là một phương án êm thấm mà cha cô đã chọn. Cô mang ơn tôi, nhưng ơn thì không phải là thương.

Nhưng mưa dầm thấm đất.

Điều làm cô để ý đến tôi đầu tiên không phải chuyện gì lớn. Một sáng, cô thấy đôi guốc mộc của cô hôm qua còn dính bùn vứt ở góc sân, sáng nay đã được ai đó rửa sạch, đặt ngay ngắn bên thềm. Chiều, cô thấy lu nước sau hè lúc nào cũng đầy. Cái hàng rào tre trước sân bị gió quật nghiêng, qua một đêm đã được dựng lại. Cô biết những chuyện làm đó từ tôi.

Rồi cô bệnh, một trận cảm sau mấy ngày dầm mưa. Cô nằm trong buồng, sốt hầm hập. Cô nghĩ tôi đã ra đồng. Đến khi tỉnh dậy, trên trán là chiếc khăn ướt vừa được thay. Bên cạnh cô, tôi ngồi ngủ gục trên ghế tre, tay còn cầm cái quạt mo cau.

Tối đó cô khóc. Lần đầu tiên sau khi người đàn ông trên tỉnh rời đi, cô khóc không phải vì tủi, mà vì có một người lo cho mình theo một cách rất quê, rất thật.

Từ đó, cô bắt đầu nhìn tôi bằng một con mắt khác. Cô thấy tôi ăn cơm lúc nào cũng vành chén sạch, không bỏ một hột. 

Không bao giờ ngồi vào mâm trước. Có khách đến chơi, tôi tự động bưng chén ra sau hè. 

Cô lớn lên giữa những người đàn ông biết nói lời hoa mỹ. Lần đầu cô gặp một người đàn ông ít học nhưng lòng không nhỏ nhen, nghèo nhưng không tự ti như tôi.

Và rồi cô bắt đầu lo cho tôi, cũng bằng những việc nhỏ. Thấy tôi đi cày về đau lưng, cô đem xuống phòng tôi cái gối mây kê lưng ngủ cho êm. Thấy áo tôi rách ở vai, cô không nói, trưa vắng lấy kim chỉ tự tay vá lại. Biết tôi ăn không được mắm quá mặn, cô dặn má Năm kho riêng cho tôi một tộ lạt hơn.

Tôi không gọi đó là thương nhưng hình như có mùi hương yêu đang phảng phất quanh tôi. 

Mỗi chiều, khi nghe tiếng chân tôi lội bì bõm dưới ao sau nhà, cô lại tự động đứng dậy, đi ra hiên sau nhìn tôi. Nhìn bâng quơ vậy thôi, chứ không phải chờ. Cái nhìn trìu mến của người đã phải lòng.

Chúng tôi thương nhau như phù sa bồi bờ. Không ai thấy nó bồi mỗi ngày, chỉ đến khi bãi đất đầy mới biết mình không thể rời được nữa. Nhưng ai cũng còn giữ kẽ vì cái ranh giới vô hình còn giới hạn.

Chỉ có một nơi tôi cho phép mình không giữ kẽ, là với thằng bé.

Nó ra đời vào một đêm mưa. Tôi đứng ngoài buồng nấu nước, chạy đi gọi bà mụ, tay chân lóng ngóng. Khi bà mụ trao nó cho tôi ẩm lần đầu, tay tôi run đến nỗi sợ làm rớt nó.

Từ ngày đó, tôi biết thế nào là có một gia đình để đi về. Buổi trưa đi đồng nắng rát, chỉ cần nghĩ đến chiều về thấy thằng nhỏ là tôi hết mệt.

Nhưng tôi vẫn giữ lòng mình lại bằng ba sợi dây vô hình:

Sợi dây thứ nhất là lời hứa. Một năm. Ông Hội đồng đã giữ lời, đã cho người chuộc lại mấy công đất nơi đó có mồ mả tía má tôi. Mấy năm nay cỏ mọc lút đầu mả, tôi chưa dám về thắp một nén nhang cho đàng hoàng vì đất còn trong tay người ta. Nay đất về rồi, tôi phải cố giữ bằng bất cứ giá nào. Đó là gốc của tôi.

Sợi dây thứ hai là nỗi sợ của người ít học. Cô Hai có học, biết nhiều chuyện ngoài kia. Tôi chỉ biết con nước, bờ ruộng. Có những lúc cô nói, tôi hiểu bằng tim chứ không hiểu bằng chữ. Tôi sợ cái thương hôm nay của cô chỉ là cái ơn, là sự cảm động của một năm gần gũi. 

Sợi dây thứ ba là ông Hội đồng thương con nên mới phải làm vậy, chứ nhà ông mấy đời sống trong nề nếp, gia phong nên không bao giờ chịu cho cuộc hôn nhân thật vì tôi là thằng không cha không mẹ, chữ nghĩa không có. Cái giai cấp đó nó không phải muốn bỏ là bỏ được. Nó in sâu trong xã hội rồi. 

Rồi một năm cũng qua. Một buổi chiều, ông Hội đồng gọi tôi ra sân. Ông nói mọi chuyện đã qua, người làng cũng đã quên. Ông nói tôi đã giữ trọn lời hứa, ông mang ơn tôi. Từ nay tôi có thể trở về cuộc đời của mình.

Sáng hôm ấy, tôi đứng trong căn phòng phía sau, nhìn chiếc rương gỗ nhỏ đã theo tôi đến đây từ ngày đầu tiên. Tôi xếp vào đó vài bộ quần áo như ngày mới đến, còn bộ đồ cưới tôi để lại. Chỉ có vậy. Một năm sống trong căn nhà này, vậy mà đến lúc ra đi, tôi mới thấy mình có quá nhiều thứ phải bỏ lại.

Tôi bước ra sân. Cô Hai đã đứng dưới mái hiên. “Anh Hai... đi thiệt sao?”

Tôi cúi đầu. “Dạ.” Một tiếng dạ ngắn ngủi, nhưng nghe như một lời đoạn tuyệt.

Cô im lặng. Gió thổi qua sân, làm tà áo bà ba cô khẽ lay. Một lúc lâu, cô mới nói rằng cô biết ngày này rồi cũng sẽ tới. Ngày tôi đến đây, cả hai đều nghĩ chỉ cần một năm. Một năm rồi tôi sẽ về với mảnh đất của tía má, còn cô sẽ trở lại cuộc đời của mình.

Nhưng không ai ngờ một năm lại đủ để hai người xa lạ trở thành người thân thuộc.

Cô nói cô đã quen tiếng chân tôi ngoài sân mỗi sáng. Quen buổi chiều đứng dưới mái hiên nhìn tôi từ ngoài đồng trở về. Quen một người âm thầm sửa lại hàng rào, vá mái nhà, rửa đôi guốc cho cô. Quen có một người không nói lời ngọt ngào nhưng lúc nào cũng ở đó khi cô cần.

Cô nhìn tôi, nước mắt chảy xuống. “Em quen có anh trong nhà rồi.” Tôi quay mặt đi vì mắt mình cũng đã đỏ.

Cô bước xuống bậc thềm, đi chậm đến trước mặt tôi. Hai bàn tay cô nắm chặt vào nhau. Cô muốn nói thêm điều gì đó, nhưng rồi chỉ lắc đầu. Có lẽ những lời cần nói đều đã nằm trong ánh mắt.

Rồi bất ngờ, cô bước tới ôm lấy tôi.

Đó là lần đầu tiên cô ôm tôi như bao người đàn bà ôm người mình thương. Không phải vì danh nghĩa vợ chồng. Không phải vì lòng biết ơn. Mà vì cô sợ tôi bước đi rồi sẽ không bao giờ trở lại, cô sẽ mất tôi mãi mãi.

Tôi ngượng ngùng vòng tay ôm lấy cô. Lần đầu tiên được ôm “vợ” của mình. Bờ vai cô run lên. Tôi nghe rõ tiếng tim đập mạnh của cô và cả của tôi, lần đầu tiên chúng bên nhau thật gần… Hơi ấm và mùi đàn bà làm tôi ngây ngất tâm hồn và thể xác.

Tôi muốn khóc. Tôi muốn nói rằng tôi không đi nữa. Muốn ở lại. Muốn làm chồng thật. Muốn mặn nồng trong tình chồng nghĩa vợ. Muốn chiều đi đồng về vẫn thấy cô đứng dưới mái hiên đợi tôi. Tối đến nghe tiếng thằng Tý cười trong nhà.

Cô buông tôi ra, hai bàn tay vẫn còn giữ lấy tay áo tôi. “Anh Hai... ở lại với em.” Câu nói ấy nhẹ thôi, nhưng làm lòng tôi đau hơn tất cả.

Cô nói cô sẽ xin ông cho anh làm rể thật. Cô nói ruộng đất nhà mình còn nhiều. Cô nói tôi cứ ở lại làm ruộng, nuôi thằng Tý rồi chúng tôi sống với nhau như một gia đình thật sự. Cô không cần tôi mang ơn ai nữa. Cô chỉ cần tôi đừng đi.

Tôi nghe mà lòng mềm xuống. Nhưng trong đầu tôi lại hiện lên hai nấm mồ của tía má. Tôi nhớ lời tía trước lúc mất. Tôi nhớ những năm tháng mảnh đất của dòng họ nằm trong tay người khác. Nay đất đã trở về, tôi không thể quay lưng. Phải cố giữ bằng mọi giá.

Tôi khẽ nói: “Cô Hai, tôi thương cô thiệt lòng. Tôi thương thằng Tý như con ruột. Nếu được sống cho riêng mình, tôi muốn ở lại lắm. Nhưng tôi còn lời hứa với tía má. Đất đã có rồi, tôi phải về.”

Cô đứng im. Nước mắt cứ rơi, nhưng cô không khóc thành tiếng nữa. Có lẽ cô hiểu rằng tôi không rời đi vì hết thương. Nhưng vì bổn phận. Tôi đưa tay nắm lấy bàn tay cô. Tôi giữ thật lâu, như muốn ghi nhớ hơi ấm cuối cùng. “Cảm ơn cô Hai. Mong cô mạnh khỏe và hạnh phúc sau này.”

Vác chiếc rương lên vai. Đi được vài bước, tôi dừng lại nhưng không dám quay đầu. Tôi biết chỉ cần nhìn thấy cô đứng đó, nhìn thấy đôi mắt cô đỏ hoe, tôi sẽ không còn đủ sức bước tiếp.

Phía sau, tôi nghe một tiếng nấc bật lên.  Một tiếng nói khẽ: “ Mong anh trở lại với mẹ con em”. 

Tôi cắn chặt môi bước tiếp, qua hàng rào tre, xuống con đường đất dẫn về bến sông. Nắng đã lên cao hơn, nhưng lòng tôi lạnh ngắt.

Sau lưng tôi là căn nhà từng xa lạ, nhưng đến lúc rời xa lại trở thành nơi tôi thương nhất. Đôi guốc mộc của cô vẫn nằm dưới hiên, ngay ngắn như mọi ngày. Chỉ khác một điều sẽ không còn người đàn ông mỗi chiều đi đồng về, lặng lẽ cúi xuống rửa sạch.

Tôi mang theo chiếc rương trở về với đất của tía má. Còn trái tim mình, tôi biết đã để lại nơi đó.

Một cuộc chia tay không có ai phản bội ai, không có ai hết yêu ai. Chỉ có hai người thật lòng thương nhau… nhưng cuối cùng vẫn phải bước về hai phía của cuộc đời.

TIM NGUYỄN. 

London, 12/08/2026

Một thời : MỘT BUỔI SÁNG... - St trên FB.

 


MỘT BUỔI SÁNG Ở CÀ PHÊ DINH ĐIỀN..PLEIKU 

Người ta nhớ Dinh Điền bởi một ly cà phê mà đến bây giờ, không ai dám nói mình đã hiểu hết..

..Quán nằm khiêm nhường giữa phố núi.

Một căn nhà gỗ, một tầng trệt, một tầng lầu. Không bảng hiệu lộng lẫy. Không bàn ghế cầu kỳ. Mùa mưa nghe mùi gỗ cũ quyện với hương cà phê. Mùa nắng, nắng len qua ô cửa, đậu trên những chiếc bàn đã nhẵn bóng vì năm tháng.

Tháng Ba năm 1975, gia đình chủ quán rời Pleiku. Ngôi nhà ấy rồi cũng qua nhiều lần đổi chủ.

Bây giờ, người ta đi ngang chỉ thấy một nhà nghỉ.

Nếu không có ai nhắc, sẽ chẳng mấy người biết nơi ấy từng có một quán cà phê mà chỉ cần nhắc tên, cả một thế hệ Pleiku lại mỉm cười.

Điều lạ nhất ở Dinh Điền không nằm ở căn nhà.

Mà ở người đàn bà đứng sau quầy.

Thời ấy, nhiều quán cà phê giữ chân khách bằng những cô gái trẻ, bằng tiếng cười, bằng nét duyên của người phục vụ.

Dinh Điền không có điều đó. Quán chỉ có một người mẹ lặng lẽ.

Bà pha cà phê.

Bà bưng từng ly.

Bà tính tiền.

Bà quán xuyến mọi việc từ lúc trời còn tối cho đến khi phố lên đèn.

Khách đến vì cà phê.

Ở lại vì sự tử tế.

Những người từng uống cà phê ở Dinh Điền thường kể rất ít về cách pha.

Họ chỉ nhớ vị.

Một vị đậm đến mức đầu lưỡi còn giữ mãi.

Một ly nhỏ mà đủ làm tỉnh cả buổi sáng.

Có người bảo, hôm nào không uống là thấy thiếu một điều gì đó, giống như ra khỏi nhà mà quên mang theo chiếc đồng hồ vẫn đeo mỗi ngày.

Điều kỳ lạ là càng nhiều người uống, bí quyết của Dinh Điền càng trở nên bí ẩn.

Ông Côn, người sau này gắn bó với một quán cà phê nổi tiếng khác của Pleiku, từng nhiều lần ngồi ở Dinh Điền.

Không chỉ để uống.

Ông còn muốn tìm hiểu.

Ông nhìn cách bà chủ rang cà phê.

Nhìn cách bà nấu.

Nhìn cách bà rót.

Ông thử đoán.

Rồi..

Lại thôi.

Có lúc ông nghĩ vị sánh đặc ấy được tạo nên từ nước thắng đường.

Có lúc lại nghi là nước dừa kho. Nhưng tất cả chỉ dừng ở sự phỏng đoán.

Cho đến hôm nay, bí quyết ấy vẫn theo gia đình bà chủ rời khỏi Pleiku.

Không ai biết câu trả lời.

Và cũng không còn ai để hỏi.

Có lẽ vì vậy mà Dinh Điền vẫn còn ở lại trong ký ức nhiều người.

Không phải như một quán cà phê.

Mà như một điều chưa bao giờ được giải đáp.

Có lần, tôi nhìn rất lâu một tấm ảnh cũ chụp trước quán.

Trong ảnh, chẳng có điều gì đặc biệt. Vài chiếc xe dựng trước cửa.

Mấy người khách ngồi im.

