Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

Cuộc sống : TÌNH NGƯỜI - St trên mạng.

Một thiếu niên ở Chicago liên tục đột nhập vào trung tâm thể dục X-Sport Fitness Center và sử dụng thiết bị ở đó. Ban quản lý đã cảnh báo cậu ta rằng họ sẽ báo cảnh sát. Nhưng cậu ta vẫn tiếp tục tìm cách đột nhập vào. Cuối cùng, cảnh sát đã được gọi đến để giải quyết vụ việc. Cảnh sát Mario Valenti biết được rằng cậu bé 15 tuổi này trước đây từng là thành viên của trung tâm, nhưng mẹ cậu không còn đủ khả năng chi trả phí thành viên nữa. Và tất cả những gì cậu muốn làm chỉ là chơi bóng rổ ở đó. Nhưng thay vì buộc tội cậu bé về tội đột nhập, viên cảnh sát đã bỏ ra 150 đô la tiền túi của mình để mua cho cậu bé một thẻ thành viên có thời hạn khoảng 4 tháng. Khi chủ sở hữu trung tâm thể dục liên hệ với trụ sở chính của công ty về những gì đã xảy ra, các quan chức ở đó đã rất cảm động trước lòng tốt của viên cảnh sát, nên họ đã gia hạn thẻ thành viên cho cậu bé thêm hai năm nữa. Viên cảnh sát Valenti nói: “Cuối cùng, điều quan trọng không phải là lòng biết ơn. Hầu hết chúng tôi làm công việc này để giúp đỡ mọi người, chứ không phải để làm hại họ. Công việc này có thể mang tính tiêu cực. Phần lớn công việc là giải quyết những người tốt đang gặp phải một ngày tồi tệ, vì vậy bạn không thấy được mặt tốt nhất của mọi người… Tôi thà để cậu ấy chơi bóng rổ còn hơn là để cậu ấy lang thang ngoài đường và có thể gặp rắc rối.”

Thơ: ĐÔI BỜ - Quang Dũng.

 



ĐÔI BỜ

𝐐𝐮𝐚𝐧𝐠 𝐃ũ𝐧𝐠


Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai?

Sông xa từng lớp lớp mưa dài

Mắt kia em có sầu cô quạnh

Khi chớm heo về một sớm mai?


Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự

Bên này em có nhớ bên kia

Giăng giăng mưa bụi qua phòng tuyến

Quạnh vắng chiều sông lạnh bến tề


Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa

Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ

Thoáng hiện em về trong đáy cốc

Nói cười như chuyện một đêm mơ


Xa quá rồi em người mỗi ngả

Bên này đất nước nhớ thương nhau

Em đi áo mỏng buông hờn tủi

Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?


1948

Cuộc sống :HỌC MARKETING - St trên FB.

 


HỌC MARKETING. 

Xưa tui hỏi sư phụ, marketing ở nước nào giỏi nhất, ổng nói Mỹ. Starbucks có trồng cà phê đâu mà lượng tiêu thụ khủng. Apple cũng có nhà máy nào đâu, nhưng hễ ra ĐT mới là người ta xếp hàng. Rồi Coca, Pepsi, McDonald's, phim Hollywood....cũng hốt bạc. Cả trăm năm.

Ở châu Á, có 2 đệ tử của Mỹ trong lĩnh vực này là Hàn và Thái. Hàn thì dùng X còn Thái thì dùng Y (X dùng cái đẹp để tạo làn sóng yêu mến cực độ, còn Y dùng cái vui vẻ ma mị khiến người ta thấy thoải mái). X dùng trong hàng hoá công nghiệp hoặc dịch vụ giải trí (phim ảnh, ca hát...) còn Y thì dùng trong du lịch, ẩm thực. Thầy tui còn nói thêm, marketing là nghệ thuật, nên đầu tiên phải có sense (năng khiếu, trời cho), sau do người có nghề thực tế đào tạo thêm (tương tự thi thanh nhạc, phải có chất giọng đã, thi đậu vào nhạc viện, thầy cô ở đó sẽ giúp cho hát đúng kỹ thuật). Học marketing trong ĐH, ít ai ra trường làm tốt, do không xét năng khiếu đầu vào. Và người dạy không phải là người làm nghề xuất sắc. Ngành này, không phải cứ học là biết làm. Có tốt nghiệp ngành marketing ĐH Harvard thì cũng không có ý nghĩa gì cả. Nhưng ở Mỹ, có những trung tâm, những công ty đào tạo marketing theo hướng thực làm, họ chỉ tuyển người có năng khiếu.

Vì muốn coi họ làm marketing ra sao, tui sang Mỹ học 1 khoá ngắn hạn, do các sếp lĩnh vực mkt các tập đoàn hướng dẫn (chuẩn đầu vào để qua vòng loại thì chỉ cần IELTS 6.5, tui thì cứ 2-3 năm thi 1 lần để không quên kiến thức, tương tự là HSK 4 nếu bạn thích học 1 khoá ngắn hạn ở Trung Quốc). Cá tính tui chịu chơi chứ không phải giàu sụ, tích luỹ đủ tiền để cho 1 mục đích gì đó thì xài cho hết xong làm lại. Người Mỹ họ làm marketing tốt nên mình phải trả rất cao tiền chất xám của họ. Họ bắt tui gửi audition, thể hiện năng khiếu. Tui phải quay clip 2 phút, viết 1 đoạn nhỏ mong muốn học, gọi điện nói chuyện cỡ 15 phút, xét đầu vào coi có tư chất, có cá tính không thì mới có thư mời nhập học. Tui quay mình đang ngồi quán cà phê vỉa hè, rồi đi Hạ Long, đi Mỹ Sơn quay ghép vô, nội dung gì giờ quên mẹ. Chỉ nhớ là khùng khùng, coi cười muốn rụng răng.

Sang bển, vào lớp mới thấy người Hàn, người Thái, người Nhật, người Hoa, người Ả Rập....học nhiều. Lớp mỗi tui Việt Nam. Cứ 1 buổi trên lớp là 1 buổi lang thang ra siêu thị, để coi người nghèo họ mua gì; ra shopping mall coi người trung lưu mua gì; lên khu nhà giàu coi người siêu giàu xài tiền ra sao; đi khách sạn nhà hàng đông khách (tức năng lực marketing tốt) để ăn uống, quan sát. 3 tuần đó học từ sáng tới khuya, tui phải uống thêm 1 đống thuốc chức năng để khoẻ dẻo dai như viên chứa nhung hươu của Nhật, sâm Peru mới đủ sức chạy theo bọn nó. Ngoài học phí, học viên ai cũng xài tiền ác liệt, marketing còn gọi là "nghệ thuật đốt tiền". Người ngoan hiền vở sạch chữ đẹp, thụ động, kỹ tiền bạc, ít dám tiêu xài, ăn chắc mặc bền, cá tính mỏng thì HOÀN TOÀN KHÔNG làm được nghề này.


2. Một bữa, lớp đi 1 bãi biển (không nổi tiếng mấy) ở Mexico, viết bài hoặc làm clip giới thiệu mời khách tới (chính quyền địa phương đặt hàng công ty media của một thầy đứng lớp). Tụi tui ở đó 2 ngày 1 đêm, tự do tìm hiểu. Tui chọn viết chứ làm clip í ẹ quá, viết xong nộp thì 3 giám khảo đều chê. Họ nói người ta đọc mày viết xong sẽ lập tức đến xem vì tò mò. Nhưng sẽ thất vọng. Góc nhìn của mày là góc nhìn của người có mắt nghệ thuật, người dân thường không được thế, họ tới và không nhìn ra "những con sóng lấp lánh những đồng tiền vàng dưới ánh nắng" thì sẽ cho là nói xạo, là "lùa gà" ("gà" luôn sợ bị lừa, thấp thỏm cẩn trọng ghê lắm). Mày miêu tả không sai, nhưng mày là người xông xênh tiền nong, ưng là móc ra xài cho hết xong tính tiếp, khác đại đa số người trong xã hội. Mày viết cảnh đi bộ quanh thị trấn, tạt vào quán bar với những ly Tequila sóng sánh, những ly bia 12 độ viền bột ớt, những điều xì gà Cohiba lâng lâng đầu óc và ngắm đại dương, tao nghe cũng thèm. Mấy người dám bỏ cả mấy trăm đô 1 lần uống rượu và hút xì gà như mày (chỉ có làm cái thứ 3 miễn phí là ngắm đại dương, ăn hải sản vô cũng trả giá từng con cua con cá). Họ ngắm cảnh 1 hồi cũng chán, tự dưng sẽ tiếc tiền, sẽ cho rằng mày quảng cáo sai sự thật, đòi đền bù. Làm marketing phải làm sao đó để đại đa số người trong xã hội móc ví ra mua hàng vì thấy cần thiết phải mua, chứ không phải chỉ cho 1 nhóm người chịu chơi. Với nhóm luôn miệng nói người khác lùa gà, thực ra là nhóm dễ bị lùa nhất. Phù thuỷ marketing, tức marketer cao tay ấn thì gà hay  đại bàng gì cũng "bẫy", cũng "dụ" cũng "lùa" được hết, mà họ còn vui vẻ chui vô chuồng, cười nói vui vẻ, móc bóp móc ví không tiếc. Còn tiếp

*Các bé làm kinh tế tóm tắt sau khi đọc xong, để bắt đầu có tư duy cơ bản về marketing nhen. Ai chọn nghề thì đọc đi đọc lại vài lần. 

ST TRÊN FB. 

Hồi ức : TUI LÀM LUẬN VĂN... St trên FB.





TUI LÀM LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 

Luận văn tốt nghiệp ngành sinh lý động vật của tui hồi đó… trời đất ơi, nó giống như một cuộc phiêu lưu mà nhân vật chính là tui, vai phản diện là mấy con gà, mấy cục tuyến giáp của heo, và cái số phận long đong của một đứa sinh viên nghèo. Lúc đó tui chỉ mong sao cho mau mau tốt nghiệp, lượm cho lẹ cái “vũ khí” đại học để có đủ điều kiện mà tậu một cái cần câu cơm sang chảnh một chút chớ cứ để cái bụng đói nó đánh lô tô hoài thì chịu sao thấu!

Cái đề tài nghe oai dữ thần: “Bước đầu ứng dụng premix sinh học vào việc nâng cao sản lượng trứng gà”. Nghe như phim khoa học viễn tưởng, mà thiệt ra thì đơn giản lắm — cái “premix sinh học” đó không gì khác hơn là tuyến giáp heo xay thành bột, trộn vô cám, rồi cầu trời khấn Phật cho gà đẻ sung. Nhận đề tài này là chấp nhận đi bất cứ nơi đâu số phận cần. Và quẻ xăm ấy khiến tui lặn lội lên tận trại gà giống thịt Hồng Sanh ở Thuận An - Bình Dương, với hành trang bao gồm một bụng mộng mơ và hai con mắt lơ ngơ. Vừa đi vừa tự hỏi: “Ủa, học đại học chi mà giờ thành cô bé chăn gà phiên bản lỗi vậy trời?”

Muốn có nguyên liệu chế “linh đơn” thì phải vô lò mổ Vissan. Tui đứng nhìn người ta hành quyết mấy lão Trư mà cám cảnh phận mình… vừa thắt theo vừa tự hỏi: “Mai mốt tới phiên mình bị đời xẻ thịt không ta?”. Nhưng thôi — heo còn chịu được, mình chịu được. Tuyến giáp được trường đem về xay, sấy, chế thành cái thứ bột mà nghe tên sang trọng hết biết: premix sinh học. Tui trộn vô thức ăn, trộn kiểu như bà phù thủy tập sự nêm phép. Mỗi hạt cám là một câu cầu nguyện, mỗi quả trứng là một lời hồi đáp. Mà tiếc cái, ông Trời trả lời theo kiểu… “seen không rep”.

Tui với nhỏ bạn vác lều chỏng lên trại, đóng đô ròng rã ba tháng trời — y như hai nàng công chúa bị đày ra đảo hoang. Sáng đổ cám, trưa dọn phân, ngày ba lần lượm trứng, lượm luôn may rủi của đời. Phục vụ tận răng, chăm sóc tận cánh. Lũ vũ công hai cánh thì cứ đẻ đều, còn tui thì cứ đuối dần. Có bữa đứng giữa chuồng, tui tự hỏi: “Rốt cuộc ai nuôi ai vậy?” Tiếng gáy ban đêm là chuyện bình thường — chỉ có tui thức đêm đếm số liệu mới là bất thường.

Cơm trại thì miễn phí, nhưng nguyên liệu chính là… gà chết. Tui nhìn dĩa thịt mà lòng run như cầy sấy: “Ăn vô có chết theo nó không?”. Rồi tự trấn an: “Người ta ăn được thì mình ăn được. Chưa thấy ai ăn gà chết mà phải đi chôn tới lần thứ hai”. Vậy là ăn. Ăn ngon là đằng khác. Đói mà, cái bao tử nó át luôn cái nỗi sợ.

Tui tá túc nhà một anh công nhân có phong cách sống rất nhất quán: “Sáng sỉn, chiều sai, tối loay hoay, ngày mai nhậu tiếp”. Vợ chồng ảnh coi chuyện đấm đá như cơm bữa, báo hại hai đứa sinh viên phải nhảy vô làm trọng tài bất đắc dĩ. Có bữa tui lãnh nguyên một chưởng lạc hướng, mắt nổ hào quang như pháo giao thừa — thấy cả dải ngân hà giữa ban ngày ban mặt. Thiệt tình, tui chỉ muốn nghiên cứu sinh lý, chớ đâu có nhu cầu tu nghiệp môn bạo lực gia đình!

Nhưng cũng nhờ vậy mà thân với mấy anh chị công nhân. Trưa Chủ nhật, khi mấy sếp về thành phố dưỡng già, tụi tui làm chủ một cõi. Hái măng rừng luộc ăn với hột gà luộc chấm nước mắm— chu choa, nó ngon thấu trời xanh! Ngon kiểu “ngon vì đói”, chớ không phải ngon vì sang. Cái thị trấn đó buồn như một câu thơ bị bỏ quên. Hai đứa sinh viên nửa quê nửa tỉnh, đi đứng lóng ngóng như Tư Ếch lạc giữa Sài Gòn. Nhưng trong cái buồn đó, tụi tui vẫn nuôi một giấc mơ — mơ ngày đề tài thành công, đời mình xán lạn như đèn pha, dù lúc đó chẳng thấy được một ánh sáng nào ở cuối đường hầm.

Rồi cú “twist” của cuộc đời cũng tới. Số liệu nhảy ra, mà nhảy kiểu… phản chủ. Lũ vũ công hai cánh ăn “linh đơn” không những không đẻ nhiều hơn mà còn đẻ ít lại! Lý thuyết đứng bên này, thực tế đứng bên kia, còn tui đứng giữa như cây cầu khỉ sắp gãy. Tui nhớ lời đồn: hồi trước có anh sinh viên bên Nông Lâm vì cháy đề tài mà đi treo cổ. Nghe mà lạnh xương sống. Cái nghèo đang hực hực như lửa sau lưng, cái bằng tốt nghiệp là vòi cứu hỏa — không xịt ra nước là đời coi như xong phim.

Tui với nhỏ bạn nhìn nhau, thở dài cái “tặc”. Rồi thôi — tụi tui “phù phép”. Số liệu được trang điểm, kết quả được dỗ dành. Một lô ăn thức ăn thường, một lô ăn premix Bình Thắng, một lô ăn đồ “chế” của tui. Tất cả đẹp như mơ — đẹp tới mức chính tụi tui cũng suýt tin. Tặc lưỡi một cái, tui thà làm “tội đồ” với mấy con gà còn hơn làm “anh hùng” mà thất nghiệp — chỉ mưu cầu bảo vệ cái “sinh lộ” của mình.

Hồi đó tin học còn xa lạ lắm, tui đâu biết đánh máy. Phải mướn người ta gõ, rồi đem cho thầy sửa tới sửa lui muốn ná thở mới ra được bản hoàn chỉnh để “lên sóng”. Thầy cô dặn tụi tui là lúc bảo vệ cứ coi Hội đồng như “mấy củ khoai” cho bớt run. Nói thiệt, nhìn mấy vị học hàm học vị đầy mình mà tui đâu có làm được! Tui chỉ biết vặn mình sang chế độ “trơ” kiểu bất cần đời. Kiểu như: tui đã chạy máy hết cỡ rồi đó, mọi việc tùy thuộc vào cái “dao phay” của mấy ông bà coi chặt cỡ nào thì chặt! Cuối cùng, luận văn qua trạm trót lọt. Hú hồn chim én! Tui thở phào mà hồn vía còn mắc kẹt đâu đó giữa mấy chuồng gà. Miễn leo được lên bờ tốt nghiệp, chuyện gì tính sau!

Những năm sau, mỗi lần nhớ lại, lòng tui lấn cấn như ăn cá mắc xương. Không ai biết, không ai hay — nhưng lương tâm thì biết, mà nó nhớ dai hơn mấy con gà nhớ giờ ăn cám.

May sao, thời gian — ông thầy khó tính mà công bằng — đã dạy tui một bài học khác. Sau này tìm hiểu kỹ, tui mới thấy cái thí nghiệm “thiên tài” hồi đó thực ra là một cú dại dột có khoa học chống lưng. Tuyến giáp heo nhét vô cơ thể gà chẳng khác nào bắt chúng chạy marathon khi còn đang mang dép lào. Bị ép “tăng ga” vô tội vạ nên tàn nhanh hơn — đẻ sớm, vỏ mỏng, tuyến giáp tự thân đình công vì bị “đồ ngoại” lấn lướt. Cái gọi là “phép màu” đó thực ra là một cú đẩy không phanh.

Vậy nên, nghĩ lại, tui thấy mình sai mà… cũng hên. Hai cái sai — thực nghiệm sai và số liệu ma — hoá ra lại thành một cái đúng: tui có được cái bằng mà không phá hoại khoa học, chỉ phá hoại vài con gà xấu số. Cái sai đó chết yểu trong xấp giấy, không kịp lan ra ngoài đời làm hại ai. Còn mấy con gà tội nghiệp đã “hy sinh cho khoa học nửa mùa” — chắc tụi nó đang nhìn tui từ đâu đó, lắc đầu cười: “Con nhỏ này, học hành gì kỳ cục vậy con?”