Một ô cửa gỗ mở hé.

Tôi bỗng nghĩ, điều quý nhất của bức ảnh ấy không phải là những gì còn nhìn thấy.

Mà là những gì đã đi mất.

Mùi cà phê thì không thể chụp.

Hơi nóng bốc lên từ chiếc ly cũng không thể giữ lại.

Giọng nói của bà chủ quán càng không.

..

Thời gian đã mang theo tất cả.

Chỉ để lại một cái tên..Dinh Điền.

Mỗi lần ai đó nhắc đến, trong ký ức của một người Pleiku cũ, hình như vẫn có một buổi sớm rất lạnh..Có một người đàn bà lặng lẽ đứng bên chiếc bếp.

..Và có một ly cà phê đang chờ nguội.

( Ảnh trên : Quán cà phê Dinh Điền 1970-1971. Ảnh Nguyễn Quang Hiền sưu tầm )

St trên FB. 

Hương xưa : ĐỐ VUI ĐỂ HỌC - Phạm Công Luận.

 


ĐỐ VUI ĐỂ HỌC.

Giữa thập niên 1960, trên Đài truyền hình Sài Gòn có chương trình Đố vui để học được học sinh đô thị xem nhiều và rất say mê, đến giờ, nhiều người ở lứa tuổi trên dưới 60 vẫn hào hứng khi được nghe nhắc lại chương trình này.

Chương trình này bắt đầu phát năm 1966, do Trung tâm Học Liệu thuộc Bộ Giáo dục (miền Nam) thực hiện. Những người tham gia điều hành chương trình là: các thầy cô dạy trung học như Đinh Ngọc Mô (dạy Pháp văn, có biệt tài về kịch nghệ), Lê Thanh Hoàng Dân (Phó giám đốc Trường Quốc gia Sư phạm), Cao Thanh Tùng (dạy Việt văn), Huỳnh Kim Quế (đã qua một khóa huấn luyện về vô tuyến truyền hình tại Đài Loan) và các ông bà Nguyễn Văn Đồng, Huỳnh Độ, Nguyễn Tú Anh, Đặng Ngọc Hương, Dương Thủy Ngân.

Chương trình được mô phỏng tiết mục truyền hình của Mỹ Quiz Show và tiết mục Quitte ou double của Pháp, vừa có tính giải trí, vừa có tính giáo dục, tạo tinh thần thi đua học tập của học sinh, tập cho các em bình tĩnh, phản ứng nhanh, ăn nói mạnh dạn và lưu loát trước công chúng, khuyến khích các em ưu tú, tạo tinh thần học hỏi cho học sinh nói chung.

Ở giải cá nhân, học sinh nam hay nữ các lứa tuổi từ trung học trở xuống đều có thể ghi tên dự thi, có chứng minh bằng thẻ học sinh hay căn cước. Ban tổ chức ưu tiên cho học sinh các tỉnh xa, nhất là khi thí sinh được ban giám hiệu trường tiến cử đi thi. Mỗi thí sinh sẽ trả lời 9 câu hỏi từ dễ đến khó, thời gian cho mỗi câu là 30 giây. Tiền thưởng tăng từ thấp đến cao, từ câu đầu đến câu cuối, bắt đầu từ 5 đồng, sau đó gấp đôi ở câu sau cho đến khi trả lời cả 9 câu là 1.280 đồng.

Phần thi đồng đội là cuộc thi giữa hai trường khác nhau, cùng trình độ. Ví dụ đội của Trường cộng đồng Phú Vinh ở Vĩnh Bình (nay là Trà Vinh) với Trường cộng đồng Đồ Chiểu ở Gia Định. Mỗi đội gồm 3 thí sinh, có đội trưởng chịu trách nhiệm giới thiệu các bạn trong đội mình. Câu đố trong cuộc thi có 20 câu, mỗi câu 5 điểm nếu đáp trúng. Đáp được nửa câu hay một phần thì số điểm sẽ được ban giám khảo định. Câu hỏi vừa được đưa ra, đội nào bấm chuông trước được trả lời nhưng nếu sai, đội sau sẽ được trả lời. Nếu các thí sinh hai bên đều đáp chỉ gần đúng câu hỏi, ban giám khảo sẽ quyết định số điểm. Sau 20 câu, cộng điểm để xem ai thắng. Người chiến thắng được thưởng 13.000 đồng tính chung tiền mặt và tặng phẩm. Nhưng đội thua cũng được tặng 2.000 đồng.

Có mấy chi tiết về chương trình mà học sinh lúc đó rất thích là: Các giám khảo khi giải thích câu hỏi hay thí sinh trình bày câu trả lời thì dùng bút lông viết lên bảng giấy to, hết giấy sẽ xé trang đó để viết tiếp ở trang sau. Lúc đó trường học toàn dùng phấn viết trên bảng. Nhìn chương trình, thấy giấy khổ lớn rất đắt tiền mà viết lên, xé liên tục nên mọi người xuýt xoa tiếc của. Đã vậy, bút lông lúc đó cũng được xem là loại tối tân! Đâu dễ mua và xài sang như kiểu Mỹ!

Khi công bố giải thưởng, đám học trò mê sách thèm lắm. Có tên nhà hảo tâm được xướng lên thường xuyên, là Giáo sư Lê Thanh Hoàng Dân, thì hầu như chương trình nào cũng có tặng sách. Trong số phần thưởng có nhãn hiệu trà Đỗ Hữu. Đây là hình thức "xã hội hóa giáo dục", được khéo léo lồng ghép với quảng cáo thương hiệu, cũng là nét đẹp và dấu ấn khó phai của truyền hình giáo dục ngày trước.

Giọng điều khiển chương trình của Giáo sư Cao Thanh Tùng, một vị thầy đeo kính trắng có chiếc cằm vuông, rất được ưa thích vì thầy dẫn chương trình rất sinh động, tính từ khi phát chương trình đầu tháng 7.1966 đến đầu năm 1969, Đố vui để học phát được 79 chương trình cá nhân và 29 chương trình đồng đội, mỗi tuần một chương trình. Có khoảng 1.000 thí sinh dự thi, phần lớn là học sinh tiểu học. Cứ 100 thí sinh thì có 10 thí sinh đáp trúng tất cả 9 câu hỏi.


 PHẠM CÔNG LUẬN. 

Liên kết Trang web : https://saigonxua.org/

Liên kết Facebook : https://www.facebook.com/oldsaigon75

Cuộc sống : CHUYỆN MÙA VU LAN - St trên mạng.

 



CHUYỆN MÙA VU LAN. 

- Alo. Anh hai hả? Anh đang ở đâu vậy?

- Anh Hai đang ở công ty,,có gì không cô út?

- Chiều về sớm tranh thủ qua nhà em đón Mẹ về nhà anh chị nhé

- Ủa, còn ba ngày nữa Mẹ mới qua nhà anh mà? Sao đón sớm vậy?

-Em biết, nhưng mai vợ chồng em đi du lịch với  bạn bè cả tuần mới về. Anh hai đón mẹ về nhà anh dùm em sớm vài hôm, tháng sau em bù lại cho

- Thôi được rồi, để anh về bàn với bà xã rồi tính sau

Nghe cuộc nói chuyện của cô con gái, bà Tư buông tiếng thở dài não ruột. Bà đứng lên lửng thững bước chậm chậm ra sân. Bà Tư cầm cái chổi lên quét quanh sân mà lòng ngổn ngang bao nỗi niềm. Bà Tư nhớ lại ...

Chồng chết sớm để lại cho bà Tư hai đứa con còn thơ dại. Lúc đó thằng Hai vừa mới chập chững biết đi những bước đầu tiên, con Út thì đang còn nằm nôi. Biết bao nhiêu khổ cực dồn hết lên đôi vai của bà, một sớm hai sương bà tảo tần lo cho hai đứa con khôn lớn. Buông cái này là bà chụp cái kia, làm và chỉ biết làm, miễn sao có tiền nuôi con là được

Khi hai con khôn lớn. Con Út muốn se sua với bạn thỏ thẻ với bà "Mẹ ơi con muốn mua áo mới", thằng Hai " mẹ ơi, cho con tiền mua chiếc xe đạp". Bà vui vẻ " Uhm. Để đó mẹ lo". Cứ thế, thằng Hai con Út trưởng thành chỉ biết ăn và học trong vòng tay của Mẹ đến khi ra trưởng và lập gia đình riêng. Cả hai đứa đều thành danh trong xã hội. Lúc hai đứa con còn nhỏ, tuy nghèo nhưng rộn rã tiếng cười. Bà Tư buông tiếng thở dài, bà tiếc nuối cái thời gian mẹ con đầm ấm đã qua.....

Tiếng chuông gọi cửa làm bà Tư giật mình. Bà đi vội ra mở cửa, con dâu ào vào, thằng Hai theo sau. Con dâu lên tiếng

- Cô Út có nhà không hả Mẹ?

Bà vừa đóng cửa lại vừa trả lời

- Nó ở trên lầu đó. Cơm nước gì chưa mà bây qua đây

Cô con dâu không trả lời, đi vội vào trong nhà. Cô Út nghe ồn ào dưới nhà liền chạy xuống. Chị dâu liền hỏi

- Cô Út làm gì mà tui gọi cháy máy không chịu nghe

- Em ở trong phòng xếp mấy bộ đồ để mai đi

- Cô đi rồi mẹ tính sao?

Cô Út hơi khó chịu

- Thì em có gọi cho anh Hai nhờ đón Mẹ về bên anh chị vài hôm rồi mà

Cô con dâu gắt..!!!

- Không được. Mai cuối tuần vợ chông tui cũng có việc đi tỉnh phát quà từ thiện hai ngày mới về. Cô Út xem tính sao thì tính.

Cô con Út lớn tiếng

- Anh Chị làm gì mà khó khăn vậy. Đi phát quà từ thiện thôi mà có cần phải gấp như vậy không. Chị lúc nào việc nhỏ cũng làm lên cho nghiêm trọng. Chờ em về rồi hãy đi !

Cô con dâu cũng không vừa

- Vậy sao cô không ở nhà đi để hôm nào đến phiên Mẹ qua tui rồi cô đi du lịch.

Bà Tư sợ mấy đứa con nhìn thấy nên quay mặt đi nơi khác để lau vội giọt nước mắt đang trào ra vì kìm lại không được. Chờ cho cục đắng nghẹn ở cổ trôi xuống. Bà Tư vui vẻ cười ha hả nói

- Chuyện nhỏ mà sao tụi bây ầm ĩ thế. Được rồi để đó Mẹ lo

Thằng Hai chen ngang

- Mẹ lo cách nào?

Bà Tư chậm rãi nói

- Lâu quá Mẹ không về quê, sẵn dịp vợ chồng con Út đi du lịch mươi hôm, vợ chồng thằng Hai cũng bận. Luôn tiện này Mẹ cũng muốn về Quê ở chơi với dì Năm bây vài hôm

Bà Tư nói xong, mấy đứa con đều nhất trí cao cách giải quyết của bà. Con Út lên tiếng

- Vậy thì mai anh Hai cho tài xế qua chở Mẹ ra bến xe

Bà Tư lại vui vẻ cười to để cho mấy đứa con yên tâm

- Cứ để đó Mẹ lo. Mai mẹ nhờ chú Ba xe ôm đầu ngõ chở mẹ ra bến xe được rồi.

Đêm hôm đó bà Tư suy nghĩ nhiều lắm. Tháng này ở nhà con Út thì tháng sau ở nhà thằng Hai. Bà Tư cảm thấy mình làm vướng bận cho con cái, vì mình mà hai anh em cãi nhau về chuyện ăn ở của bà. Làm Mẹ, bà không đành lòng nhìn cảnh như vậy.

*****

Tuần sau

- alo cô Út hả? Cô về chưa

- Còn 2 hôm nữa em mới về. Có gì không anh Hai

- Hôm nay anh nóng ruột quá nên gọi cho dì Năm hỏi thăm Mẹ, thì dì Năm nói là không có thấy Mẹ về nhà dì Năm.

Thế là cô Út và anh Hai cãi nhau ầm ĩ. Người này đỗ lỗi cho người kia. Cô Út đành phải bỏ cuộc du lịch bay về cùng anh Hai đi tìm Mẹ khắp nơi nhưng vô vọng...

*********

Năm năm sau

Tại một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô cách xa thành phố ,có một ngôi mộ lẻ loi ở sau chùa. Trên tấm bia có ghi

Phần mộ bà Nguyễn Thị Tư

Pháp danh. . .

Mất ngày. . . Tháng. . . Năm

Không rõ nhân thân

Mọi người trong làng kể lại. Cách đây năm năm, có một bà cụ từ đâu đến xin ở trong ngôi chùa nhỏ này. Từ đó ngôi chùa trở nên sạch sẽ nhờ bàn tay chăm chỉ của bà cụ. Sớm tối bà cụ tụng kinh gõ mõ. Bà cụ hiền lành phúc hậu nên được dân làng yêu quý, họ đem đến cho cụ mớ rau, khoai củ và những cây nhà lá vườn. Cứ thế, bà cụ sống nhờ vào lòng yêu thương của dân làng. Mọi người ở đây ai cũng nhìn thấy được cụ bà có một nỗi niềm gì đó mà không tỏ cùng ai. Vì nét mặt cụ luôn toát lên một nỗi buồn phảng phất cho đến tận lúc bà ra đi mãi mãi... .


CHA MẸ NUÔI CON BIỂN, HỒ LAI LÁNG

CON NUÔI CHA MẸ TÍNH THÁNG, KỂ NGÀY

ĐỌC XONG MÀ SUY NGẪM ! BÁO HIẾU MẸ, CHA !!!


St

Đời sống : GÁI NGOAN NỬA MÙA - Hong Khuu.

 



GÁI NGOAN NỬA MÙA. 

(Viết theo lời kể của chị bạn)

Kể ra tui cũng thuộc dạng gái ngoan - nhưng là gái ngoan nửa mùa, kiểu trái ổi bị nắng hun một bên, bên kia vẫn ráng giữ màu xanh cho có vẻ đoan trang. Nhìn thì tưởng hiền khô, chứ bên trong cũng có chút gió thổi qua, cũng biết cười, biết thương, biết lỡ bước vài lần cho thiên hạ khỏi nói mình chưa từng nếm mùi nhân gian.

Người ta hay nói ở đời có bốn món ăn chơi gọi là tứ đổ tường: rượu chè, cờ bạc, trai gái, hút xách. Tui xin khai thiệt, rượu chè thì tui biết nguyên cặp, còn ba món kia mỗi thứ chỉ dám xí một nửa, như thể ông trời chia phần vừa đủ để tui có chút chuyện kể mà không bị xếp vô danh sách "hư toàn tập".

Mà nói cho công bằng, rượu cũng có năm bảy kiểu. Có người uống vì buồn, có người uống vì vui, có người uống để quên sự đời. Còn tui uống đúng một ly trong đời - ly rượu giao bôi ngày cưới. Cùng một ngụm rượu đi xuống cổ họng, nhưng uống sai lúc người ta gọi là sa ngã, uống đúng ngày người ta lại gọi là nên duyên. Cùng một bài làm mà gặp hai người chấm khác nhau là điểm số đổi liền. Có khi số phận con người cũng giống ly rượu kia, không nằm ở thứ mình cầm trên tay, mà nằm ở câu chuyện phía sau nó.