Giờ đây, tui nhìn lại cái luận văn đó — nó nằm im lìm như một bí mật cũ. Vô dụng? Ừ, có thể. Nhưng nó dạy tui một điều mà không trường nào dạy được: có những con đường, đi lạc một lần mới biết đâu là đường về. Và đôi khi, chính cái sai trẻ người non dạ đó lại là bài học trung thực nhất trong cả một đời người.

Nếu có ai hỏi tui: “Có muốn làm lại không?”

Tui sẽ cười — cười kiểu miền Nam, nhẹ hều mà sâu hun hút:

“Thôi… cho tui chăn gà lại được rồi. Chớ đừng bắt tui chăn lương tâm nữa — con vật đó nó dai sức lắm, mà không có cái chuồng nào nhốt cho yên được đâu!”

Còn mấy anh chị, có hồi nào lỡ tay “múa gậy vườn hoang” rồi sau này nhìn lại mới thấy mình vừa bậy vừa hên không? Kể tui nghe chơi cho vui cửa vui nhà coi!

HONG KHUU (FB)

Thơ : CÂU CHUYỆN HỌC TRÒ - Phan Hòa.

 



CÂU CHUYỆN HỌC TRÒ


Có bao giờ em nhắc đến tháng Tư?

Nơi ký ức một thời hoa phượng đỏ

Tà áo trắng đi về ngang đầu ngõ

Nón bài thơ che hở nửa vầng trăng!


Em bây giờ còn nhớ tháng Tư chăng?

Quyển lưu bút có một trang lạ lắm

Chỉ mình em thích lật ra nhìn ngắm

Nét chữ “con trai”, nét chữ một người.


Có một lần em nhặt cánh phượng rơi

Nhờ anh ghép cho mình con bướm đỏ

Anh gật đầu ghé tai em nói nhỏ

Nhặt giùm anh cánh nữa... để thành đôi.


Chuyện ngày xưa, giờ cũng đã xa rồi

Quyển lưu bút bồi hồi nơi góc tủ

Tà áo trắng quên đường về chốn cũ

Đôi bướm hồng không thể kết tơ duyên!


Tháng Tư về... ký ức vẫn còn nguyên

Nhưng xa lắc nơi bến bờ dĩ vãng

Thuở học trò - câu chuyện tình lãng mạn

Có bao giờ em nhắc lại... không em...?


Phan Hoà

Đời sống : TIẾNG VIỆT THỜI NAY - GS Nguyễn Tuấn.

 


TIỂNG VIỆT THỜI NAY 


Hôm nay, tôi nhận được một email của một người Sài Gòn mở đầu bằng chữ “Kính gởi …” (thay vì ‘kính gửi’). Mát dạ ghê nơi! Và, làm tôi có cảm hứng thổ lộ vài tâm tình về tiếng Việt ngày nay. 

 Tôi là người lớn lên với Tiếng Việt thời trước 1975, tức là Tiếng Việt trong Tự Lực Văn Đoàn của những Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam, v.v. Đó cũng là tiếng Việt của các tiền bối như Hoàng Xuân Hãn, Phạm Quỳnh, và sau này là Mai Thảo và nhóm tạp chí Bách Khoa lừng danh một thời. Đó cũng chính là Tiếng Việt thời 1945 và sau này được gìn giữ ở trong Nam. 

Thời đó, chúng tôi nói và viết Tiếng Việt theo thứ tự tự nhiên. Chẳng hạn như chúng tôi được dạy là 'hôi thúi' (hay 'hôi thối') vì một vật thể khi bị chết đi, nó đi từ 'hôi' mới đến 'thúi.' Chúng tôi nói 'khai triển' (khai trương rồi mới phát triển). Các thầy dạy cho biết đó là cách nói của người Việt được coi là thuận với thiên nhiên. 

 Do đó, ngày xưa, Tiếng Việt chúng ta được cấu trúc theo công thức tự nhiên đó. Có thể tìm thấy những chữ thường ngày như: bảo đảm, đơn giản, thành hình, khai triển, ít nhiều, v.v. 

 Thế nhưng sau 1975, những chữ đó đột nhiên bị đảo lộn thành: đảm bảo, giản đơn, hình thành, triển khai, nhiều ít, v.v. Những chữ này có cùng nghĩa như những chữ trên, nhưng nó chỉ đảo ngược cách nói/viết.  

 Tại sao có sự đảo ngược này? 

 Câu trả lời đơn giản là do Tàu hoá. Thật vậy, rất nhiều chữ sau này được dùng theo cách dùng của người Tàu. Chẳng hạn như người Tàu hay nói ngược với chúng ta. Thay vì nói 'bảo đảm', họ nói 'đảm bảo'. Chúng ta nói 'khai triển', họ thì 'triển khai'. Vân vân. 

 Thật ra, những chữ như 'bảo đảm', 'khai triển', 'đơn giản', v.v. đều xuất phát từ chữ Hán. Nhưng các vị tiền bối chúng ta nói ngược với họ, có lẽ một phần là theo lẽ tự nhiên, và quan trọng hơn là không bị Tàu hoá.  

Tiếng Việt ngày nay rất ư là hỗn tạp và phức tạp. Hỗn tạp là thứ lai căng (như ‘tuổi teen’), và phức tạp là làm cho tối nghĩa (ví dụ như ‘một cá thể trâu’). Mới đây còn có 'topping' nữa chứ! Loại tiếng Việt này làm đau đầu những người thuộc thế hệ tôi, và làm nhói tim những ai còn quan tâm đến sự trong sáng của tiếng Việt.

Hôm qua, cô tiếp viên sau khi tính toán tiền ăn xong rồi nói:

"Dạ, phần của mình là 56 ngàn ạ"

Tôi muốn ghẹo cô ấy, nên giả bộ hỏi "'mình' là ai vậy con?" Cô ta bẽn lẽn nói "Dạ, con quen miệng ạ". Tôi lại chọc: người miền Nam không nói "ạ". 

Rồi còn những cách dùng sai nghĩa nữa, mà tiêu biểu là 'liên hệ' và 'liên lạc'. Chẳng hiểu từ đâu mà ngày nay ở trong nước ai cũng dùng chữ 'liên hệ' theo ý nghĩa contact của tiếng Anh. "Anh cần thêm bất cứ điều gì, cứ liên hệ qua số điện thoại ...". Đáng lí ra phải là 'liên lạc'.

 'Liên hệ' theo tôi hiểu là quan hệ huyết thống, máu mủ ruột thịt trong gia đình, tiếng Anh là 'relate'. Còn 'Liên lạc' có nghĩa là tiếp xúc giữa các cá nhân, tiếng Anh là 'contact'. Rõ ràng như vậy, mà chẳng hiểu sao đi đâu cũng thấy 'liên hệ'. Tôi nghi là cũng do Tàu hoá mà ra. 

Lại nói đến chữ 'khả năng' cũng bị đổi nghĩa. 'Khả năng' có nghĩa là năng lực để làm một việc gì (tiếng anh là capacity). Vậy mà ngày nay người ta dùng chữ 'khả năng' theo cái nghĩa 'có thể' (probable): 'Chiều nay trời có khả năng mưa'. Trời ơi! Sao không nói "Chiều nay trời có thể mưa"? Lại một cách Tàu hoá?

Khó ưa nhứt là chữ ‘Việt Kiều’. Tôi nghĩ giới báo chí không chịu tìm hiểu nghĩa nên dùng chữ không đúng. ‘Kiều’ có nghĩa là người ngoài đến sanh sống nơi mình cư trú. Do đó, chúng ta mới có Hoa Kiều, Pháp Kiều. Tôi là người Việt về thăm quê thì mắc mớ gì mà gọi tôi là ‘Việt Kiều’?! Đáng lí ra nên gọi là ‘Kiều Bào’. 

Chói tai nhứt là nghe cách đánh vần ngày nay. Lúc nào cũng Bờ Cờ Sờ ... nghe thiệt khó vô. Đó là cách phát âm đánh vần thời Bình dân Học vụ (thời 1930-1940) để giúp cho người mù chữ làm quen với chữ cái trong tiếng Việt, chớ đâu phải cách đánh vần chánh thức. Đâu có ai dùng nó để chỉ A Bê Xê (ABC) đâu. Các nhà ngôn ngữ học cũng đã nói cách đánh vần Bờ Cờ Sờ là sai. Vậy mà ngày nay trên đài truyền hình, đài phát thanh oang oang Bờ Cờ Sờ! 

 Có lần tôi thấy sốc khi nghe một đồng nghiệp Pháp nói với tôi rằng tiếng Pháp ở Paris ngày nay là loại hỗn tạp, còn tiếng Pháp ở Québec (Canada) mới là ‘chuẩn’. Chẳng biết nhận xét đó đúng hay sai, nhưng tôi có cảm giác nó hợp với tiếng Việt ngày nay: tiếng Việt ở hải ngoại mới chuẩn hơn tiếng Việt ở trong nước.

•GS Nguyễn Tuấn

Hồi ức : ÔNG THẦY VIỆT VĂN - Vũ Thế Thành.

 



ÔNG THẦY VIỆT VĂN…

Tôi hận ông thầy Việt văn lớp 11. Ổng chơi không đẹp khi bắt tụi tôi học thuộc lòng bài thơ “Kẻ Sĩ” của Nguyễn Công Trứ. Đó là bài hát nói gieo vần vô kỷ luật nhất mà tôi từng biết, chả vần chả điệu, lòng thòng, Hán nhiều hơn Nôm.

Đây này, trích thử vài câu nghe chơi:

“… Cầm chính đạo để tịch tà cự bí

Hồi cuồng lan nhi chướng bách xuyên…”

 Mà tôi theo ban toán, chứ có phải văn chương đâu, nội hiểu được ý nghĩa bài thơ đó cũng đáng nể rồi, giờ còn bắt học thuộc lòng nữa, coi sao được. Tôi tính “tố phé” ổng. Thế này, lớp 40 học sinh, mỗi tuần 4 giờ Việt văn, 2 lần lên lớp. Tôi có 75% thoát hiểm, lỡ dính thì coi như Trời hại. Nhưng ổng tỉnh bơ: “Tôi sẽ gọi từng người cho đến hết lớp”. Ổng còn thêm: “Ai không thuộc, tôi sẽ cho cơ hội lần sau, và lần sau nữa cho đến khi… có điểm”. Thế là rõ! Ổng quyết tâm… chơi tụi tôi đến cùng. 

Không còn chọn lựa nào khác, đành ôm hận, lảm nhảm đến méo mỏ cái bài thơ thổ tả đó cho đến khi thuộc lòng.

Cơ hội rửa hận đến khi ổng ra đề luận: “Bạn nghĩ gì về tình thầy trò ngày nay?”. Từ hồi biết mặt chữ, tôi chưa bao giờ “múa bút” sướng như thế. Nào là, thời xưa học một thầy, học để làm quan, và chỉ học nghề… văn. Thời nay, học đủ thứ, cần gì học nấy, học để hành nghề. Thời đại khoa học, ai học trước người đó là… «thầy», bởi vậy mới có chuyện đi học luyện thi, mới có thầy giáo “cua” học trò,… Đại loại bài luận văn là một “bản cáo trạng” về thầy. Tôi khoắng bút như một nghệ sĩ, cho đến khi gần hết giờ, chấm xuống hàng, kết luận: Nên xem thầy giáo như người anh coi bộ nhẹ nhàng hơn khi nhìn dưới khía cạnh đạo đức. Thiệt là hả giận! Tôi viết với tư thế “tử vì đạo”, ăn trứng vịt cũng được. Không thành danh thì cũng thành… ma.

Bài luận được 16 điểm. Hôm phát bài, ông thầy cười cười: “Tôi không đồng ý với em nhiều điểm, nhưng vẫn cho em số điểm cao nhất”. Thiệt chưng hửng! Tôi mơ hồ hình như ổng chơi trên... cơ mình, nhưng “cái tôi” khốn nạn đã đẩy tôi đi quá xa, khoác lác hả hê với bè bạn: Cái hận “Kẻ Sĩ” đã rửa xong.

Ổng còn nhiều chiêu kỳ quái khác. Tú Xương thì học trò đứa nào chẳng khoái. Lẽ ra phải chia sẻ chút đỉnh với đám học trò mới lớn bằng những câu thơ 

“Cao lâu thường ăn quỵt

thổ đĩ lại chơi lường”

 hay ít ra cũng thông cảm với bọn hoc trò đang chuẩn bị bước vào vòng ân oán của thi cử

“Đau quá đòn hằn, rát hơn lửa bỏng”

Hổ bút hổ nghiên, tủi lều tủi chõng…

… Thi là thế, học hành là thế, trò chuyện cùng ai?

Người một nơi, hồn phách một nơi, than thân với bóng!”

 Không! Ổng phang bài:

“Trên ghế bà Đầm ngoi đít vịt.

Dưới sân ông Cử ngửng đầu rồng”.

 Ổng giảng say sưa, bằng giọng bi ai, phẫn hận về thời Nho mạt, về danh lợi, về nhân phẩm, ổng truyền lửa cho đám học trò đang há hốc miệng ngồi nghe,  xả suốt 2 giờ đồng hồ. Hình như ổng đang dạy tụi tôi kiến thức để làm người, chứ không phải kiến thức để đi thi. Ổng đâu ngán cháy giáo án. Mà hồi đó làm gì có giáo án. Bài soạn của ông là xấp giấy A4 gấp đôi, chẳng bao giờ thấy ổng mở ra. Ổng chỉ mở… sổ điểm.

Đời cứ thế trôi đi… Những năm cuối thập niên 70, đầu 80, đời sống khó khăn thế nào khỏi cần kể. Tôi làm ở một trung tâm nghiên cứu ở Sàigòn. Ban ngày khoác áo blouse vào phòng lab cứ như là…viện sĩ. Tối về mượn xích lô của thằng bạn, cảo vài vòng kiếm thêm. Một buổi tối trời mưa, ế độ. Tôi táp vào quán nhậu ven đường (cái lều nhậu thì đúng hơn) gần Ngã Tư Bảy Hiền. 

Hồi đó khu này còn hoang vắng lắm. Quán cũng ế độ, chỉ có mình ông chủ đang trầm ngâm bên ly rượu. Tôi kêu một xị, ngồi trông ra đường, nghe tiếng mưa lằng nhằng trên mái nhà, rầu thúi ruột… Chợt nghe tiếng ngâm ê a của ông chủ quán từ phía sau. Lời ngâm nghe quen quen…, rồi tự nhiên tôi cũng cất tiếng ngâm theo:

“…Lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng tất

Hiêu hiêu nhiên điếu Vị, canh Sằn

Xe bồ luân dầu chưa gặp Thang,Văn.

Phù thế giáo một vài câu thanh nghị.

Cầm chính đạo để tịch tà cự bí.

Hồi cuông lan nhi chướng bách xuyên…”,

 và cứ thế cho đến hết bài “Kẻ Sĩ”.

Một khoảng im lặng. Tôi quay lại, không ai bảo ai, cả hai nâng ly mời nhau. Trong sự nghiệp cụng ly của tôi, chưa bao giờ tràn ngập những “tiếng nói không lời” như lần đó.

Chủ quán trạc ngoài 30, cao học Luật, công chức chế độ Sàigòn. Sau 75, đi cải tạo 4 năm, về mở “lều nhậu” tiêu sầu. Chúng tôi cà kê chuyện đời, chuyện người, chuyện số phận đẩy đưa… Rượu đến mềm môi. Bài thơ “Kẻ Sĩ” thưở còn đi học tưởng đã trôi vào quên lãng, bỗng thức dậy trong một đêm mưa, có người đồng điệu, ngân nga như tiếng chuông đeo đẳng đời người.

Đất nước thời mở cửa, kinh tế thị trường nửa khép nửa hở. Kiếm sống bằng năng lực thì ít, nhưng bằng quyền lực hay dựa hơi quyền lực thì nhiều. Luật lờ mờ, nhưng lệ rõ ràng. Làm ăn là phải biết điều, gọi văn vẻ là… thỏa hiệp. Thỏa hiệp đủ thứ, không thỏa hiệp không được. Giới hạn thỏa hiệp tới đâu, tùy thuộc vào nguyên tắc sống (tôi không dám dùng chữ “nguyên tắc đạo đức”) của mỗi người. Cái giới hạn này mong manh, tự mình hạ thấp giới hạn xuống, rồi tự biện minh với bao lời  hoa mỹ, đi ngược lại “xu hướng thời đại” là không thức thời. Dối người, dối mình, đạo đức giả hồi nào chẳng hay.

Kẻ Sĩ thời nay lộn ngược rồi: Thương, Công, Nông, Sĩ. Ai chẳng khoái tiền, khoái danh. Cám dỗ vô cùng! Đạo lập thân làm sao giữ lấy cương thường? Mỗi lần như thế, tiếng chuông đêm mưa ở cái “lều nhậu” lại vang lên, làm nhức nhối kẻ bị mang tiếng là… gàn dở, toát mồ hôi với cái lưới “đầu rồng đít vịt”.

Trong Kinh thánh có chuyện kể, đứa con út đòi cha chia gia tài, rồi tìm đến phương trời xa vui chơi thỏa thích. Người cha chiều nào cũng tựa cửa đứng trông con về. Rồi thằng con về thật. Nó đã phung phí hết tiền, bây giờ đói rách trở về nhà cha xin chén cơm thừa. Nhưng người cha mừng rỡ, đã mặc áo mới cho nó, làm tiệc linh đình mừng con mình trở về.

Văn hào Pháp, André Gide cũng có câu chuyện “Đứa con hoang đàng” tương tự, chỉ khác khúc cuối: Đang giữa tiệc mừng, thằng con lững thững bỏ về phòng, nhìn xa xa qua khung cửa sổ, nhớ đến cuộc chơi thâu đêm suốt sáng cùng chúng bạn. Nó đang mơ một chuyến đi khác. Trở về chỉ là chuyện bất đắc dĩ. Hồi đó, đọc đến đoạn này, tôi bật cười sảng khoái “Phải thế mới được!”

Thưa thầy Việt văn, thằng đệ (tử) giờ đây đầu bạc chân mỏi, ngày Nhà Giáo năm nay xin hầu thầy cho đến tận cùng bữa tiệc để khoanh tay nói lời tạ lỗi, trước khi phản xạ tung hô theo đám đông: “Biết ơn thầy cô”.


•Vũ Thế Thành

Hồi ức : VỀ LẠI CON ĐƯỜNG XƯA MÁU LỬA - Nguyễn Ngọc Luật.