Cha mẹ mất sớm, họ hàng ai cũng có cuộc sống riêng để lo, tui với thằng em trai giống như hai cây cỏ mọc bên vệ đường, không ai ngày ngày tưới nước, cũng chẳng ai đứng đó che dù khi trời nắng gắt. Hai chị em đành tự làm chỗ dựa cho nhau mà lớn lên.

Rồi giữa chốn đông người, tui gặp ảnh. Ảnh cũng mồ côi, cũng thiếu một mái nhà tinh thần giống tui. Hai đứa như hai chiếc lá bị gió cuốn đi mỗi hướng, vậy mà cuối cùng lại vô tình rơi xuống cùng một góc sân. Hai tâm hồn từng thiếu thốn gặp nhau, thôi thì dựng tạm một căn nhà bằng thương yêu mà trú, chẳng cần lệnh song thân - mà thiệt tình muốn xin cũng chẳng biết xin ai. Hai đứa lúc đó nghĩ đơn giản lắm: cha mẹ không còn, nhưng trái tim vẫn còn đập đều, vậy thì mình thương nhau thôi.

Đám cưới thời bao cấp nghèo mà ấm như nồi canh rau tập tàng ngày mưa. Không nhà hàng máy lạnh, không sân khấu đèn màu, không xe hoa chạy vòng vòng cho thiên hạ đứng coi. Cưới ngay tại nhà, căn nhà nhỏ xíu hôm đó tự nhiên rộng ra lạ thường vì chứa đầy tiếng cười, tiếng gọi nhau, tiếng chân chạy tới chạy lui của bà con hàng xóm. Nhà chật mà khách đông nên phải chia ca, người này vừa đặt đũa xuống là người kia vô ngồi, dọn bàn nhanh như chạy giặc, chậm một chút là khách đến sau không còn chỗ mà ngồi chớ đừng nói chi chỗ đứng.

Nhưng nghèo cũng có cái dễ thương của nghèo. Không tiền mua hoa thì lấy tàu dừa làm cổng, không trang trí sang trọng thì lấy bàn tay bạn bè làm đẹp cho ngày vui. Áo cưới đi thuê, xe hoa không có, xác pháo đỏ cũng không. Nhưng có một thứ tiền bạc không mua được - những người hàng xóm, bạn bè sẵn lòng bỏ công sức ra giúp mình trong ngày quan trọng nhất của một kiếp người.

Mấy đứa bạn gái xúm lại đi kiếm tàu dừa về dựng cổng cưới, rồi cả đám ngồi cặm cụi cắt chữ dán lên tường: "Bình Châu Hạnh Phúc Muôn Năm." Làm xong, đứa nào cũng nhìn thành quả với ánh mắt tự hào, cứ như vừa xây xong cung điện tình yêu. Ai dè bác tổ trưởng dân phố đi ngang, đứng nhìn một hồi rồi phán một câu tỉnh bơ: "Đám cưới thì chúc hạnh phúc trăm năm chứ đâu phải hội nghị mà cái gì cũng muôn năm." Cả đám im re, ngẫm lại thấy bác nói cũng có lý. Thế là lật đật sửa chữ "muôn" thành "trăm", khổ nỗi giấy đỏ hết sạch, chỉ còn giấy bạc. Thời đó đâu có chuyện muốn màu gì bấm điện thoại một cái là ra, có gì xài nấy. Chữ "trăm" đành cắt bằng giấy bạc, dán chìm vào giữa hàng chữ đỏ, đứng gần thì thấy rõ, mà lùi ra xa một chút, cái màu bạc lạc lõng ấy cứ như tan biến đi đâu mất, để lại một khoảng trống lửng lơ giữa dòng chữ "Bình Châu Hạnh Phúc ... Năm". Nghĩ kỹ lại thấy nó hay - cái khoảng trống nhìn từ xa ấy, đâu phải để bỏ mãi, mà là để dành sẵn cho cô dâu chú rể tự mình điền vào, năm này qua năm khác, bằng chính những tháng ngày họ sống với nhau.

Cưới xong, căn nhà chỉ còn hai vợ chồng với thằng em trai đang học lớp 12. Và đây mới là đoạn khiến tui nghĩ mấy người cùng thời nghe xong chắc cười khúc khích. Hồi đó thanh niên tụi tui đâu có internet, đâu có điện thoại thông minh, đâu có Google hỏi gì cũng ra. Muốn biết chuyện trai gái chỉ có nghe người này kể người kia, mấy cuốn sách chuyền tay, mấy câu chuyện nói nhỏ dưới mái hiên. Trong kho tàng "kiến thức bí mật" của tuổi mới lớn ngày ấy, có một cái tên mà hễ ai nghe tới cũng làm bộ ho một tiếng, nhìn trời nhìn đất, giả bộ như chưa từng biết - Cô Giáo Thảo. Tui hồi đó cũng nghe thiên hạ nói qua, nhưng thiệt tình lúc đó tui đã có quá nhiều thứ phải lo rồi, nào cơm áo, tiền bạc, nuôi em, tính chuyện tương lai, chưa kịp nghiên cứu sách vở thì đã phải bươn chải đủ bề. Tui nghĩ bụng, người ta học Cô Giáo Thảo bằng mấy trang giấy truyền tay, còn tui học chuyện yêu thương bằng chính cuộc sống. Ở đó không có ai giảng bài, không có đáp án cuối sách, chỉ có hai người tự học cách hiểu nhau.

Đêm tân hôn, hai đứa hồi hộp như học sinh chờ phát đề thi. Bao nhiêu năm giữ gìn, cuối cùng cũng tới ngày được bước vào một môn học mà không ai dạy trong sách giáo khoa.  Chiến bào được khoát lên.  Ai dè, ngay lúc hai đứa đang chuẩn bị "vào bài", thằng em trai ngồi học ở nhà trước bỗng hét lớn: "Anh chị làm gì mà rầm rầm hoài vậy? Đừng làm ảnh hưởng việc học của em!"

Trời đất ơi. Hai đứa tui lúc đó giống y chang học sinh đang làm bài kiểm tra, tự nhiên giám thị đi ngang hỏi làm tới đâu rồi, muốn trả lời cũng không biết trả lời sao. Tui nhỏ giọng phân trần: "Căn nhà này cách âm không được tốt..." Thằng nhỏ đáp liền, tỉnh queo: "Chứ còn gì nữa! Anh chị nói gì ngoài đây em nghe hết!" Ảnh trố mắt: "Tường nhà em xây bằng giấy hả?" Nó đốp lại không chút do dự: "Không, nhưng mười căn nhà chung một cái loa thông báo luôn đó!" Nói xong còn gõ cửa: "Nhỏ tiếng chút! Em đi học bài đây!"

Hai vợ chồng nhìn nhau, trong đầu cùng hiện lên một câu hỏi lớn hơn cả đề thi đại học: vậy rồi làm sao học tiếp môn này? Ảnh lặng lẽ đứng dậy dọn mấy cái ly rượu bị đổ, không giận không trách, nhưng cái vẻ mặt thất vọng nhìn mà thương. Đêm đó hai đứa nằm quay mặt ra hai phía, mỗi người âm thầm giải một bài toán khó - làm sao thương nhau khi căn nhà không có lấy một chút riêng tư, làm sao giữ lửa khi bên ngoài luôn có một vị khán giả bất đắc dĩ. Cuối cùng tụi tui nghiệm ra, chuyện vợ chồng cũng phải biết coi hoàn cảnh, tìm phương pháp, chờ đúng thời điểm, chứ không phải cứ muốn là được. Cái khó nó bó cái lòng. Bài giải của tụi tui lúc đó chỉ có hai chữ: chờ thời.

Rồi mùa hè năm đó, thằng em thi đậu đại học, lên đường đi học, ra trường, rồi đi xa theo phân công nhiệm sở. Căn nhà nhỏ ngày nào từng vang tiếng than "anh chị làm gì mà ồn quá", cuối cùng cũng trở lại yên tĩnh, chỉ còn hai vợ chồng, không còn ai gõ cửa, không còn ai làm giám khảo bất đắc dĩ. Thằng em ngày xưa giờ cũng có gia đình riêng, chắc nhiều năm sau nó mới hiểu được cái đêm đó anh chị nó không phải ồn ào vì thiếu ý thức, chỉ là hai con người từng cô đơn quá lâu, cuối cùng cũng tìm được nhau.

Có những chuyện lúc xảy ra chỉ muốn kiếm cái lỗ chui xuống vì mắc cỡ, vậy mà vài chục năm sau nhớ lại, nó lại thành một viên kẹo ký ức, ngậm vô thấy vừa ngọt vừa cay vừa mắc cười. Tuổi trẻ của tụi tui không có nhiều thứ, không nhà đẹp, không tiền nhiều, không cuộc sống tiện nghi. Nhưng có một thứ mà thời nào cũng quý - có một người bên cạnh để cùng mình đi qua những ngày thiếu thốn, rồi vài chục năm sau vẫn còn ngồi cười với nhau về những chuyện từng làm mình đỏ mặt.

Hạnh phúc là sau bao nhiêu năm, vẫn có người ngồi cạnh mình mà nói: "Nhớ cái hồi đó không?"

Còn bạn thì sao? Có kỷ niệm nào ngày xưa từng muốn giấu nhẹm xuống đất, vậy mà thời gian phủ lên một lớp bụi vàng, để rồi mỗi lần nhớ lại chỉ biết vừa mắc cỡ vừa cười một mình không?

HỒNG KHUU.

Thơ : TÌM LẠI CHÚT HƯƠNG XƯA - hathuthuy.

 



TÌM LẠI CHÚT HƯƠNG XƯA

Gần nửa trăm năm trở về chốn cũ 

Một thời giáo viên gói lại nơi này 

Mái trường làng xưa tranh tre vách lá 

Thương học trò chân đất bước đường xa

Thầy cô cũng quen dần trong gian khó 

Trang giáo án nghiêng trăng gầy rừng núi 

Tiếng thác ầm ì vọng giữa đồi xa

Giờ tất cả... Đã trôi vào dĩ vãng 

Phố thị rộn ràng điện sáng lung linh

Đường rộng mở ,Hồ Trị An bát ngát

Cỏ mật xanh tươi chan chứa nắng vàng 

Mây trên trời ngừng trôi cùng vọng tưởng 

Hương mùa xưa... Thuở cô giáo xa nhà.

hathuthuy



PHÁO TẾT NGÀY XƯA. 

Đêm Lễ Độc Lập, pháo bông nổ rần rần, sáng rực một góc trời. Người ta reo hò, giơ điện thoại quay lia lịa sợ lỡ mất khoảnh khắc đẹp, còn tui đứng đó chẳng thèm ngửa cổ lên ngó. Tiếng nổ ấy không bay lên mây mà cắm thẳng vô ngực, rồi từ trong đó nó lôi tuột tui về lại những đêm giao thừa xa lắc. Pháo bông bây giờ đẹp thiệt, màu mè lộng lẫy đủ kiểu, nhưng cái ký ức tuổi trẻ đâu có nhớ bằng mắt - nó nhớ bằng mũi hít mùi khói, bằng cái tai nghe tiếng nổ giòn, bằng con tim thót lại mỗi bận giật mình. Chỉ cần một tiếng đùng lảng vảng đâu đó là mùi khói pháo năm cũ lại kéo về, khiến chân tự động chạy về nhà, ngồi gõ lại mấy dòng này, hổng đợi tới Tết mới nhớ.

Hổng biết bây giờ đời đổi thay kiểu gì chớ hồi đó, cứ tới mùa Giáng Sinh là Sài Gòn đông nghẹt, đông tới mức tưởng cả thành phố hẹn nhau cùng một giờ để bước ra đường. Mà nói thiệt, hồi đó Giáng Sinh đâu còn là chuyện riêng của đạo nào - nó là cái cớ để người ta diện bộ đồ đẹp nhứt trong tủ, xịt chút dầu thơm mua ở chợ, chải tóc láng o, rồi chen nhau đi ngắm thiên hạ, vậy thôi. Mới chạng vạng là mấy con đường dẫn vô nhà thờ Đức Bà đã bị chặn thanh chắn ngang xương. Muốn vô hả? Xỏ dép mà đi bộ. Ngộ cái, càng cấm xe người ta càng ùn ùn kéo tới, đông cỡ nào cũng có chỗ chen.

Tui hồi đó mười lăm mười sáu. Cái tuổi nghe "đi hông?" là gật cái rụp, chưa biết đi đâu cũng ừ trước đã. Mười bốn đứa con gái ở chợ Chiều hú nhau một tiếng là đứa nào đứa nấy lôi ra bộ đồ được cưng nhứt - có đứa áo còn thơm mùi hồ vải, có đứa mang đôi dép nhựa trắng cả năm chỉ dám xỏ đúng ba lần. Cả bầy lóc cóc qua chợ Thị Nghè, lượn ngang Sở Thú, quẹo Nguyễn Bỉnh Khiêm, rồi tiến thẳng đại lộ 30 Tháng 4 về hướng nhà thờ Đức Bà. Đi thì nói cười rân trời mà mắt đứa nào cũng bận liếc thiên hạ, thấy trai đẹp đi qua thì giả đò ngó lơ, ai dè tim đập thình thịch muốn rớt ra ngoài.

Vui thì vui vậy, chớ hồi đó có cái để sợ. Pháo.

Nói tới pháo là nói tới quốc nạn thiệt sự chớ chẳng phải nói cho vui. Nó nổ bất tử, hổng thèm báo trước. Mấy thằng choai choai thì y như đang chờ có dịp, cứ lựa mấy cô gái mà quăng pháo cho đã. Nổ cái đùng ngay bên hông, tà áo nám một vệt đen, da rát buốt, hồn muốn văng ra khỏi xác, còn tụi nó thì đứng cười hô hố như mới lập chiến công cứu nước. Ghét thì ghét đó mà nghĩ lại cũng mắc cười, đúng cái tuổi ăn chưa no lo chưa tới.

Mà nói người ta hoài kỳ quá, hồi nhỏ tui đâu có hiền hơn ai. Tết nào ba tui cũng mua sẵn bốn nồi pháo dài cả thước Tây, tốn không ít tiền, má cằn nhằn tiếc tiền mua bánh trái, mà ba cứ cười xòa, coi như ba đâu có mua pháo, ba mua cái không khí xuân cho cả nhà. Một nồi giao thừa, ba nồi chia đều ba ngày Tết. Giao thừa mà thiếu tiếng pháo thì coi như chưa tới giao thừa. Cả xóm thay phiên đốt, nhà này vừa dứt nhà kia nổi liền, điếc cả tai mà lòng cứ rộn lên kỳ cục. Dưới bến, tàu kéo còi u... u... dài, còn má thì lầm rầm khấn vái, ba lom khom châm nồi pháo đầu tiên. Sáng mùng Một ra ngõ, đất đỏ au xác pháo, mùi khói còn vương trong áo mấy ngày liền.