 



(CÓ NHỮNG NGÀY KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

Người ta thường nói hãy quên đi quá khứ để sống an nhiên trong hiện tại. Xét chung chung thì ta thấy khá đúng, vì nếu một người cứ bị ám ảnh bởi quá khứ và luôn đắm chìm trong quá khứ thì người đó sẽ đánh mất cuộc sống hiện tại.

Thế nhưng một sự kiện trong quá khứ mà chính nó đã làm đảo lộn số phận của hàng triệu người, của cả một gia đình và quan trọng nhất là nó làm thay đổi số phận của chính mình thì dù bao nhiêu năm tháng đi qua nhưng cũng khó mà quên đi được!

Tôi muốn nhắc lại những ngày tháng Tư định mệnh, nó không phải là ngày 30/4/75 mà nó là những ngày 26,27,28,29,30/4/72. Những ngày đau thương đối với dân Quảng Trị, cũng là những ngày tạo nên một tên đường đi vào lịch sử: ĐẠI LỘ KINH HOÀNG của một: MÙA HÈ ĐỎ LỬA. 

Bài bút ký này tôi viết khá lâu và đã đăng lại nhiều lần, nhưng cứ mỗi lần tháng Tư, quá khứ đau thương lại ùa về và  tôi lại muốn đăng thêm lần nữa, như là hoài niệm về ký ức đau buồn của một thời tuổi trẻ, bài bút ký có tên) :


VỀ LẠI CON ĐƯỜNG XƯA MÁU LỬA. 


Sau năm 1975 theo cuộc thế nổi trôi, dòng đời phiêu bạt, bỏ quê hương để đi biền biệt, tôi lênh đênh trôi dạt về tận miền Đông Nam Bộ làm thân kẻ xa xứ. Dòng sông tuổi thơ, mảnh vườn có hoa cải vàng mùa xuân, có hương hoa sầu đông thoang thoảng trong đêm trường lạnh giá, có mái tranh nghèo ấp ủ những năm tháng hoa niên, có cánh đồng lúa xanh rờn lộng gió, có cánh diều tuổi thơ bay cao trên nền trời xanh ngắt…Tất cả chỉ còn là ký ức mù sương, tất cả chỉ còn là kỷ niệm nhạt nhòa trong tâm trí. Gần hết cuộc đời tôi sống tha hương giửa đất phương Nam hai mùa mưa nắng. Có những trưa hè oi ả nơi xứ người chợt nhớ da diết tiếng kẻo kẹt võng đưa, tiếng ru à ơi ngọt ngào của mẹ, tiếng chim rồng rộc ríu ra ríu rít trên đọt tre già nơi lũy tre sau vườn. Có những đêm đông bình yên, ấm cúng ở đất phương Nam mà nhớ những ngày đông tháng giá gió rít từng cơn, mưa rơi rã rít trên mái tranh nghèo một thời xa lắc…Những âm thanh, hình  ảnh của quá khứ hầu như đã chất đầy trong tiềm thức có dịp là bùng phát mãnh liệt khiến lòng tôi cảm thấy ray rứt không yên. Tôi tự nhủ với lòng phải về thôi, dòng sông quê, con đường làng rợp bóng tre xanh nơi chôn dấu biết bao nhiêu kỷ niệm một thời thơ ấu đang chờ đợi bước chân tôi về.

Mùa hè năm nay thầy trò trường Nguyễn Hoàng tổ chức họp mặt kỷ niệm sáu mươi năm thành lập trường, thế là bạn bè từ quê nhà liên tục réo gọi, tình quê thôi thúc. Lại thấy đường đời của mình cũng đã xế bóng, cơ hội về quê không nhiều nên mặc dù nợ áo cơm luôn đeo đẳng không rời, tôi vẫn sắp xếp một chuyến về. Tôi xem chuyến về này như là một chuyến hành hương về đất Tổ, thế nên từ phương Nam tôi quyết định xuống xe tại Huế và ghé nhà đứa con gái đang sinh sống tại đây mượn chiếc xe máy để về quê.

Đoạn đường Huế-Quảng Trị dài 60km là một con đường ghi nhiều kỷ niệm, ghi dấu thời thơ ấu của tôi, vui có, buồn có, êm đềm cũng có mà kinh hoàng cũng có,  nên có dịp đi lại con đường xưa một mình một ngựa trên chiếc xe máy tà tà ngắm cảnh vật hai bên đường khiến tôi thấy thú vị làm sao! Thời tiết quê nhà tháng sáu nắng nhạt nhưng hơi oi bức, gió chiều nhè nhẹ. Cho dù nhà cửa, phố xá hai bên đường so với ngày xưa đã khang trang hơn nhiều nhưng đã quen với cảnh phố xá tấp nập, xe cộ ngược xuôi chen nhau trên đường của những thành phố phương Nam nên tôi vẫn cảm thấy đường sá xe cộ có phần  thưa thớt, nhịp sống hình như chậm rãi và có phần uể oải, nét đặc thù của các tỉnh nhỏ  miền Trung.

Càng đi ra càng thấy cảnh vật hoang sơ hơn, nhà cửa thưa thớt, tuềnh toàng không dấu được cái nghèo khó đang ngự trị nơi đây. Qua khỏi địa phận tỉnh Thừa Thiên, qua khỏi những  khu nhà tương đối sầm uất, nhộn nhịp là đến vùng hoang hóa với những  cồn cát chạy dài, cây cối khô cằn, còi cọc, ngoại trừ những đám bạch đàn, dương liễu do người trồng và chăm sóc còn lại hầu hết là cây xương rồng, sim, móc và những cây cối mọc hoang dại. Người ta nói dân Quảng Trị thật thà chất phác, thật quá đúng! Thật thà đến nỗi không biết dấu cái nghèo cái khó của xứ sở mình mà đem trình nó ngay trên đường quốc lộ  cho bàn dân thiên hạ biết. Những khách phương xa có dịp đi ngang qua địa phận tỉnh Quảng Trị nhìn thấy cảnh vật hai bên đường chỉ thấy toàn là cát với cát chạy dài ngút mắt đều chép miệng than.

 - Đất đai cằn cổi như thế này không biết người dân Quảng Trị làm gì mà sinh sống!?

Hoặc chí ít họ cũng nghĩ rằng đất đai khô cằn sỏi đá như thế thì dân Quảng Trị nghèo là phải!

Tôi qua khỏi cầu Bến Đá thì trời đã về chiều, thời tiết có phần mát mẻ hơn, nắng chiều nhạt nhòa trùm lên cảnh vật, gió hiu hiu thổi, một miền quê yên ả, thanh bình khá tỉnh lặng. 

  Thế nhưng đi lại trên đoạn đường này những hồi ức xa xưa chợt về, lòng tôi bổng cảm thấy trào dâng một nỗi buồn, một nỗi lo sợ mơ hồ phủ kín tâm hồn. Chao ôi! Đoạn đường này bốn mươi năm về trước vào những ngày tháng Tư của “mùa hè đỏ lửa” tôi cũng như biết bao nhiêu người dân Quảng Trị đã vượt qua với nỗi kinh hoàng cùng cực. Vào những ngày mà bom đạn chiến tranh, chết chóc đã áp sát vào thị xã thì người dân Quảng Trị vội vàng rời bỏ nhà cửa thu dọn của nả để chạy vào Huế lánh nạn, chúng tôi đã chạy qua một quãng  đường ngắn trong lằn đạn pháo từ những làng mạc hai bên đường bắn ra xối xả. Người chết nằm la liệt, người bị thương rên la thảm thiết, người còn sống thì chạy thục mạng về phía Thừa Thiên, sự hoảng loạn, kinh hoàng cùng cực khiến ai cũng lo chạy tháo thân, mặc cho những tiếng kêu cứu của những người bị thương, mặc cho những đứa bé ngơ ngác kêu khóc bên xác mẹ. Sau này khi cuộc sống tạm thời ổn định trong trại tạm cư ở Đà Nẵng những hình ảnh kinh hoàng của con đường đầy máu lửa cứ ám ảnh mãi trong tâm trí. Tôi đã viết trong nhật ký:

“… Trên đường lánh nạn hình ảnh cảnh loạn ly làm tê tái lòng người, từng đoàn người, từng đoàn xe tấp nập di chuyển trên đường quốc lộ 1 đông nghịt dài mấy cây số. Nào người đi bộ, người bồng bế, gồng gánh và đủ thứ xe cộ chen chúc nhau. Xe hàng thì chất đầy của cải và người ta bu kín ngoài bàn đạp, ngồi trên mui, xe máy chở ba, bốn người, xe xích lô chất đầy người với rương hòm, giỏ xách, xe đạp chở hai, ba người ì à ì ạch tiến lên phía trước. Tất cả tạo thành một khối hổn loạn di động trên con đường nhựa nóng bỏng. Đàng sau về phía thị xã và vùng ven là những đụn khói đen cao ngất trời, những tiếng nổ ầm ầm của đại bác, những tràng liên thanh của súng máy nghe vang rền khiến cho lòng người thêm hoảng loạn. Đoàn người đông như kiến cỏ đó khi vào tới khỏi cầu Dài ngang địa phận xã Hải Trường (Đoạn đường dài mấy cây số sau này được đặt một cái tên nghe khủng khiếp: Đại Lộ Kinh Hoàng) thì chựng lại vì tiếng súng ở các xóm ven lộ bắn ra. Rồi thì cảnh náo loạn xảy ra, xe cộ tăng tốc phóng tối đa về phía trước, còn người thì ba chân bốn cẳng chạy bán sống bán chết, họ vất hết gồng gánh, bao bì để chạy. Cảnh tượng thật là hổn loạn, xe cộ chà lên người, người đạp lên người, mạnh ai nấy chạy về phía trước, ai chết nằm đó, ai bị thương kêu la cũng mặc, người ta lo cho mạng sống của mình và bỏ mặc họ cho số phận. Đoạn đường từ Quảng Trị vào Huế chỉ 60km mà chúng tôi đi suốt ngày mới tới, bằng mọi cách đu lên xe nào có thể đu được, xe hàng, xe nhà binh, xe tải…bất kỳ xe nào cũng lên đại, cuối cùng thì chúng tôi cũng vào đến Huế vào lúc 6giờ tối thành phố đã lên đèn…”