Tui cũng ham, ai nói không ham là xạo. Nghe đâu đốt pháo là chạy tới, đợi nổ xong nhào vô lượm mấy trái lép đem về đốt lại, riết rồi tưởng mình gan lắm. Cho tới một bữa, châm lửa chưa kịp quăng thì nó bùm ngay trong tay. Lửa nháng, tay tê dại, phồng rộp, rướm máu, đau tới mức khóc mà chẳng kịp biết mình khóc hồi nào. Từ đó thấy pháo là né, né lẹ hơn né chủ nợ cuối năm.

Rồi 1 tháng 1 năm 1995, pháo bị cấm hẳn. Giao thừa từ đó im ru, đám cưới cũng hết cảnh xác pháo hồng rải lối đưa dâu. Bình yên hơn thiệt, cái đó ai cũng công nhận. Nhưng mà bình yên riết rồi cũng thấy thiêu thiếu cái gì đó, kiểu như nhà bớt ồn thì ngủ ngon hơn, mà đôi khi nửa đêm giật mình tỉnh giấc lại thấy trống trải là lạ.

Sau ngày đó  giao thừa với tui chỉ còn nén nhang, chút vàng mã, với tiếng còi tàu Tân Cảng vẫn u... u... vọng vào đêm như hồi xưa, có điều người nghe nó bây giờ như già hơn . Muối giờ tối là tui leo lên giường ngủ khì, kệ đồng hồ tự lật sang năm mới. Không phải hết thương Tết đâu, mà tới tuổi này mới ngộ ra thêm một tuổi cũng là bớt một đoạn đời, thôi ngủ cho khỏe, tính sau.

Có lần bạn hỏi tui rốt cuộc là nhớ tiếng pháo hay nhớ cái Tết nghèo ngày đó. Thiệt tình tui đâu có thèm nhớ tiếng nổ đôm đốp làm gì, cái tui nhớ là cái thời nghe pháo nổ là biết ba còn đó, đám bạn quỷ sứ còn đó, và tui thì vẫn còn là con nhỏ mười sáu tuổi, đầu óc trống trơn chỉ toàn háo hức với dại khờ. Tiếng pháo ngoài đường tắt lâu rồi, nhưng cái thứ âm thanh đó nó chuyển chỗ ở, giờ nằm lì trong lồng ngực, thỉnh thoảng lại nổ lên một cái, chẳng cần xin phép ai.

Bạn giữ được cái gì của Tết xưa tới giờ, hay cũng ngủ khì qua giao thừa như tui rồi?

HONG KHUU.

Vui chút :SO SÁNH.

 


SO SÁNH... 

Có cặp vợ chồng người Bắc cắm trại gần lều của cặp vợ chồng người Nam ..

Bà vợ Bắc nghe bà Nam mắng chồng: 

" Tối ngày địt , địt, địt ….Đứng địt , , ngồi địt , nằm địt và giờ lại còn vừa đi vừa địt nữa ...Mệt với ông quá đi .!!."...

Nghe bà Nam nói thế , bà Bắc quay sang chồng và mai mỉa :

" Đấy , ông thấy chồng người ta chưa ???..Suốt ngày đứng , ngồi , nằm đều địt và thậm chí vừa đi vừa địt nữa ...Còn ông ,chỉ mỗi chuyện địt nằm cũng không xong.””

Bị vợ mắng te tát , ông chồng Bắc gãi đầu và nói : 

" Gì thì cũng cố làm được ,nhưng vừa đi vừa địt thì tôi chịu thôi ...Không làm được đâu" 

SƯU TẦM TRÊN FB. 

Thiên nhiên : HÃY GIỮ MÀU XANH.

 




HÃY GIỮ MÀU XANH. 

Năm 2017, một con cá voi ở Na Uy đã cố gắng bơi vào bờ, quyết tâm tìm cái chết. 

Dù các chuyên gia đã cố gắng giúp đỡ thế nào cũng vô ích. Sau khi nó chết, các chuyên gia mổ bụng nó ra, cảnh tượng trước mắt khiến tất cả mọi người đều sững sờ.

Lúc đó là giữa trưa, mặt trời chiếu rực rỡ lên toàn bộ bãi biển. Du khách đều đi tìm nơi tránh nóng. Lúc này, một con cá voi điên cuồng mắc cạn về phía bãi biển.

Nhiều du khách nhìn thấy cảnh tượng này đều kinh ngạc, nhao nhao gọi. Dưới sự chứng kiến của mọi người, con cá voi nhanh chóng mắc cạn trên bãi biển. Lúc này là lúc mặt trời gay gắt nhất, nếu không kịp thời đưa cá voi trở lại biển, thì rất có thể nó sẽ phải đối mặt với cái chết.

Du khách trên bờ rất lo lắng cho sự an nguy của cá voi. Khi cá voi sắp mắc cạn, đã có người kịp thời thông báo cho cảnh sát. Cảnh sát cùng các chuyên gia bảo vệ động vật đã đến. Lúc này, xung quanh cá voi có một đám đông lớn, không ngừng tưới nước lên lớp da khô của nó.

Mọi người muốn dùng sức mạnh của đám đông để đưa nó trở lại biển, nhưng dù mọi người có đẩy thế nào, cá voi vẫn không nhúc nhích. Rõ ràng là nó dường như không muốn trở lại biển, nhưng mọi người đương nhiên đã bỏ qua điểm này, dù sao thì làm sao có sinh vật nào lại không muốn sống.

Thấy sức người không thể cứu được nó, mọi người liền vận chuyển máy móc hạng nặng đến. Nhờ sức mạnh của máy móc, mọi người nhanh chóng đưa cá voi trở lại biển. Ngay khi tất cả mọi người đều thở phào nhẹ nhõm, đột nhiên xảy ra một cảnh tượng khiến tất cả những người có mặt đều cảm thấy khó tin.

Con cá voi vừa được đưa trở lại biển lại từ từ bơi về phía bờ biển. Ban đầu mọi người nghĩ nó muốn cảm ơn, nhưng khi cá voi lại mắc cạn trên bãi biển, mọi người đột nhiên có chút hoảng loạn.

Nhưng để cá voi có thể sống sót, mọi người lại hợp sức đưa nó trở lại biển, nhưng lần này cũng vẫn như lần trước, cá voi lại quay trở lại bãi biển.

Điều này khiến những người cứu hộ không khỏi suy nghĩ, tại sao lại xảy ra tình huống này? Nếu chỉ là một lần mắc cạn, thì vẫn có thể định nghĩa là tai nạn, nhưng bây giờ liên tục mắc cạn, khả năng duy nhất là bản thân cá voi không muốn sống nữa.

Sau khi đưa ra kết luận này, những người cứu hộ vô cùng đau buồn. Dù họ có tìm mọi cách cứu giúp một trăm lần, chỉ cần cá voi không có ý chí cầu sinh, thì sau khi họ rời đi nó vẫn sẽ chết.

Đám đông vây quanh trên bờ dường như cũng cảm nhận được ý muốn tìm cái chết của nó. Trong chốc lát, tất cả mọi người đều chìm trong đau buồn. Lúc này, mọi người đều đau buồn cho con cá voi sắp chết. Có người không hiểu, có người đau lòng, cũng có người hy vọng vẫn có thể cố gắng thêm một chút.

Nhưng đã quá muộn rồi, lúc này con cá voi nằm trên bãi biển nóng bỏng thoi thóp. Chỉ trong hai ba giờ ngắn ngủi, lượng nước trên bề mặt cá voi đã hoàn toàn bốc hơi. Lúc này, tất cả mọi người đều chìm trong đau buồn, tất cả mọi người cùng chứng kiến một sinh mệnh mạnh mẽ cứ thế mà lụi tàn.

Nếu xác cá voi cứ mắc cạn trên bãi biển, một khi xảy ra phản ứng hóa học rất có thể sẽ dẫn đến nổ. Để tránh nguy cơ tiềm ẩn này xảy ra, nhân viên quyết định mổ xẻ và vận chuyển xác cá voi đi.

Vì kích thước của cá voi quá lớn, mọi người chỉ cần mổ bụng cá voi thôi đã mất vài giờ rồi. Khi mọi người mổ bụng cá voi, tất cả mọi người đều sốc.

Ai cũng biết cá voi thích ăn cá nhỏ và các sinh vật biển khác, nhưng trong bụng con cá voi này không những không thấy cá nhỏ, mà toàn là túi nhựa và chai lọ.

Trong chốc lát, tất cả mọi người đều im lặng. Những thứ này không thể tiêu hóa trong bụng là một điều đau đớn đến nhường nào. Những người có mặt cuối cùng cũng hiểu tại sao cá voi lại liên tục tìm cái chết, có lẽ cái chết đối với nó lại là một sự giải thoát.

Hy vọng mọi người đều có thể hình thành thói quen vứt rác vào thùng rác, đừng phá hoại môi trường trái đất xinh đẹp của chúng ta, hy vọng mỗi người đều có thể yêu quý ngôi nhà của chúng ta, bảo vệ động vật.

St TRÊN FB. 

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2026

Tản văn : MÙA TỰU TRƯỜNG - Hoài Hương.

 



 MÙA TỰU TRƯỜNG .

Mùa hạ chói chang đã lùi lại phía sau, nhường chỗ cho những cơn gió thu man mát tràn về trên đất Mỹ. Mùa khai trường (Back to School) lại đến. Nhìn những chiếc xe buýt vàng rộn rã đón học sinh trên phố, lòng một người lữ khách đã đi qua gần hai phần ba đời dâu bể chợt chùng xuống. Cái se lạnh chớm thu phương xa dường như chẳng thể làm ấm nổi khoảng trống hun hút trong tim.

Ký ức như thước phim chậm, vượt qua đại dương mênh mông, vượt qua hơn ba mươi năm bôn ba xứ người để đưa tôi trở về với những ngày tựu trường tháng Tám, tháng Chín năm xưa dưới mái trường Thủ Khoa Nghĩa - Châu Đốc.

Nhớ những năm học Đệ Nhất Cấp, sau một mùa hè thảnh thơi, ngày tựu trường là dịp vui nhất đời học trò. Lớp học thơm phức mùi vôi mới, ngào ngạt mùi mực tím và rộn rã tiếng cười sau kỳ nghỉ dài. Chúng tôi chuyền tay nhau cuốn Lưu Bút Ngày Xanh, nắn nót ghi vài hàng kỷ niệm, dán vội tấm ảnh chân dung nhỏ gói ghém bao ước mơ trong ngần chưa nhuốm bụi trần.

Thế nhưng, ngày vui ngắn chẳng tày tay. Bước lên Đệ Nhị, mùa tựu trường không còn là cảm giác nôn nao gặp lại bạn bè, mà thay vào đó là gánh nặng của kỳ thi Tú Tài Một đầy định mệnh. Áp lực nghiệt ngã "Rớt Tú Tài anh đi Trung Sĩ" đè nặng lên vai những cậu học trò mười bảy tuổi. Tôi còn nhớ những năm cuối trung học, khi cầm trên tay cuốn sách “Đường Vào Đại Học”, tôi từng biết trường Đại Học Cần Thơ tuyển thi giáo sư cấp tốc đệ nhất cấp, chương trình học ba tháng rồi ra dạy, sau đó tiếp tục hoàn tất vào mỗi mùa hè. Ngày ấy, tôi háo hức ghi danh nhưng trong thâm tâm lại chưa muốn dừng lại ở việc đi dạy nên đã bỏ lỡ. Để rồi mãi sau này, mỗi lần nhớ lại, lòng tôi vẫn dâng lên một niềm nuối tiếc khôn nguôi.

Để chuẩn bị cho những kỳ thi sinh tử, tôi cùng bạn chí cốt từng đùm túm sách vở lên núi Sam ôn luyện. Những ngày tá túc nơi góc chùa tĩnh lặng, sáng chiều nghe tiếng chuông ngân giữa mây giăng mờ ảo, chúng tôi vừa miệt mài kinh sử, vừa thì thầm chia sẻ những ước mơ ngô nghê của tuổi trẻ.

Vượt qua Tú Tài Một, con đường rộng mở hơn với Tú Tài Hai và cánh cửa Đại học. Thế nhưng, giảng đường thời chiến chưa bao giờ là tháp ngà bình yên. Lệnh Tổng Động Viên năm 1972 ập đến như cơn lốc thời cuộc, cuốn phăng bao ước mơ thanh xuân, buộc chúng tôi phải gác lại bút nghiên để bước vào đời quân ngũ.

Sau bao biến cố, cuộc đời đẩy đưa chúng tôi lạc lỏng đến xứ sở cờ hoa. Nhịp sống sinh viên ở Mỹ thực tế và hối hả với vòng xoáy vừa làm vừa học. Mùa tựu trường nơi đây không có tiếng trống khai trường rộn rã hay tà áo trắng tung bay, mà chỉ là chuỗi ngày cuống quít giữa ca làm và giờ lên lớp. Sự bận rộn ấy cuốn riết đến mức ngày tốt nghiệp, nhiều người thậm chí chẳng thể thu xếp thời gian đến trường nhận bằng, đành ngậm ngùi chờ bưu điện gửi về tận nhà.

Đã mấy mươi năm trôi qua, mái tóc xanh ngày nào giờ đã nhuốm màu sương gió. Mỗi lần thu sang, nhìn nắng vàng nhạt chiếu qua kẽ lá, hình ảnh ngôi trường Thủ Khoa Nghĩa xưa lại hiện lên vẹn nguyên, trong trẻo như dòng nước sông Hậu mùa bồi đắp phù sa. Nơi ấy, những thầy cô tâm huyết đã chắp cánh cho chúng tôi bước qua những ngưỡng cửa lớn của cuộc đời.

Thời gian trôi đi không ngoảnh lại, bạn bè mỗi người một ngả, tan tác như lá thu bay. Giờ đây, đứng ở phía bên kia dốc cuộc đời, ngoảnh nhìn lại, mọi thăng trầm xưa cũ chỉ còn như một giấc mơ dài sau cái chớp mắt.

Ngôi trường cũ dẫu trải qua bao dâu bể vẫn trầm ngâm đứng đó... chỉ có bóng dáng người xưa là mãi mãi biền biệt nơi chân trời. Thôi thì, xin gom hết những thương nhớ một thời gửi vào gió thu, trả lại cho ký ức một khoảng trời xanh trong vắt của những ngày đã qua.

HOÀI HƯƠNG (FB) 

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2026

Cuộc đời : TUI UỐNG NHẦM THUỐC !- Hong Khuu.

 



TUI UỐNG NHẦM THUỐC!

Có bữa ngồi coi phim tình cảm, tự nhiên tim nhói một cái, y như ai lỡ tay đụng trúng vết sẹo cũ mà mình cứ tưởng nó lành lâu rồi. Kỳ thiệt, không biết uống nhầm thuốc gì mà càng già tui càng khoái ngắm trai thanh gái lịch yêu nhau. Thấy tụi nó nắm tay, cãi lộn, rồi quay lại ôm nhau một cái, tự nhiên thấy mình như đứng ngoài cửa sổ nhìn vô một căn nhà sáng đèn, ấm rân, còn mình thì đứng ngoài sân, tay ôm cái áo khoác cũ, miệng cười mà lòng hơi chát.

Coi riết rồi mới thấy, mấy chuyện tình trên phim có cái bất công dễ thương lắm. Lúc nào cũng có một đứa sinh ra đã nằm sẵn ở vạch đích, rung đùi giỡn chơi với trái tim người ta. Còn đứa kia phải lội trầy da tróc vảy đủ chín mươi chín bước, vừa thương vừa buồn vừa chai lì, đi tới lúc tưởng sắp quỵ. Vậy mà bên kia chỉ cần nhấc cái mông lên, bước có một bước ngắn tày gang tới đỡ nhẹ một cái, là coi như ăn trọn điểm, game over. Vô lý vậy đó, mà tui coi, tui cũng rớt nước mắt rồi cười huề.

Thấy tụi nó dung dăng dung dẻ dưới nắng, tự nhiên trong lòng có một cô gái nào đó chạy ngang qua, tóc xanh, mắt sáng, chân đủ khỏe để chạy theo một người mà không cần hỏi coi đầu gối mình chịu nổi hay không. Tiếc là cái tuổi xế chiều đã gói tui lại gọn lỏn thành một mụ già cau có, hom hem, hết xí quách để đòi nhập cuộc liêu trai. Cái ngõ thanh xuân đó, tui đi vòng vo cả đời, vậy mà đứng ở xó xỉnh nào ngó lại cũng thấy nó đứng từ xa vẫy tay. Muốn chạy lại lắm, muốn nhận mặt cho thỏa, ngặt nỗi cánh tay mình có dài cách mấy cũng không thể thò qua một đoạn mấy chục năm để kéo nó lại gần cho đỡ nhớ mong. Thôi thì ngồi ngoài rìa làm khán giả, cười cười, thở dài một cái cho có lệ.

Tuổi trẻ của tui, nói cho ngay, cũng có chút màu hồng, nhưng mỏng như lớp phấn trên mặt cô dâu ngày cưới. Có một anh lính hai mươi sáu tuổi, tình trong như đã mặt ngoài còn e, tụi tui nghiêm túc với nhau dù chưa từng gặp mặt. Anh đi khi tuổi đời còn quá trẻ, tụi tui chẳng kịp có cơ hội đi xa hơn nữa. Vậy mà hình ảnh của anh cứ theo tui tới bây giờ, thấp thoáng đâu đó trong mấy trang thơ, trang truyện tui viết. Phần đời còn lại chỉ là một bản nhạc buồn thiu: một người đi với một người, một người đi với nụ cười hắt hiu. Không có ai đưa đón, không có giận hờn để được dỗ dành, cũng chẳng ai nhìn thấy tui buồn mà hỏi một câu "sao vậy". Buồn thì tự chui vô cái vỏ của mình, gặm cho hết cục buồn rồi mới chịu chui ra, miệng lẩm nhẩm "Em về điểm phấn tô son lại, hẹn với nhân gian tiếng đợi chờ".

Ừ thì thua keo này ta bày keo khác, có chí thì nên, phải không. Rốt cuộc mũi tên tình yêu của tui cũng tới, mà tới từ tuốt nửa vòng trái đất. Nói thiệt, tui đâu có trúng tên bao giờ. Toàn là tự mình chạy tới, lượm mũi tên lên, tự ghim vô ngực mình một nhát nhè nhẹ, rỉ chút máu cho có vẻ giống người ta, chớ không thiên hạ lại tưởng mình thuộc giống máu lạnh thì kỳ.

Sáu mươi tuổi đời, ngẫm lại chưa từng có nổi một lần nắm tay ai đi giữa phố mà lòng khỏi ngó trước ngó sau. Yêu thì chậm mà cưới thì vội. Cái cẩm nang sống "bán rẻ còn hơn ngồi không, lấy chồng hơn ở giá" đem về cho tui một mái nhà đủ che nắng che mưa, tiện thể che luôn mấy trận chiến tranh lạnh giữa hai nửa tâm hồn chẳng bao giờ chịu khớp nhau trọn vẹn. Cũng giống một cuộc liên hôn của hai kẻ cô đơn vậy đó. Băng tua nhanh quá, chẳng kịp cho mình cái diễm phúc yêu theo tuần tự, để rồi những thứ dồn ứ lại từ năm nào, giờ cuối đường mới chịu lộ mặt, đòi một chỗ đứng. Tui chỉ biết cười trừ.

Giờ thì đành tìm lại cảm giác của mình qua chuyện của người ta, chớ tuổi này rồi còn tiêu chuẩn gì mà đòi đóng phim nữa. Nhiều khi coi mà cười như điên, rồi tiện thể nhớ qua chuyện đời. Nhớ bác Ba của tui, mới mười lăm tuổi đầu đã bị người lớn tóm đi hỏi vợ, cũng vì ở quê cần thêm người ra đồng cày cuốc, đời lúc đó tính chuyện trăm năm đơn giản như tính công cấy. Ngày đi hỏi vợ, bác Ba hoảng quá đào hôn, cả nhà phải tổng động viên đi truy nã, cuối cùng tóm được nghi phạm đang co ro trong chuồng gà. Bác gái lớn hơn hai tuổi, nghe đâu hồi đó "được gái" lắm, ai cũng tưởng cưới về chỉ để có cặp nhảy dây cho vui nhà. Vậy mà mới tháng sau đã thấy ôm cái bụng lú lù.

Rồi lại nhớ cái bữa trước khi vô phòng tân hôn, tui còn làm trồng làm tréo, nhất định bắt ông chồng phải bế kiểu công chúa, tự ẵm tui bước qua thềm cửa chớ không cho đi bộ. Hồi đó mình hạc xương mai là thế, mà ổng cũng phải è cổ, hì hục lắm mới bế nổi tui lên tới giường. Bây giờ lâu lâu nổi hứng bày đặt nũng nịu: "Anh ơi, ẵm em đi ngủ đi." Ổng quay qua liếc tui một cái lạnh như mùa đông cực Bắc, nhún vai, rồi thản nhiên quay lưng bước đi, không quên thảy lại một câu xanh rờn: "Voi con bé bỏng, anh có lòng mà không có sức."

Câu nói rớt xuống đất cái bịch. Tui đứng đó một chút, rồi bật cười. Cười cái kiểu vừa buồn vừa thương, kiểu cười của bà già sáu mươi đứng cạnh người mình nắm tay đã mấy chục năm, mà nhiều khi vẫn còn ngờ ngợ không biết đây có phải cái mình từng mơ hồi con gái hay không.

Mà thôi. Cái ngõ thanh xuân đó vẫn đứng nguyên chỗ cũ, chỉ có người đứng ngó nó là già đi thôi.

Giá mà được quay lại một lần, chắc tui cũng chẳng đòi hỏi gì nhiều. Chỉ cần một người chịu bước tới trước, dù chỉ một bước ngắn tày gang - để tui khỏi phải một mình lội hết chín mươi chín bước còn lại.

11/08/2026

HONG KHUU (FB) 

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2026

Phương xa: UỐNG SỮA NGƯỜI - St trên FB.

 



UỐNG SỮA NGƯỜI. 

Năm 1943, một phi công Mỹ rơi từ bầu trời xuống một trong những khu rừng nguy hiểm nhất trên trái đất.

Trong ba mươi mốt ngày, Fred Hargesheimer lang thang một mình qua rừng mưa nhiệt đới của đảo New Britain sau khi chiếc máy bay trinh sát đang bốc cháy của anh bị bắn hạ trên vùng lãnh thổ do quân Nhật kiểm soát trong Thế chiến thứ Hai.

Anh khi ấy hai mươi bảy tuổi.

Đói khát.

Mê sảng.

Chỉ còn thoi thóp.

Anh sống sót nhờ rễ cây và nước suối, di chuyển trong rừng vào ban đêm để tránh các toán tuần tra Nhật Bản đang lục soát hòn đảo.

Đến ngày thứ ba mươi hai, khi những tiếng nói cuối cùng vang lên từ trong cây cối, Fred tin rằng mình sắp chết.

Anh nghĩ quân Nhật đã tìm ra mình.

Nhưng không phải. Đó là một nhóm người bộ tộc Nakanai.

Người dân làng đã cõng người phi công Mỹ yếu ớt trở về làng ven biển và giấu anh khỏi lực lượng Nhật Bản, dù biết rõ hậu quả nếu bị phát hiện.

Quân Nhật đang treo thưởng cho việc bắt sống các phi công Đồng minh.

Họ cũng hành quyết bất kỳ ai giúp đỡ những người đó.

Thế nhưng dân làng vẫn giấu Fred.

Anh ốm yếu đến mức hầu như không thể nuốt được thức ăn đặc.

Rồi một người mẹ đang nuôi con bằng sữa tên Ida bước vào túp lều nơi anh nằm.

Bà quay lại với một cái chén đựng sữa của chính mình và tự tay cho anh uống trong mười ngày để giữ anh sống, trong khi vẫn nuôi đứa con nhỏ của mình.

Fred không bao giờ quên tên bà.

Mỗi khi toán tuần tra Nhật tiến gần làng, có người sẽ thổi nhẹ vào một cái vỏ ốc biển giấu gần đó.

Tiếng đó nghĩa là Fred chỉ còn vài giây để biến mất.

Và nếu anh chạy ngang bãi cát mà vẫn mang giày, những đứa trẻ trong làng sẽ đi theo phía sau, cầm những chiếc chổi nhỏ làm từ lá cọ — quét sạch dấu chân của anh trước khi lính Nhật đến.

Nếu bị phát hiện, cả ngôi làng có lẽ đã bị tàn sát.

Không ai phản bội anh.

Những đứa trẻ không thể phát âm được “Freddie”, nên chúng gọi anh là “Mastah Preddi”.

Ông chủ Freddie.

Anh sống cùng họ trong bảy tháng.

Rồi vào tháng Hai năm 1944, các biệt kích Úc cuối cùng cũng đến được ngôi làng và dùng radio gọi một tàu ngầm Mỹ đến đón anh rời đảo.

Trong một đêm không trăng, Fred chèo thuyền độc mộc ra phía tàu ngầm trong khi dân làng đứng nhìn từ bờ.

Một số người mẹ được kể lại là đã cố đưa con mình cho anh mang về Mỹ.

Fred sống sót qua chiến tranh và trở về Minnesota, nơi anh kết hôn, nuôi dạy con cái và xây dựng một cuộc sống bình thường.

Nhưng anh không bao giờ quên được những người đã cứu mình.

Đặc biệt là Ida.

Đặc biệt là những đứa trẻ với chiếc chổi nhỏ.

Suốt nhiều năm, một suy nghĩ luôn day dứt anh:

“Làm sao tôi có thể đền đáp được họ?”

Vì vậy năm 1960, Fred một mình trở lại New Britain.

Khi thuyền anh cập bãi biển, dân làng xếp hàng dọc bờ cát chờ đón anh dưới ánh trăng.

Rồi họ bắt đầu hát bài hát tiếng Anh duy nhất mà họ biết:

“God Save the Queen.”

Fred bước xuống cát và khóc.

Anh gặp lại Ida.

Anh gặp người con trai mà bà đã nuôi bằng sữa trong khi cũng nuôi anh bằng chính sữa của mình trong chiến tranh.

Và sau khi trở về nhà, anh quyết định rằng lời cảm ơn thôi chưa đủ.

Một nhà truyền giáo sau đó cho anh biết ngôi làng đang rất cần một ngôi trường.

Vậy là một người bán hàng trung niên ở Minnesota bắt đầu đi gõ cửa từng nhà trong quê hương mình, gây quỹ qua các nhóm nhà thờ và những khoản quyên góp nhỏ.

Đến năm 1963, Fred trở lại New Britain và giúp xây ngôi trường kiên cố đầu tiên của làng.

Nhiều năm sau, anh và vợ Dorothy chuyển đến sống luôn tại đó trong bốn năm — rời bỏ nước Mỹ hoàn toàn để dạy học cho trẻ em dưới chân một ngọn núi lửa, cách quê nhà mười hai ngàn dặm.

Trong vài thập kỷ tiếp theo, Fred tiếp tục trở lại hòn đảo hết lần này đến lần khác.

Anh giúp xây trường học.

Thư viện.

Một phòng khám y tế.

Năm 2000, người Nakanai chính thức tôn anh làm tù trưởng bộ tộc và trao cho anh danh hiệu “Suara Auru”.

Tù trưởng Chiến binh.

Rồi năm 2006, ở tuổi chín mươi, Fred thực hiện chuyến đi cuối cùng vào rừng.

Xác máy bay bị rơi năm 1943 cuối cùng cũng được tìm thấy.

Dân làng cõng người phi công già yếu trên vai xuyên qua rừng mưa nhiệt đới để anh được nhìn thấy nó lần cuối.

Cánh máy bay gãy từng một lần thả một người Mỹ trẻ đói khát vào cuộc đời họ vẫn còn nằm đó dưới những tán cây.

Fred Hargesheimer qua đời năm 2010 ở tuổi chín mươi tư.

Những ngôi trường và phòng khám anh giúp xây dựng vẫn còn hoạt động đến ngày nay.

Và khi người ta hỏi vì sao ông dành gần bảy mươi năm để đền đáp một ngôi làng mà ông lẽ ra có thể quên đi sau chiến tranh, Fred luôn trả lời bằng cùng một câu:

“Những người này đã cứu mạng tôi. Làm sao tôi có thể đền đáp được?”

Ông dành phần đời còn lại để cố gắng làm điều đó.

ST TRÊN FB. 

Vui chút : SỐ ĐIỆN THOẠI -St trên FB.

 

SỐ ĐIỆN THOẠI 


Cuộc sống : CHUYỆN TỬ TẾ - Hiep Phan.

 



CHUYỆN TỬ TẾ

Tiệm sửa xe Hòa Bình nằm trên đường Quốc lộ 1, gần quán cháo lòng Huỳnh Của, ngay con dốc dẫn lên Trường TH Ngô Quyền_Biên Hòa (BH). Suốt những năm tháng cắp sách đến trường, ngày nào tôi cũng đi ngang qua nơi ấy.  

Đó chỉ là một tiệm sửa xe đạp, xe gắn máy cũ kỹ, chẳng có gì nổi bật giữa vô số tiệm sửa xe khác ở BH.

Điều còn ở lại trong ký ức tôi về tiệm nầy không phải là tấm bảng hiệu đã bạc màu, mà là một chiếc bơm xe lặng lẽ đặt trước cửa tiệm.

Chiếc bơm ấy dành cho tất cả mọi người. Không ai trông coi. Không ai thu tiền.

Chỉ cần bánh xe bị mềm, bất cứ ai, nhất là những đứa học trò, đều có thể dừng lại, tự lấy ra bơm đầy hơi, rồi tiếp tục đạp xe đi hết đoạn dốc còn lại để đến trường.