Một ngày sau đó thị xã Quảng trị chìm trong lửa đạn và những người dân còn lại vội vàng bồng bế nhau chạy vào Huế. Nhưng quốc lộ 1 đã bị khóa chặt, tại cầu Dài đến cầu Bến Đá bom đạn liên hồi nổ trên đường, người chết trên đường như rạ, một đoàn xe của bệnh viện Quảng Trị chở bệnh nhân lánh nạn đi ngang qua đã bị bắn cháy người trong xe dù người lành hay người bệnh cũng đều bị chết hết. Số người còn kẹt lại phía Quảng trị đã bỏ quốc lộ 1 chạy xuống đường làng theo ngả làng Thanh Hương để vào Thừa Thiên rồi vào Huế (tôi có một người chị chạy theo đường nay mấy ngày sau mới vào tới Huế, tả tơi, rách nát, kiệt sức phải vào nằm bệnh viện).

Nỗi ám ảnh về “Đại Lộ Kinh Hoàng” như một vết dao cắt sâu vào tim tôi, nó cứ hiển hiện trước mắt mỗi khi tôi nghĩ đến. Hình ảnh người chết, bị thương la liệt trên đường, đứa bé bơ vơ hoảng loạn bên xác người mẹ đã chết trên vũng máu cứ đeo đẳng tôi hoài. Những ngày tháng sống ở trại tạm cư Đà Nẵng tình cờ tôi có đọc được một bài thơ của tác giả Nguyễn Khắc Linh Vũ đăng trên báo Chiến Sỹ Cộng Hòa, bài thơ thật cảm động tôi đã chép vào nhật ký của mình. Bài thơ có tên:

 CHO EM BÉ MIỀN TRUNG

 Em bé miền Trung ơi!

 Chiều buông nắng tắt

 Em về đâu bom đạn ngập trời rơi.

 Em về đâu giữa những lớp xác người

 Bên những đống sắt mang tên từ phương trời xa lạ.

 Em bé miền Trung ơi!

 Gió lùa lên thật lạnh

 Em về đâu mà mà ánh mắt ngu ngơ

 Đạn dưới chân đi sao em mãi chần chờ

 Hay em thấy đằng kia chiếc cầu đã gãy?!

 Em bé miền Trung ơi!

 Em về đâu? Về đâu? Bốn bề rực cháy

 Cháy từ La Vang, Thạch Hãn, Nhan Biều

 Cháy trên Hồ Đắc Hanh, cháy về “Dãy phố buồn thiu”

 Sao em không khóc mà ngước nhìn ngơ ngác

 Em bé miền Trung ơi! 

 Nắng vàng kia đã tắt

 Bên xác mẹ nằm nhuộm máu cong queo

 Bên xác xe tăng mang tên từ phương trời xa lạ.

 Đêm hãi hùng…

 Trên đất chết…

 Em về đâu? Về đâu? Em bé miền Trung?!

          (Nguyễn Khắc Linh Vũ)

Tôi không quen  biết tác giả Nguyễn Khắc Linh Vũ, không biết anh có chứng kiến cảnh tượng thảm khốc trên “Đại Lộ Kinh Hoàng” ngày ấy không mà sao thơ anh như người trong cuộc, đau khổ, xót xa, tội nghiệp biết bao nhiêu cho thân phận những người dân vô tội, những em bé ngơ ngác bên xác mẹ nằm chết cong queo khi hoàng hôn buông xuống trên “Đại Lộ Kinh Hoàng”, một hình ảnh đau thương của cuộc chiến tranh tàn khốc trên quê hương. Cám ơn anh Nguyễn Khắc Linh Vũ đã chia sẻ nỗi khổ, niềm đau của người dân Quảng Trị thuở loạn ly, thơ anh tôi đã trân trọng cất giữ trong nhật ký đã bốn mươi năm nay đọc lại vẫn thấy cảm xúc dâng trào, xót xa, ngậm ngùi…

 Năm 1974 tại nơi đây đã tổ chức một lễ đại trai đàn chẩn tế, bạt độ cầu nguyện cho những oan hồn đã ngã xuống trên “Đại lộ Kinh Hoàng” và cũng đã dựng một đài tưởng niệm mang tên “Chiêu Linh đài” có tượng Bồ Tát Địa Tạng tay cầm hạt minh châu, tay cầm thiền trượng đứng cứu vớt những sinh linh vô tội thoát khỏi cảnh giới tối tăm, địa ngục, ngạ quỷ vất vơ vất vưởng để vãng sanh về miền tịnh cảnh. Không ai biết chắc hiệu quả của sự cầu nguyện như thế nào nhưng tôi nghĩ một lễ đại trai đàn hoành tráng được tổ chức với sự nhất tâm cầu nguyện của hàng ngàn người như thế, một đài tưởng niệm được dựng lên cũng phần nào làm ấm lòng những linh hồn vô tội đã ngã xuống trên đoạn đường này!

Tôi dừng xe lại bên đường trước “Chiêu Linh đài” không có một nén nhang để đốt lên tôi đành cúi đầu mặc niệm tưởng nhớ những đồng bào đã nằm xuống nơi đây. Bốn mươi năm về trước tôi và quý vị cùng đồng hành trên con đường này, cùng trải qua những giây phút kinh hoàng bom rơi, đạn lạc nhưng may mắn cho tôi đã thoát chết còn quý vị thì vĩnh viễn nằm lại nơi đây. Ngày xưa khi cùng quý vị vượt qua đoạn đường máu lửa này tôi chỉ là một cậu con trai mới lớn đang chuẩn bị thi Tú Tài, sau bốn mươi năm tôi trở lại nơi đây thì tôi đã là một người như chợ chiều xế bóng! Cảnh xưa như những thước phim quay chậm lại hiện về với cảnh tượng kinh hoàng có cả âm thanh gào rú của bom đạn, tiếng kêu la thất thanh của người bị trúng đạn và tôi tưởng chừng như có em bé lem luốc đứng nhìn ngơ ngác bên xác mẹ nằm trên vũng máu, nước mắt tôi lại ứa ra…

 Nắng chiều hoang hoải, những tia nắng cuối ngày nhuốm màu vàng vọt, không gian buồn ảm đạm. những cọng bông cỏ tranh trắng xóa phất phơ trong gió chiều, tiếng lá bạch đàn xào xạc, những cây xương rồng gai góc cắm trên những cồn cát chạy dài. Tất cả tạo nên một khung cảnh đìu hiu của vùng đất chết.

 Ngoài kia là quốc lộ 1 với những chuyến xe ngược xuôi vào Nam ra Bắc. Cuộc sống vẫn âm thầm tiếp nối, dòng đời vẫn âm thầm trôi chảy nhưng… nói như Héraclite“Không ai tắm hai lần trong cùng một dòng sông”./.

                 Nguyễn Ngọc Luật

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026

Nhạc : MƯA CHIỀU CƯ XÁ - Trần Thế Châu.

( Bài hát của bạn học thời sinh viên HVQGNN SÀI GÒN Tuy có nhờ A.I nhưng lời nhạc và giai điệu vẫn là chọn lựa của "tác giả"... )

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2026

Chuyện lạ : BIẾN BÒ THÀNH... - Sưu tầm trên mạng.

 



BIẾN BÒ THÀNH NGỰA VẰN. 

 Nghe Mà Muốn Xỉu: Bôi Sơn Lên Bò Thành Ngựa Vằn Để Đuổi Muỗi! 

Đây là một trong những nghiên cứu khoa học về chăn nuôi bò  đáng kinh ngạc nhất mà bạn từng nghe. Năm 2019, một nhóm nhà khoa học Nhật Bản đã quyết định thử một điều vô cùng bất ngờ: sơn những con bò thành ngựa vằn 

Mục đích không phải để cho đẹp, mà là để nghiên cứu: tìm hiểu xem da của ngựa vằn tự nhiên đã làm cách nào để xua đuổi côn trùng.

Cách làm: Các nhà khoa học dùng sơn nước đơn giản  để vẽ các sọc trắng đen lên thân những con bò.

Kết quả bất ngờ: Số lượng muỗi và ruồi hút máu đốt bò sọc giảm hơn 50% so với những con bò bình thường . Thậm chí, những con bò chỉ được sơn màu đen không hề có hiệu quả bảo vệ tương tự. Điều này cho thấy sức mạnh bảo vệ nằm ở sự tương phản thị giác giữa hai màu đen và trắng .