Nhiều năm sau, mỗi khi nhớ về tiệm Hòa Bình, điều hiện lên trong ký ức tôi vẫn là chiếc bơm ấy. Có những sư tử tế bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt như vậy, đến mức người ta dễ dàng đi ngang mà không nhận ra.

Sau năm 1975, cuộc sống còn nhiều thiếu thốn. Xe đạp là tài sản quý của nhiều gia đình, và cũng là phương tiện gắn bó với tuổi học trò của chúng tôi.

Tôi trở thành khách quen của tiệm từ những ngày ấy. Khi thì vá xe, lúc chỉnh niềng, thay sên, sửa thắng... Những hư hỏng từ chiếc xe cũ của tôi đều từng đi qua bàn tay người thợ nơi đây, với mức tiền công lúc nào cũng phải chăng.

Chủ tiệm là ông Hai. Mọi người gọi ông như vậy.

Không ai nhớ ông đã gắn bó với nghề từ bao giờ. Khi tôi biết ông, râu tóc ông đã bạc phơ, lưng đã còng và đôi bàn tay thì hằn kín dấu vết của thời gian. Tuổi cao khiến ông chỉ còn đảm nhận những việc nhẹ như vá xe, rút căm, chỉnh niềng… Những công việc nặng hơn, được giao lại cho người con trai.

Ông nói rất ít. Nhưng mỗi chiếc xe rời khỏi tiệm đều được ông gửi kèm theo một chút quan tâm. Khách của ông phần lớn là học sinh. Sau khi vá xong chiếc ruột xe, ông ít khi trao xe ngay. Ông thường kiểm tra lại thắng, ghi-đông, yên xe, pedal, dây sên... Chỗ nào lỏng thì siết lại, chỗ nào lệch thì chỉnh ngay. Ông chưa bao giờ tính thêm tiền. Có lẽ ông nghĩ rằng, nếu chỉ mất thêm ít phút để một đứa trẻ đến trường an toàn, thì vài phút ấy giá trị hơn bất kỳ đồng tiền công nào.

Một ngày đầu thập niên 1980s, khi đến tiệm để sửa chiếc xe đạp, tôi tình cờ chứng kiến một câu chuyện mà đến nay vẫn không hề quên.

Một em học trò dắt chiếc xe đạp đến để vá bánh trước. Quan sát kỹ, ông Hai thấy chiếc vỏ đã mòn đến rách tươm, phải lót thêm vài miếng cao su đệm bên trong. Đi như vậy không an toàn và rất dễ nổ bánh giữa đường.

Vào cái thời bao cấp đầy truân chuyên ấy, thay một chiếc vỏ xe mới là điều vượt quá khả năng của nhiều gia đình.

Ông nhẹ nhàng hỏi chuyện. Biết hoàn cảnh của em rất khó khăn, ông nói:

"Cháu đi chiếc vỏ này nguy hiểm lắm. Để ông tìm cho cháu cái khác."

Rồi ông chậm rãi đứng dậy, lui cui bước vào căn nhà phía sau, lục lọi một hồi rồi tìm được một chiếc vỏ xe cũ còn tạm dùng được, thay cho cháu và căn dặn:

“Chiếc vỏ xe này còn dùng tạm được một thời gian. Sau này nếu mòn nữa thì cứ mang đến đây. Ông sẽ tìm đổi cho cái khác. Đừng ngại. Ông không lấy tiền đâu. Chỉ cần cháu đi cho an toàn.”

Em học trò nhỏ lí nhí cảm ơn. Ông chỉ cười. Một nụ cười hiền như chính con người ông.

Có lẽ em học trò hôm ấy không biết rằng mình vừa nhận được một món quà còn lớn hơn rất nhiều một chiếc vỏ xe cũ. Đó là lòng tốt.

Nhiều năm đã trôi qua, hình ảnh người thợ già lặng lẽ bên những chiếc xe đạp vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức tôi. Ông không giảng giải về lòng nhân ái, cũng không nói những điều cao siêu. Ông chỉ sống tử tế, ngày này qua ngày khác, bằng chính đôi bàn tay đã chai sần vì năm tháng của mình.

Mỗi khi nhớ về ông Hai của tiệm sửa xe Hoà Bình, tôi lại nghiệm ra một điều.

Có những người cả đời không làm việc lớn lao. Họ chỉ lặng lẽ đặt một chiếc bơm miễn phí trước cửa, vá một chiếc ruột xe, chỉnh lại cây căm, thay giúp ai đó một chiếc vỏ xe cũ...

Nhưng chính những điều tưởng chừng như nhỏ nhặt ấy đã âm thầm gìn giữ niềm tin giữa con người với con người. Để những đứa học trò nhỏ năm nào khi lớn lên, vẫn tin rằng lòng tốt là điều có thật và không phải là điều hiếm gặp. Chỉ là nó thường chọn cách hiện hữu một cách âm thầm và lặng lẽ.

Giờ đây ông Hai cũng đã đi xa. Năm tháng rồi sẽ xóa mờ những con đường, những mái nhà, cả những tiệm sửa xe cũ.

Chỉ có điều tử tế là không bao giờ cũ. Nó lặng lẽ sống mãi trong ký ức của những người từng được nó chạm tới.

 HIEP PHAN.

 


Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

Hồi ức : CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ - Xuân Lan.

 




CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ ! 

Năm 1968 đoàn hát tại Quảng Ngãi ! Khán giả rất yêu mến chúng tôi nên đêm nào cũng đông ! Tôi được hát các vai đào nhì và kiêm luôn ca màn phụ diễn tân nhạc ! 

Câu chuyện bắt đầu từ một cô bé khoảng 12 tuổi ! Mình ko nhớ tên nó chỉ gọi là con NHỎ ẴM EM ! Nhỏ hay ẵm em lẩn quẩn vào rạp hát và đôi khi vô hậu trường chơi … Ko ai nói gì vì nhỏ cũng dễ thương vui vẻ ! Nhiều khi mình nhờ công việc lặt vặt nhỏ cũng giúp ! 

Một bữa NHỎ ẴM EM lại gần mình nói nhỏ … Chị ơi anh của em muốn làm quen với chị … ảnh mến mộ chị ca nhạc ảnh muốn mời chị sáng mai uống nước 

Tôi ngập ngừng .. thôi chị ngại lắm đi uống nước trong đoàn thấy ! Ko được ! 

NHỎ ẲM EM thuyết phục mãi …

Tôi đành nói thôi chị đi với Tuyết ( nhỏ bạn thân) mà đi gần gần ! Qua tiệm Hủ tiếu trước cửa rạp nhe ? 

Nhỏ có vẻ mừng lắm dạ được ! Sáng mai nha chị ! Em về báo tin ảnh biết ! 

Phần mình đi tìm Tuyết ! Tuyết ơi có người mời hai đứa mai qua tiệm Hủ tiếu bên kia đường ăn sáng ! 

Tuyết vui vẻ : Vậy hả ? Nhưng tao đi thì phải dẫn em tao theo á ! 

Tôi trả lời : Em mày đi ko lẽ bỏ em tao ở nhà ? Thôi cho 2 đứa đi luôn ! 

Vậy là buổi hẹn hò của Anh con NHỎ ẴM EM thành ..7 người ! Vì ngoài Tôi và Tuyết  là 4 người , NHỎ ẲM EM là 2 và Anh ấy  nữa là 7 !!!! 

Sáng hôm ấy chúng tôi qua tiệm trước ! Anh chàng bước vào trong bộ quân phục rất chỉnh tề ! NHỎ ẴM EM giới thiệu chị đây là Anh của em .. Tôi  hơi mắc cỡ … dạ chào anh ! 

Anh có vẻ hơi lúng túng và nhút nhát sao  sao ấy ! Các em ăn gì kêu đi ! Anh ngồi xuống đầu bàn khá xa tôi ! 

Tụi nhỏ bắt đầu nhao nhao … 

Tô hoành thánh mì đi ! 

Tui Hủ tiếu khô thập cẩm nghen 

Tui ăn hủ tiếu mì  …. Vv và vv . 

Tôi và Tuyết cũng kêu và bên kia NHỎ ẴM EM cũng ko vừa gì cũng vừa ăn vừa đút cho em ăn 

Ông chủ người Hoa tất bật lo nấu  phục vụ cho kịp !!!! Hình như mọi người đều quan tâm ăn uống và quên mất mục đích buổi gặp gỡ hôm nay 

10 phút sau mấy đứa tôi ăn xong tôi mới phát hiện một sự thật kinh hoàng ! 

Chủ nhân buổi tiệc này đã biến mất ! 

Và một nhân vật nữa ko kém phần quan trọng là NHỎ ẴM EM cũng mất tiêu rồi ! 

Tôi nhìn Tuyết : Vậy là sao ????

Tuyết nói : Tao hỏng biết !! 

Hai đứa em của tôi và Tuyết cùng đứng lên … Thôi tụi em dìa rạp ! ( biến ) 

Tôi hỏi Tuyết : Giờ sao ? 

Tuyết nhún vai  : Dễ thôi , hai đứa mình cưa hai ! Giờ xin ông chủ thiếu lát về rạp hát lấy tiền qua trả ! 

Tôi nói …. Ok vậy cũng được ! À mà sao anh đó chưa ăn mà bỏ đi đâu ? Cái tô còn nguyên kìa ! 

Lúc này Tuyết mới nhìn thấy cuối bàn một tô mì xá xíu còn nguyên chưa ăn tới nó liền bảo tôi … 

Hai đứa cùng chi trả chầu này thì còn tô mì này mình cưa đôi luôn cho đều đúng ko ? 

Đúng rồi ! Hai đứa ăn luôn đi để lại làm gì ! Chia luôn !kkkk

Khi hai đứa tôi vừa cầm đủa đưa vắt mì vô miệng thì …… ngoài sân bước vô là ..

Chàng đã xuất hiện ! Ui là trời !

Tôi đứng hình luôn ! Anh thì vui vẻ kêu ông chủ tính tiền đi ! 

Anh quay qua tôi cười  vả lả … mấy em ăn hết đi anh có việc bận lắm anh phải đi ngay nha ! Chào em ! 

Tôi ko biết cảm giác mình lúc đó ra sao ? Cái gì vừa xảy ra ở đây trong buổi sáng nay ? Mọi việc đưa đẩy câu chuyện hẹn hò đầu tiên của tôi và một cái kết thật kỳ cục ! Mà bây giờ nhớ lại vẫn còn xấu hổ ! 

Tối đêm đó NHỎ ẴM EM lại bồng em xuất hiện ! Nó nói nhỏ bên tai tôi ! Hồi  sáng anh của em đi cầm cái áo !!!!

Trời ! Vậy là sao ?

NGUYỄN THỊ XUÂN LAN ( FB )

Thơ: BÊN BỜ KÝ ỨC CŨ - Hong Khuu.

 



BÊN BỜ KÝ ỨC CŨ

_Tìm Một Chữ Quên_

Ta cúi xuống nhặt mùa xuân rất cũ

Từng cánh vàng héo rũ lối thời gian

Bình minh đây sao nắng đã úa tàn?        

Trên bến vắng con đò ngang vẫn đợi...


Quay nhìn lại lối xưa xa vời vợi

Đoạn không nhau tiếp nối mãi mùa Đông

Ngày trôi qua hư ảo cứ chất chồng

Vùng xưa cũ giờ rêu phong hoang phế


Mảnh tâm tư nông nổi buồn rướm lệ

Ướt đẫm rồi hồ dễ ráo được chăng

Đôi chân trần dù đi ngược ngàn năm 

Không làm ngắn khoảng thời gian đã mất


Lời ta gọi vang rền trên mặt đất

Xé hư không đánh thức cả muôn loài

Không làm sao gọi dậy được một người

Nằm yên giấc mặc cho đời ấm lạnh


Tay run rẩy ly rượu sầu sóng sánh

Uống mềm môi...giữ ảo ảnh đừng trôi

Trên đầu ta nghe sấm nổ vang trời

Như tiễn biệt một người vào xa khuất


Tuổi thanh xuân mang đoá tình hương sắc

Theo chân người đã lịm tắt từ lâu  

Đợi chờ chi dẫu có phải mưa Ngâu

Còn ai đứng ở giữa cầu Ô Thước?

HONG KHUU.

24/06/2026

Truyện ngắn : CÁNH CỔNG SAU - Tim Nguyen.

 



CÁNH CỔNG SAU

(Truyện viết theo lời kể của nội tôi về xã hội miền Tây dưới thời Pháp thuộc. Chuyện khá dài, xin các bạn chịu khó đọc) 

Hồi đó, cái thời miền Tây Nam Bộ chưa ai thật sự là chủ mảnh đất màu mỡ này. Cuối thế kỷ 19, luồng di cư của người Việt từ các vùng đông dân ở miền đông hoặc từ miền trung về khai khẩn diễn ra liên tục, trong đó có dòng họ của ông hội đồng Hanh. Nhờ thân Pháp nên ông tiến thân và giàu có nhanh như nước lũ tháng tám.

Nhà ông hội đồng Hanh là một cõi riêng biệt, uy nghi mà lạnh lẽo. Ngôi nhà bảy gian lợp ngói âm dương nằm chễm chệ giữa đất Đồng Tháp Mười, cột gỗ căm xe sậm màu thời gian, bóng loáng nhờ mồ hôi của những đời người ở đợ lau chùi. Nền gạch tàu màu đỏ gạch, lúc nào cũng tỏa ra cái hơi mát lạnh đến rợn da gà. Ruộng đất nhà ông trải dài tới tận Gò Tháp, mùa gặt lúa chất thành đống cao ngất, nhìn như một dãy núi nhỏ chưa bao giờ biết cạn. Cái giàu của ông Hội đồng không làm người ta ngại bằng cái uy của ông, cái dựa dẫm với thực dân. Một cái hắng giọng của ông giữa sân cũng đủ làm đám tá điền đang xôn xao phải im phăng phắc, cúi đầu sát đất.

Nhưng trong cái nhà lẫm liệt đó, thứ khiến người ta sợ nhất không phải là ông, mà là Bà Lớn. Bà ít nói, bước chân đi trên nền gạch tàu không phát ra tiếng động, chỉ có tiếng chuỗi hạt mân côi bằng gỗ mun va vào nhau lách cách bên sườn. Mỗi lần bà đi ngang qua gian bếp hay dãy nhà kho, đám gia nhân đều nín thở, không ai dám ngước mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt thản nhiên như mặt nước giếng của bà. Mọi thứ trong nhà, từ vị trí cái cối xay lúa đến bữa ăn đúng giờ đúng khắc, đều có chỗ của nó. Lệ trong nhà không thành lời, nhưng ai cũng thuộc lòng như cháo lỏng, bởi cái giá của việc quên luật lệ thường là những lằn roi mây lạnh lùng.

Bà Nhỏ về sau, 20 tuổi xuân, hiến thân cho ông hội đồng người bằng tuổi cha tuổi mẹ. Người bà mảnh khảnh, nước da trắng xanh xao như bông bưởi bị ngấm mưa lâu ngày, tuổi đời còn trẻ măng mà vướng vào “vòng lao lý”. Người ta xầm xì nói bà về đây không phải vì ham cảnh giàu sang, mà vì cái nợ của cha mẹ bà quá tải nên phải bán thân vì hiếu. 