Tác động lên hành vi: Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy các cử động tự vệ thông thường của bò (như lắc đầu, quất đuôi...) giảm khoảng 20%. Đây là dấu hiệu cho thấy chúng đã bình tĩnh và bớt căng thẳng hơn 

 Bí mật khoa học

Các sọc vằn đã làm rối loạn thị giác của ruồi muỗi. Những loại côn trùng này dựa vào chuyển động và sự phản chiếu ánh sáng để ước tính khoảng cách và hạ cánh. Khi nhìn thấy một hoa văn tương phản cao như sọc vằn, nhận thức của chúng bị nhiễu loạn: chúng không thể xác định quỹ đạo bay một cách chính xác nữa, và kết quả là không thể đậu lên con vật .

 Giải thưởng quốc tế

Nghiên cứu sáng tạo này đã giành được Giải thưởng Ig Nobel 2025 ở hạng mục sinh học — một giải thưởng tôn vinh những nghiên cứu vừa vui nhộn vừa có giá trị khoa học thực tiễn 

Thí nghiệm này mở ra một ý tưởng mang tính cách mạng: bảo vệ gia súc khỏi côn trùng mà không cần dùng đến bất kỳ loại thuốc trừ sâu hóa học nào .

SƯU TẦM. 

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2026

Hồi ức : BỮA SÁNG NGÀY XƯA - St trên FB.

   


BỮA SÁNG NGÀY XƯA. 

Năm 1990 – Bữa sáng ngày xưa và bữa sáng bây giờ: Cái đói đi học, cái no lại khó ăn**

“Hồi đó tụi nhỏ đi học bụng đói queo… còn giờ no đủ lại phải năn nỉ từng muỗng.”

Bữa sáng hồi đó nói thiệt… nhiều khi không có gì gọi là bữa sáng.

Đứa thì vét chén cơm nguội chan nước mắm, ăn đỡ rồi xách cặp đi học.

Đứa nghèo hơn nữa, chỉ uống ca nước lã cho đỡ xót ruột rồi đi luôn.

Đường đất dài thâm thẩm, hai bên ruộng lúa mênh mông. Bụng đói cồn cào mà vẫn ráng đi cho kịp giờ.

Vô tới lớp, bụng réo từng cơn cũng hổng dám nói. Chỉ cúi đầu học, lâu lâu nuốt nước miếng cho đỡ đói. Thấy bạn có cục khoai, miếng chuối mà thèm đứt ruột… rồi cũng quay mặt đi, làm bộ hổng thấy.

Cái nghèo hồi đó nó vậy đó – im im mà thấm dữ lắm.

Còn bây giờ…

Bàn ăn sáng đầy đủ: hủ tiếu nóng hổi, ổ bánh mì thơm lừng, ly sữa còn bốc khói....

Mà con nít lại hổng chịu ăn.

Phải đút từng muỗng, phải năn nỉ: “Ăn đi rồi lát má mua đồ chơi, cho coi điện thoại…”

Có khi ăn một bữa sáng mà kéo dài gần cả tiếng.

Ngày xưa – thiếu ăn nhưng hổng dám bỏ học.

Ngày nay – đủ đầy mà ăn uống lại thành chuyện khó.

Chén cơm nguội năm xưa tuy đạm bạc…

mà nuôi lớn cả một tuổi thơ nghèo, nhớ quài !...

Thạnh Phú hôm nay (FB) 

Suy ngẫm : CHUYỆN 2 CÁI KẸP - St trên FB.

 



CHUYỆN 2 CÁI KẸP 

Con người từng biết cách làm ra những thứ để gắn bó lâu dài.

ha tôi đưa cho tôi hai chiếc kẹp phơi đồ.

Ông nói nhẹ:

“Nhìn đi… đây là câu chuyện của cả một thời.”

Một tay, ông đặt chiếc kẹp từ những năm 1960. Gỗ đặc, cứng cáp. Bề mặt đã mòn đi theo năm tháng, nhưng lại mịn màng theo cách rất riêng. Sáu mươi năm trôi qua, nó vẫn kẹp chắc như ngày đầu.

Tay còn lại là chiếc kẹp của năm 2025. Nhẹ hơn, gỗ nhạt màu, cảm giác mong manh. Lò xo nhỏ, lỏng lẻo. Trên bao bì ghi “siêu bền”, khiến cha tôi chỉ nhướng mày.

Nhìn qua, chỉ là hai chiếc kẹp.

Nhưng thật ra, chúng đang kể một câu chuyện lớn hơn nhiều.

Một bên là thứ được làm ra để dùng lâu.

Một bên là thứ được làm ra để… sớm hỏng.

Từ chỗ trân trọng độ bền, con người dần chuyển sang tiêu dùng nhanh.

Từ tay nghề và sự chăm chút, mọi thứ bị kéo về giá rẻ và sản xuất hàng loạt.

Từ trách nhiệm, chuyển thành thói quen mua rồi bỏ.

Người ta tạo ra sản phẩm mà chính họ biết sẽ không bền.

Để rồi ta phải quay lại mua lần nữa.

Mọi thứ hỏng đi rất khẽ.

Sợi dây sờn dần.

Bản lề nứt ra.

Lò xo yếu đi.

Không phải vì ta muốn nhiều hơn.

Mà vì thứ cũ chưa từng được làm để tồn tại lâu.

Hệ quả hiện ra khắp nơi.

Bãi rác đầy lên.

Ví tiền vơi đi.

Và sâu hơn nữa, trong suy nghĩ của mỗi người…

Ta bắt đầu quen với việc mọi thứ đều tạm bợ.

Không có gì cần giữ lâu.

Rồi tôi tự hỏi…

Liệu cách nghĩ này có dừng lại ở đồ vật không?

Hay nó len vào cả cách ta đối xử với nhau.

Với các mối quan hệ.

Với cộng đồng.

Với ngôi nhà mình sống.

Thậm chí… với chính Trái Đất.

Như thể mọi thứ đều có thể thay thế.

Có thể bỏ đi.

Nhưng không nhất thiết phải như vậy.

Chiếc kẹp cũ kia nhắc tôi nhớ rằng…

Con người từng biết cách làm ra những thứ để gắn bó lâu dài.

Và nếu đã từng làm được, thì vẫn có thể làm lại.

Chất lượng vẫn còn giá trị.

Sự chăm chút vẫn có ý nghĩa.

Ý định khi tạo ra một thứ gì đó… vẫn quan trọng.

Ta có thể chọn làm thứ gì đó để sửa được, để truyền lại, để giữ lại.

Hai chiếc kẹp nằm gọn trong lòng bàn tay.

Nhưng câu chuyện của chúng thì lớn hơn rất nhiều.

Nó nói về lựa chọn.

Và về thế giới mà những lựa chọn đó đang âm thầm tạo ra.

ST TRÊN FB. 

Cuộc sống : CÁI MÁY ATM - St trên mạng.

 


"CÁI MÁY ATM"

Khi tôi hỏi ngày cưới của con trai mình, con dâu trả lời: “Tụi con cưới hôm qua rồi. Chỉ dành cho VIP thôi.” Một tuần sau, nó gọi điện đòi tiền thuê nhà. Tôi nói: “Mẹ đã cảnh báo con rồi mà…?”

​Những câu nói đó đập vào tôi đau điếng.

"​Chỉ dành cho VIP".

​Tôi đứng trong chính căn bếp của mình, tuổi đã ngoài bảy mươi mốt, nhìn chằm chằm vào người phụ nữ suốt ba năm qua đã lĩnh tiền của tôi và gọi tôi là “mẹ” khi cần tiền. Con trai tôi, Ethan, đứng sau nó, im lặng, mắt dán xuống sàn.

​Chúng đã không mời tôi. Thậm chí không báo cho tôi biết.

​Và giờ thì chúng đang cười toe toét.

​Trong suốt ba mươi sáu tháng, tôi đã trả $1.800 tiền thuê nhà cho chúng. Tôi trả tiền chợ, sửa xe, thậm chí cả chiếc váy cưới màu hoa oải hương của nó—chiếc váy tôi sẽ không bao giờ được thấy nó mặc. Bảy mươi bảy nghìn năm trăm đô la “viện trợ”, mỗi xu đều được ký tên dưới danh nghĩa tình yêu.

​“Chỉ gia đình thôi,” nó nhắc lại, giọng ngọt như mật, độc như nọc. “Gia đình thực sự.”

​Tôi không khóc. Tôi chỉ gật đầu, bởi cuối cùng tôi đã hiểu vị trí của mình: không phải mẹ, không phải khách mời—chỉ là cây ATM không đáy.

​Một tuần sau, điện thoại reo. Giọng nó vui vẻ, thản nhiên. “Tiền thuê nhà trễ rồi. Mẹ chuyển khoản chưa?”

​Tôi nhìn ra biển qua khung cửa sổ, nhìn căn biệt thự mà Harold và tôi đã xây nên bằng bốn mươi năm lao động và năm mươi năm tin tưởng. “Mẹ đã cảnh báo con rồi mà?” tôi nói khẽ.

​Nó khựng lại. “Cảnh báo con chuyện gì?”

​“Điều kiện.”

​Cạch. Im lặng.

​Tối hôm đó, tôi ngồi vào bàn ăn—cái bàn từng rộn rã tiếng cười—và trải hết các hóa đơn ra. Ba mươi sáu tờ séc thuê nhà. Hóa đơn đi chợ. Hóa đơn sửa chữa. Cuốn sổ cái ghi lại sự hào phóng của chính tôi. Tổng số tiền nhìn chằm chằm vào tôi như một vết thương: $77.500. Tình mẫu tử của tôi, được tính bằng con số.