Cái cách bà đi đứng trong nhà lúc nào cũng như có một sợi dây vô hình níu lại phía sau, ngập ngừng và lạc lõng. Những buổi chiều tà, khi nắng đã nhạt màu trên những tàu dừa, bà thường đứng ở hàng hiên, đôi mắt buồn thâm trầm nhìn về cuối sông, nơi cha mẹ bà còn ở thuê trên mảnh đất của ông hội đồng. Bà đứng lâu lắm, đứng cho đến khi bóng nắng nghiêng hẳn qua một bên sân, chim chóc đã về tổ hết, bà vẫn chưa chịu quay vô cái gian buồng nồng mùi trầm hương ấy.

Trong cái guồng quay khắc nghiệt của nhà ông Hội đồng, có một thằng nhỏ tên Bím. Nó không thuộc về ai, cũng không ai nhận nó là người thân thuộc. Cha mẹ nó nghèo quá, bán nó đi từ lúc nó còn chưa kịp nhớ mặt chữ. Từ đó, nó ngủ cạnh chuồng bò trên một mớ rơm rạ khô khốc, ăn sau, làm trước hơn mọi người. Mỗi ngày của nó bắt đầu khi sương còn đọng trên cỏ, dắt đôi bò ra đồng, cắt cỏ, tắm bò dưới bến sông, rồi dọn dẹp đống phân nồng nặc. Công việc cứ lặp đi lặp lại như con nước ròng, không cần trí nhớ, không cần cảm xúc.

Mười ba tuổi, cái lưng của Bím đã quen với tư thế cúi gập. Có những ngày nắng đứng bóng, mồ hôi chảy thành dòng cay sè con mắt, lưng áo sờn rách dính chặt vào da thịt thịt đỏ ửng. Có những ngày mưa dầm, bùn sình đóng cục tới đầu gối, chân nó nứt nẻ vì ngâm nước quá lâu. Nhưng cái mệt mỏi thể xác đó không đáng kể gì bằng những lúc trễ nải công việc. Bà Lớn không bao giờ hỏi han hay mắng mỏ dài dòng. Bà chỉ cần nhìn sang lão quản gia, háy mắt là roi mây quất xuống. Tiếng roi xé gió, gọn ghẽ và lạnh buốt.

Trong ngôi nhà này, lý do không dùng để giải thích, lý do chỉ là cái cớ để hợp thức hóa một sự trừng phạt đã sẵn có trong lòng người cầm quyền. Bím không bao giờ khóc. Không phải nó gan lì, mà vì nó thấy nước mắt chẳng có chỗ nào để đặt vào giữa cái sân gạch lạnh lẽo này. Nó nuốt cái đau vào trong, đêm về lại nằm nghe tiếng bò nhai cỏ chậm rãi, đều đặn, tìm thấy sự an ủi duy nhất từ hơi thở phì phò của cặp bò sừng đắt giá mà ông chủ mua từ Indo.

Một đêm trăng mờ, Bím đang loay hoay sửa lại cái vách chuồng bò bị gió lùa thì nghe tiếng gọi rất khẽ. Tiếng gọi chỉ đủ để người cần nghe thấy, nhẹ như tiếng lá rụng trên sân. Nó quay lại, thấy Bà Nhỏ đang đứng dưới bóng cau, tà áo bà ba trắng mờ ảo trong đêm. Ánh đèn dầu từ gian nhà chính hắt ra yếu ớt, đủ để nó thấy tay bà đang cầm một gói lá chuối nhỏ. Bà đặt gói đồ xuống cái bệ đá, không nói nửa lời, rồi lẳng lặng quay bước đi. Bím mở gói lá, hơi ấm của cơm trắng và mùi thơm của cá kho tộ xộc lên mũi. Cơm vẫn còn ấm, cái ấm của lòng người mà lần đầu tiên nó được chạm tới.

Từ đó về sau, thỉnh thoảng những gói nhỏ như vậy lại xuất hiện trên bệ đá. Không hẹn trước, không dặn dò, chỉ là có. Giữa hai con người cô độc ấy không bao giờ có lấy một câu đối thoại, chỉ có những khoảnh khắc rất ngắn vừa đủ để Bím biết rằng, trong cái nhà rộng thênh thang và lạnh lẽo này, vẫn còn một đốm lửa nhỏ đang nhen nhóm đâu đó.

Những buổi chiều dắt bò về ngang sân, Bím lén nhìn lên hàng hiên. Bà Nhỏ vẫn đứng đó, nhưng ánh mắt bà không đặt vào nó, cũng không đặt vào bất cứ thứ gì cụ thể. Bà nhìn xuyên qua những rặng dừa, xuyên qua cả cánh đồng lúa đang thì con gái, nhìn về một nơi nào đó xa thẳm không có tên trên bản đồ đất này. Bím hiểu, bà cũng như nó, đang sống bằng một phần linh hồn đã gửi lại phía sau hoặc gửi đi nơi khác.

Rồi cái ngày gánh sơn đông mãi võ ghé chợ làng cũng đến, làm xáo động cái không khí tù đọng của vùng quê nghèo. Tiếng trống chầu thúc liên hồi, tiếng người gọi nhau í ới tạo nên một thứ âm thanh náo nhiệt lạ lẫm. Đám đông tụ lại thành một vòng tròn lớn quanh gánh hát. Ở giữa, những thân hình lực lưỡng trần trùng trục đang biểu diễn những động tác mạnh mẽ, lửa bùng lên đỏ rực giữa ban ngày rồi tắt ngấm trong tiếng vỗ tay rào rào. Một con khỉ nhỏ mặc chiếc áo đỏ sặc sỡ chạy vòng quanh làm trò, lanh chanh và tội nghiệp.

Giữa cái náo nhiệt xô bồ đó, bỗng nhiên có một khoảng lặng kỳ lạ khi một con nhỏ bước ra. Nó tên Cúc Hương cũng trạng tuổi Bím. Đôi mắt nó sáng lấp lánh như sao trời, nụ cười má lúm nhẹ tênh, không chút gượng gạo dù đang đứng trước bao nhiêu cặp mắt tò mò. Nó không biểu diễn gì cao siêu, chỉ đứng đó quay một vòng rồi chào khán giả, nhưng cái cách nó đứng giữa đám đông ngẩng cao đầu, không né tránh, không co rụt lại như những kẻ làm thân trâu ngựa đã làm Bím chết lặng.

Tiếng trống dồn lên, người ta quây lại thành một vòng tròn bụi đất. Một ông già mình trần lộn người gọn ghẽ. Mấy thanh niên xông ra, gậy quét vun vút, dao lóe sát cổ. Rồi đến màn nặng nhất: tảng đá đặt lên ngực, búa giáng xuống “cốp!” đá vỡ, người bật dậy, đám đông vỗ tay không ngớt.

Tiền lẻ rơi lách cách vào chiếc nia. Màn diễn vừa dứt, chưa kịp tan người, ông già đã đổi giọng, rao sang chuyện khác. Một tấm vải trải ra, bày vài chai thuốc lạ, vài gói bột vàng vàng. “Thuốc gia truyền, trị đau nhức, trúng gió, uống là dứt.” Nói rồi quay qua cái ghế thấp đặt sẵn bên cạnh. “Ai đau răng, nhổ không đau.” Một người đàn bà rụt rè ngồi xuống. Ông cúi đầu làm nhanh, dứt khoát. Người đàn bà còn chưa kịp nhăn mặt, chiếc răng đã nằm gọn trong tay. Đám đông lại xôn xao. Có người tin, có người nghi. Còn họ vẫn tiếp tục. Như thể đó mới là phần chính của một cuộc mưu sinh.

Bím đứng ngoài rìa đám đông, không chen vào, chỉ lặng lẽ nhìn qua kẽ hở. Nó không biết mình đang nhìn màn võ thuật gươm bay gậy múa hay nhổ răng không đau nhưng chắc chắn nó nhìn Cúc Hương. Sau buổi diễn, khi đám đông đã tan dần, Bím vẫn đứng chôn chân một chỗ. Cúc Hương lại gần, hỏi nó vài câu bâng quơ bằng chất giọng nhẹ nhàng, nhanh nhảu của người đi đây đi đó nhiều. Những câu nói qua lại chẳng giữ lại được gì cụ thể, nhưng có một điều đã ở lại mãi trong lòng thằng bé chăn bò: Một cảm giác mới lạ, như có cái gì đó trong người nó vốn đã ngủ yên từ lâu nay bỗng cựa mình thức dậy.

Những ngày sau đó, gánh hát vẫn còn nán lại chợ. Bím tìm mọi cách để ra chợ nhiều hơn, không phải để xem biểu diễn, mà để được đứng ở cái góc cũ, nhìn vào cái khoảng không gian mà Cúc Hương hay đứng. Nó thấy mình bắt đầu biết hy vọng, một thứ hy vọng mỏng manh như tơ trời nhưng lại đủ sức kéo nó ra khỏi nỗi ám ảnh của roi mây.

Nhưng cuộc đời không bao giờ êm đềm như một giấc chiêm bao. Một buổi tối trời đổ mưa tầm tã, sấm chớp rạch ngang bầu trời đen kịt, một con bò của ông Hội đồng bị sổng chuồng mất tích. Bím hốt hoảng lao mình vào màn mưa, chạy khắp các ngõ ngách, đôi chân lún sâu trong bùn lầy dính chặt. Nó đi tới khi không còn phân biệt được đâu là đường, đâu là ruộng, chỉ có tiếng mưa quất vào mặt rát rạt. Khi nó dắt được con bò trở về sân nhà, trời đã về khuya, ngôi nhà bảy gian chìm trong bóng tối im lìm. 

Bà Lớn đã chờ sẵn ở cửa, không cần một câu hỏi han, không cần nghe giải thích. Roi mây lại quất xuống, nhưng lần này đòn đánh nối nhau dồn dập, đều đặn và tàn nhẫn như một việc phải làm cho xong để giữ lấy cái uy nghiêm của dòng tộc. Đến khi Bím ngã quỵ xuống nền gạch tàu lạnh ngắt, hơi thở yếu ớt, bà mới dừng tay, quay lưng đi vào trong không một lần ngoái lại.

Đêm đó, Bím nằm co quắp sát chuồng bò. Mưa tạt vào từ những khe hở của vách lá, cái lạnh thấm dần vào tận xương tủy, vào những vết thương đang rỉ máu trên lưng. Nó không ngủ được, cơn đau hành hạ cả thể xác lẫn tâm hồn.

Trong gian nhà chính, ngọn đèn dầu hắt thứ ánh sáng vàng úa, lay lắt như hơi thở cuối của một ngày dài. Bà Nhỏ ngồi thẳng lưng, hai tay đặt lên đầu gối, bất động như một pho tượng đã quen với im lặng. Trên bàn, chuỗi trầm còn vương khói, sợi khói mảnh như một ý nghĩ chưa kịp thành lời, bay lên rồi tan vào bóng tối đặc quánh. Bà không lần chuỗi, cũng không nhìn vào đâu, ánh mắt như mắc lại ở một nơi rất xa, vượt qua bức vách, qua hàng cau, qua cánh đồng đang chìm trong mưa đêm.

Tiếng roi khi nãy vẫn còn vướng trong tai, mỗi một tiếng quất xuống đều gọn và lạnh, không chừa chỗ cho lòng người chen vào. Bà đã nghe thứ âm thanh đó từ ngày bước chân vào căn nhà này, nghe riết thành quen, quen đến mức tưởng như mình cũng đã hóa đá theo. Vậy mà đêm nay, không hiểu sao, nó không trôi qua được, cứ ở lại, cứ gõ vào một chỗ sâu kín trong lòng bà mà bấy lâu nay bà cố quên.

Bà cúi xuống, mở cái hộc nhỏ dưới bàn, bên trong là mấy đồng tiền lẻ được buộc trong một mảnh vải cũ, thứ bà để dành như người ta giữ lại một chút gì đó cho riêng mình, dù biết có khi cả đời cũng không dùng tới. Bà cầm lên, nhưng bàn tay dừng lại giữa chừng, như bị níu bởi một điều không gọi thành tên. Ngoài kia, gió quất mạnh hơn, một cánh cửa đâu đó đập vào vách, lặp đi lặp lại, khô khốc như nhắc rằng đời người có những thứ nếu không đóng lại thì sẽ mãi kẽo kẹt trong lòng.

Bà ngồi yên rất lâu, và trong cái im lặng đó, có một thứ từ từ nổi lên, không phải thương hại mà là nhận ra. Nhận ra cái bóng của chính mình ngày trước, cũng đứng ở một ngưỡng cửa, cũng không có quyền chọn, cũng bị đẩy đi như một món nợ phải trả, chỉ khác là ngày đó không có ai cho bà một con đường khác. Bây giờ Bím cần một con đường, bà biết con đường đó ở đâu. Người ta vẫn nghĩ nỗi đau nào rồi cũng qua, nhưng có những nỗi đau không đi đâu cả, nó chỉ nằm lại trong người mình, chờ một lúc nào đó đủ đầy để trỗi dậy, như nước ròng rồi cũng tới lúc nước lớn.

Bàn tay bà siết chặt mảnh vải, và lần đầu tiên trong nhiều năm, bà thấy mình đứng trước một lựa chọn, một thứ tưởng như chỉ dành cho những người còn trẻ, còn quyền sai, quyền sửa. Bà biết rõ, nếu bước ra ngoài, mọi thứ sẽ không còn yên, vì trong căn nhà này, mỗi con người đều được đặt đúng chỗ của nó, và những gì đi lệch khỏi chỗ thì sớm muộn gì cũng bị kéo về, bằng cách này hay cách khác. Chỉ cần quay mặt đi, sáng mai mọi thứ sẽ trở lại như cũ, thằng nhỏ vẫn dậy sớm, vẫn dắt bò, vẫn cúi đầu, những lằn roi rồi cũng sẽ khô, còn căn nhà này vẫn đứng đó, vững như chưa từng có gì xảy ra.

Nhưng bà cũng hiểu, nếu quay mặt đi, có một thứ sẽ chết hẳn, không phải thằng nhỏ, mà là phần người còn sót lại trong bà.

Bà đứng dậy, một động tác nhẹ nhưng như làm đứt một sợi dây đã căng quá lâu. Bà lấy thêm một gói cơm còn ấm trong bếp, không gọi ai, không nhìn ai, chỉ lặng lẽ đi ra phía sau, nơi chuồng bò tối om. Mưa tạt vào mặt, lạnh buốt, nhưng cái lạnh ấy không làm bà chùn bước, vì có những lúc người ta không còn đi bằng cảm giác nữa, mà đi bằng một thứ sâu hơn, giống như bản năng của một phần người chưa chịu chết.

Bà dừng lại ở cửa chuồng bò, và trong khoảnh khắc rất ngắn, bà biết mình vẫn còn đường quay lại, chỉ cần quay lưng là mọi chuyện coi như chưa từng xảy ra, bà vẫn là bà Nhỏ của căn nhà này, im lặng, đúng chỗ, không gây sóng gió. Nhưng chân bà không quay. Bà bước vào, cúi xuống đặt gói cơm và mảnh vải với xấp tiền gói kỹ xuống nền đất ướt, động tác chậm mà dứt, như người ta đặt xuống một món nợ đã mang theo quá lâu, nay phải trả.

Bím cựa mình, ánh mắt hai người chạm nhau trong một thoáng ngắn ngủi, nhưng đủ để hiểu. Không có lời nào được nói ra, vì có những thứ nếu nói thành lời thì sẽ nhẹ đi, mà cái đêm này cần giữ lại cái nặng của nó. Trong ánh nhìn đó không có ban ơn, không có thương hại, chỉ có một sự trao lại, như người đi trước trả lại cho người đi sau một cơ hội mà mình đã không có.

Bà đứng thêm một nhịp rồi quay đi, không dặn dò, không hứa hẹn,  không vội, cũng không chần chừ, bóng bà lẫn vào màn đêm, mỏng dần rồi mất hẳn, như thể chưa từng có mặt ở đó. Phía sau, chỉ còn tiếng mưa và một thằng nhỏ đang run run cầm lấy thứ lần đầu tiên trong đời nó biết có thể mở ra một lối khác.

Đêm đó, trong căn nhà bảy gian, không ai biết một thứ lệ đã bị phá, và cũng không ai biết, có một người đã lặng lẽ bước ra khỏi cái vòng đời mà mình tưởng không bao giờ thoát được.

Bím ôm chặt bọc cơm và gói tiền vào ngực, đứng lặng thật lâu trước khi bước ra khỏi chuồng bò. Mưa tạt vào mặt lạnh buốt, nhưng cái lạnh ấy không đáng sợ bằng nỗi ám ảnh phải ở lại. Nó nhìn về phía cổng sau, cánh cổng gỗ cũ kỹ bám đầy rêu phong, nay hé ra một khe nhỏ như hơi thở yếu ớt của tự do.

Bím bước đi, mỗi bước đều đau đớn nhưng không hề dừng lại. Bởi nó hiểu rằng: có những lúc, lối cổng chính thênh thang chỉ đầy rẫy cạm bẫy, còn con đường mòn nhỏ hẹp tuy trắc trở, nhưng lại là lối duy nhất dẫn về phía ánh sáng.

Ra đến bờ rào, nó quay đầu nhìn lại căn nhà bảy gian lần cuối, nơi đã giữ nó lại bằng roi vọt và thói quen. Căn nhà im lìm như một khối đá đã quen nuốt tiếng khóc của người khác, không có tiếng gọi, không ai chạy theo, không gì níu nó lại ngoài cái quen của một đời bị sai khiến.

Nó bước ra con đường đất dẫn ra cánh đồng, mưa trắng xóa, gió quất nghiêng những bụi cỏ ven đường, nó đi trong cái lạnh ấy, nhỏ bé như một dấu chấm lạc giữa trang đời rộng lớn. Nó không biết mình sẽ đi đâu, cũng không biết ngoài kia có gì chờ, chỉ biết phía sau là một cánh cửa đã xa dần, và đêm nay, lần đầu tiên nó không còn đứng bên trong.

***

Sau cái lách người qua khe cửa định mệnh ấy, Bím bỗng thấy mình nhỏ bé và đơn độc giữa đất trời mênh mông. Giữa cơn quẫn trí, khi đôi chân rã rời không biết đi đâu về đâu, trong đầu nó chợt lóe lên hình ảnh gánh hát Sơn Đông và khuôn mặt hiền hậu của con Cúc Hương.

Có lẽ, giữa lúc cuộc đời hắt hủi mình, chỉ có những thân phận trôi dạt, rách rưới như gánh hát ấy mới đủ bao dung để che chở cho nó. Đó không chỉ là một lối đi, mà là niềm hy vọng duy nhất nảy mầm từ đường cùng.

Đêm ấy, Bím nằm co quắp ngoài đồng vắng, lấy đất làm giường, lấy màn mưa làm chiếu để chờ trời sáng...

Gánh hát rời chợ vào sáng sớm hôm sau, và Bím đã đứng đợi sẵn ở đầu làng. Không ai hỏi nó từ đâu tới, cũng chẳng ai cần biết nó là ai. Họ đón nhận nó như cách người quê đón một đứa nhỏ lạc đường: thấy tội thì cho theo, thấy siêng thì thương.

Gánh hát lên đường, mang theo Bím mà không ai hỏi han hay cần biết thêm điều gì. Ở cái đời này, người ta chỉ quan tâm đến việc có thêm một đôi tay biết làm không lương, vậy là đủ.

Ban đầu, Bím đảm nhiệm những việc lặt vặt nhất: dọn đồ, kéo dây, nhóm lửa, bưng nước, những công việc tuy không tên nhưng lại thiết yếu cho cả đoàn. Đêm về, Bím nằm cạnh đống đạo cụ, lắng nghe tiếng người trong đoàn cười nói, chửi thề, bàn chuyện mai đây sẽ đi đâu. Những âm thanh rời rạc ấy lại mang một hơi ấm khác hẳn cái im lặng cứng nhắc như đá ở nhà ông Hội đồng.

Cúc Hương vẫn vậy, đi đến đâu cũng nhẹ tênh, cô bé cười nói rồi quên ngay, nhưng ánh mắt nhìn người khác thì không ai có thể quên được nhìn thẳng, không né tránh. Có lúc Cúc Hương đưa cho Bím một trái ổi, nói đại một câu gì đó rồi chạy đi mất, Bím không nhớ câu nói, chỉ nhớ cách cô bé đưa ổi, thật tự nhiên, như thể việc đó vốn dĩ phải thế.

Dần dà, Bím bắt đầu được tập, ban đầu chỉ là giữ dây, rồi phụ những màn đơn giản như té ngã, lăn, nằm để ông võ sư đập tản đá trên bụng trong tiếng reo hò thán phục. Dù những động tác còn vụng về, nhưng mỗi lần đứng dậy, trong người Bím lại nhẹ đi một chút, và cái lưng quen cúi nay cũng bắt đầu biết thẳng.

Đời gánh hát không phải lúc nào cũng đông khách, có bữa diễn trước vài chục người, có bữa chỉ lác đác vài đứa nhỏ xem rồi bỏ đi giữa chừng, thậm chí có bữa trời mưa, lửa tắt, cả đoàn đành co ro chờ cho cơn mưa qua. Thế nhưng, ở đây không có roi vọt, không có những ánh nhìn lạnh lẽo, chỉ có cái đói, cái mệt mà hai thứ ấy, Bím đã quá quen rồi.

Những lúc nghỉ chân bên sông, Cúc Hương thường ngồi một mình, ít nói, chỉ lặng lẽ nhìn dòng nước. Bím ngồi cách đó một khoảng, không lại gần, không gọi, nhưng đôi khi, khoảng cách giữa hai đứa tự nhiên ngắn lại, như thể con nước ròng kéo hai bờ lại với nhau. Có bữa, chiều tà buông, họ ngồi cạnh nhau từ lúc nào không hay, không nói một lời nào, chỉ nghe tiếng nước vỗ. Cái im lặng ấy, không hề nặng nề."

Ba năm trôi qua như một cái chớp mắt của con nước lớn. Gánh hát đi qua không biết bao nhiêu làng mạc, từ những vùng trù phú đến những nơi khỉ ho cò gáy. Đám đông lúc đông lúc thưa, có người tin vào những phương thuốc gia truyền, có người lại lắc đầu ngán ngẩm sau khi xem những màn biểu diễn đã cũ.

Một buổi sáng nọ, khi sương mù còn bao phủ mặt sông, ông bầu gánh bỗng nhiên biến mất không một lời từ biệt, mang theo toàn bộ vốn liếng ít ỏi của đoàn. Gánh hát rơi vào cảnh hỗn loạn rồi nhanh chóng tan rã như một cái bóng trên tường khi đèn tắt. Mỗi người đi một ngả, không ai giữ chân ai, bởi ai cũng bận lo cho cái bụng của mình trước nhất.

Sau bao thăng trầm dâu bể. Bím, thằng bé chăn bò ngày xưa, giờ phiêu dạt cùng dòng nước, tay chai sạn vì mưu sinh. Dẫu nghèo vẫn nghèo, nhưng ít ra, roi vọt đã xa, chỉ còn nỗi nhớ dai dẳng về tiếng bò, mùi rơm, và gói cơm ấm nóng của một đêm mưa.

Rồi một chiều, Bím ngồi bên bờ sông, nhìn dòng nước đỏ ngầu chảy xiết như đang cuốn đi cả những điều nó chưa kịp gọi tên. Cúc Hương lặng lẽ ngồi xuống cạnh bên. Nó im lặng rất lâu, rồi bất chợt nói: “Hay mình đi Cà Mau đi Bím… dưới đó nghe nói đất rộng, rừng nhiều, người ta dễ sống hơn.”

Giọng nó nhẹ tênh, như thể đang kể một chuyện không phải của chính mình. Nó nói về một vùng đất hứa, nơi có rừng đước, rừng tràm còn hoang sơ, nơi người ta chỉ cần chịu khó là sống được. Nhưng trong mắt nó vẫn có chút ngập ngừng bởi chính nó cũng chưa từng đặt chân đến đó bao giờ. Nó chỉ nghe người ta đồn, rồi gom góp thành một giấc mơ để tự an ủi mình.

Bím không hỏi gì. Nó chỉ nhìn dòng nước trôi, như thể dòng sông đang mời nó trôi theo về một phương trời vô định.

Hai hôm sau, hai đứa bắt đầu cuộc hành trình vô định, chúng đi theo con đường không biết điểm đến. Cứ thế mà đi. Không bản đồ, không hẹn trước, chỉ biết hướng về phía có nhiều rừng dừa nước dẫn ra biển. Con đường dài hun hút, đất mềm lún dưới chân. Có khi phải lội qua những đoạn nước ngang lưng, có khi lại ngủ dưới gốc cây, nghe tiếng muỗi vo ve suốt đêm. Đói thì xin ăn ở những xóm ven sông, mệt thì ngồi xuống nghỉ.

Sau này, có người đồn rằng thấy hai đứa đi sâu vào rừng U Minh; có người bảo chúng lạc trong một con rạch; lại có người kể rằng chúng đã dựng được một cái chòi nhỏ, sống bằng cá và củ rừng. Chẳng ai biết chắc chuyện gì đã xảy ra với Bím và Cúc Hương.

Rồi một hôm, đài radio vang lên tin thực dân Pháp thua trận, chạy về mẫu quốc. Chính quyền sụp đổ kéo theo gia đình ông hội đồng Hanh. Căn nhà lớn biến thành công sản, người ở được giải thoát. Bà Hai cũng trôi dạt đâu mất, không ai biết.

*****

Một ngày gần tết Nguyên Đán người ta thấy Bím trở lại làng xưa với Cúc Hương và 1 bé gái giống mẹ với đôi mắt to và sáng. Bây giờ Bím là một anh trai cường tráng trên một chiếc ghe to chở đầy cá mắm từ miền U Minh.

Buổi chiều sau phiên chợ, Bím vô tình đi ngang ngôi chùa nhỏ cuối xóm ẩn khuất sau hàng dương liễu. Nó khựng lại. 

Một người đàn bà tóc bạc trắng đứng nơi hiên chùa, tay lần chuỗi hạt. Gần hai thập kỷ đã trôi qua, thời gian vô tình gợi lại những đường nét cũ, một dáng đứng, một bờ vai hao gầy khiến lòng nó dội lên một cảm giác quen thuộc đến thắt ngực. Khúc sông này, ngôi chùa này, và bóng hình kia... tất cả đột ngột đánh thức một luồng ấm áp từng che chở cho nó trong một đêm mưa gió xa lắc của tuổi thơ mồ côi.

Hai ánh mắt chạm nhau qua khoảng sân bạt gió. Cả hai đều khựng lại, ngơ ngác và dò xét.

Thời gian và khoảng cách quá dài để đưa ra một lời khẳng định chắc chắn. Không có tiếng gọi, không có bước chân tiến lại, chỉ có một luồng ấm rất nhẹ lan ra giữa khoảng trống. Họ chọn cách không phá vỡ sự tĩnh lặng của cửa thiền, chọn không khơi lại những nỗi đau đã ngủ yên dưới tro tàn quá khứ, nếu thật sự cả hai là người của năm xưa.

Bím đứng yên, rồi cúi đầu, một cái cúi rất thấp, rất trang nghiêm. Cái cúi đầu không lời nhưng chứa đựng vạn dặm ân tình, như muốn gửi lại món nợ nghĩa hiệp năm xưa, như muốn nói: “Con vẫn sống, và con chưa từng quên.”

Bà không gật đầu, không lên tiếng, nhưng bàn tay đang run rẩy bỗng siết chặt chuỗi hạt rồi từ từ buông lỏng. Đó là lời thừa nhận dịu dàng, một sự buông bỏ nhẹ nhàng đầy mãn nguyện: “Nếu đúng là con... thì ta mừng. Đi đi con, bão giông qua rồi.”

Gió sông thổi qua, tà áo màu đà của bà lay nhẹ. Khoảnh khắc ấy không có xác nhận, không có nước mắt rơi, nhưng có một sự ấm áp rất hiền đủ để hai tâm hồn từng lạc nhau cảm được rằng mình vừa chạm lại một điều tưởng đã mất.

Bím quay đi, lòng nhẹ tênh như vừa trút được tảng đá ngàn cân. Nó hiểu bà, hiểu thứ tình người đơn sơ nhưng vĩ đại giữa hai mảnh đời cùng cực năm xưa.

Ngôi chùa nhỏ dần khuất sau rặng dương liễu già đong đưa theo gió như vẫy tay từ biệt. Bím ngoảnh lại, thấy bóng mình hiện rõ trên mặt sông. Dưới chân chèo, dòng nước xẻ đôi đưa họ vào khoảng không vô định của hoàng hôn, nhưng lần này, hành trình của họ không còn tăm tối, vì trong lòng Bím đã được thắp sáng bởi ngọn lửa của lòng biết ơn.

Ở hiên chùa, người đàn bà vẫn đứng lặng. Chuỗi hạt đã ngừng từ lúc nào. Ánh mắt bà không còn nhìn xa xăm, mà dừng lại ở một điểm rất gần trên bến vắng. Sau bao năm trôi dạt, mảnh ký ức cuối cùng đã trở về đúng chỗ của nó, nằm lại vĩnh viễn và bình yên trong sâu thẳm tâm hồn bà.

Bà quay vào, bước chân nhẹ tênh, mang theo một câu chuyện không lời, nhưng ấm áp như hơi thở của một người vừa tìm lại được một điều thiêng liêng tưởng đã mất.

(Tưởng nhớ đến người ông khả kính. Dòng họ tôi là một trong những đoàn người đầu tiên về miền Nam khai khẩn)


Tim Nguyen

London, 01/ 2025