​Tôi nhìn chiếc ghế trống của Harold. “Tôi chỉ là một cái máy rút tiền thôi,” tôi lầm bầm. Và rồi, lần đầu tiên, tôi mỉm cười. Bởi vì cái máy đó đã hỏng rồi.

​Khi chúng yêu cầu chìa khóa căn biệt thự năm triệu đô la của tôi, tôi không la hét. Không van xin. Tôi bảo chúng có thể lấy—sau khi đáp ứng điều kiện của tôi. Sáu tháng tiền thuê nhà tự trả, và một thỏa thuận ký kết từ bỏ mọi quyền thừa kế.

​Sự im lặng ở đầu dây bên kia thật tuyệt vời.

​Ba ngày sau, xe của chúng vẫn chạy thẳng vào đường lái xe—nó đeo kính râm, còn thằng con tôi thì tránh nhìn vào mắt tôi. Chúng bước qua cửa nhà tôi như những kẻ chinh phạt.

​“Rộng rãi thật,” nó lẩm bẩm. “Hoàn hảo để tiếp đãi khách.”

​“Đây là nhà của tôi,” tôi nói.

​“Không lâu nữa đâu,” nó cười toe. “Chìa khóa, làm ơn.”

​Tôi nhìn nó và nhìn thằng con trai mà tôi đã nuôi lớn bên cạnh nó, và tôi cảm thấy bốn mươi năm kiên nhẫn của mình đã hóa thành thép. “Chỉ VIP mới được giúp đỡ. Con nhớ chứ?”

​Nụ cười nhếch mép của nó lung lay. Ethan đỏ mặt. “Mẹ, đừng làm mọi chuyện khó khăn hơn—”

​“Khó khăn hơn?” Giọng tôi bình tĩnh, nhưng không khí như rung lên. “Mẹ đã làm mọi thứ dễ dàng cho các con rồi. Bảy mươi bảy nghìn năm trăm đô la dễ dàng. Cái máy hỏng rồi, giờ không còn gì nữa.”

​Mặt nó méo đi. “Mẹ sẽ hối hận đấy.”

​“Mẹ đã hối hận rồi,” tôi nói.

​Chúng rời đi trong im lặng, bánh xe văng tung tóe sỏi đá. Lần đầu tiên, ngôi nhà trở nên yên tĩnh—và an toàn.

​Sáng hôm sau, tôi đến ngân hàng. Tôi hủy bỏ mọi khoản chuyển khoản tự động, mọi sự rò rỉ âm thầm mà tôi đã cho phép. Giám đốc nhìn tôi với ánh mắt giống như sự tôn trọng. “Bà Clark,” anh ta nói, “đã đến lúc bà giữ lại thứ gì đó cho riêng mình rồi.”

​Tối hôm đó, khi tôi khóa những cánh cửa mới của biệt thự, tiếng sóng biển gầm gừ bên ngoài như một tràng pháo tay. Tôi không phải là nạn nhân. Tôi không phải là ngân hàng. Tôi là một người phụ nữ có điều kiện—và có giới hạn.

​Khi điện thoại reo lần nữa, tôi để nó kêu.

​Bởi vì cuối cùng tôi đã nhớ ra quy tắc quan trọng nhất:

Yêu không có nghĩa là phải đầu hàng.

​Và cái máy ATM kia?

Nó vẫn tiếp tục hỏng.

St trên mạng. 

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2026

Nhìn ra : BẮT ĐẦU TỪ $70... - St trên mạng.

 


BẮT ĐẦU TỪ $70...

Cậu Bé Ryan: Bắt Đầu Từ $70 Để Thay Đổi Thế Giới

Cậu bé chỉ mới sáu tuổi khi quyết định thay đổi thế giới.

Tên cậu là Ryan Hreljac, sinh ra ở Canada vào tháng 5 năm 1991.

Một ngày nọ, trong lớp học, cô giáo giải thích về cuộc sống của trẻ em ở châu Phi: rất nhiều em chết vì khát, trong khi cậu chỉ cần mở vòi nước là có nước uống. Những lời này đã khắc sâu trong tâm trí cậu bé. Với sự nghiêm túc của một đứa trẻ, Ryan hỏi:

“Thưa cô, xây một cái giếng để cho những đứa trẻ đó có nước uống thì tốn bao nhiêu tiền ạ?”

Câu trả lời thật đơn giản: khoảng 70 đô la.

Ryan chạy về nhà và tuyên bố với mẹ mình, Susan, rằng cậu cần số tiền này. Mẹ cậu mỉm cười và nói rằng cậu phải tự mình kiếm lấy. Bà giao cho cậu những việc nhà lặt vặt, mỗi tuần kiếm được vài đô la tiền công.

Sau vài tháng, Ryan đã gom đủ 70 đô la và đến tổ chức từ thiện WaterCan. Tại đó, cậu mới biết sự thật: chi phí thực sự để xây một cái giếng không phải là 70 đô la, mà là 2.000 đô la.

Mẹ cậu cố gắng giải thích rằng việc kiếm số tiền lớn như vậy là điều không thể. Nhưng Ryan đã không bỏ cuộc. “Vậy thì con sẽ quay lại khi con kiếm đủ tiền,” cậu nói, với quyết tâm của một người trưởng thành.

Và cậu đã giữ lời hứa. Cậu tiếp tục làm việc, gõ cửa nhà hàng xóm, vận động các bạn cùng lớp. Quyết tâm của cậu đã truyền cảm hứng cho tất cả mọi người: anh chị em, bạn bè, thầy cô.

Vào tháng 1 năm 1999, nhờ nỗ lực không ngừng nghỉ của cậu bé, chiếc giếng đầu tiên đã được đào tại một ngôi làng ở miền bắc Uganda.

Sau khi dự án hoàn thành, trường học của Ryan đã quyết định kết nghĩa với trường học của ngôi làng đó. Qua đó, Ryan làm quen với Akana, một cậu bé người Uganda phải đi bộ hàng cây số mỗi ngày để đến trường.

Cảm động trước câu chuyện này, Ryan xin phép cha mẹ cho cậu được gặp Akana. Năm 2000, cậu đặt chân đến châu Phi và thấy hàng trăm người đang chờ đợi cậu, xếp thành một hàng danh dự dài và hô vang tên cậu.

“Họ thực sự biết tên con sao?” cậu bé hỏi, không thể tin được.

“Không chỉ ở đây. Trong vòng một trăm cây số, ai cũng biết tên con,” người hướng dẫn trả lời.

Ngày nay, Ryan đã 33 tuổi. Cậu điều hành quỹ từ thiện của riêng mình và đã góp phần xây dựng hơn 400 giếng nước tại châu Phi, mang lại nước uống, sự sống và hy vọng cho hàng trăm nghìn người.

Sự cam kết của cậu không chỉ dừng lại ở đó: cậu còn hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo cộng đồng địa phương cách quản lý và bảo trì nguồn nước quý giá này.

Trong khi chúng ta thường để bản thân bị cuốn vào những điều phù phiếm, câu chuyện của Ryan nhắc nhở chúng ta ý nghĩa thực sự của việc trở thành một anh hùng: đó là có đủ can đảm để không quay mặt làm ngơ và tin rằng ngay cả đôi tay của một đứa trẻ cũng có thể thay đổi số phận của rất nhiều người.

St trên mạng. 

Thơ : TRONG MẮT ANH - Tây Sơn.

 .               



TRONG MẮT ANH

                       

Anh choàng tấm lụa hồng lên thân ngọc

Giữ hương xuân trên suối tóc hò reo

Vuốt quanh eo cho quá khứ bay vèo

Rèm mi khép giọt lệ treo nhún nhảy


Tay nâng niu đôi môi hồng mấp máy

Ngực căng tròn mây mẩy vị trinh nguyên

Mặc đời gieo vào em mấy tật nguyền

Đàn bà cũ buồn riêng chưa liền sẹo


Trong mắt anh khoảng trời yêu thật khéo

Tay dịu dàng gọt đẽo những nếp nhăn

Gạn đục Em trong trắng tựa chị hằng

Gom lại đủ thuở tròn trăng tinh khiết


Tan vào nhau, chảy vào nhau mãnh liệt

Thu nhúng nhường Xuân ghì siết lên ngôi

Trong mắt yêu hai nửa quá tuyệt vời 

Tình không cũ Em với Tôi không cũ.

TÂY SƠN.

Hồi ức : KÝ ỨC TUỔI THƠ - St trên FB.

 



KÝ ỨC TUỔI THƠ. 

“Có những vị ngọt… cả đời này mình không bao giờ ăn lại được nữa.”

Hồi cỡ năm 1996…

Trong cái sóng chén (tủ gạc-măng-rê cũ) của má, lúc nào cũng có một hũ đường cát.

Người lớn để nấu ăn…

Còn tụi nhỏ tụi tui thì coi như “của để dành”.

Mỗi lần trưa đứng bóng, nhà im re,

má nằm võng quạt phe phẩy ngoài mé hè…

tụi tui lén lén mở tủ.

Cái tiếng “cọt kẹt” nhỏ xíu thôi,

mà nghe như vang khắp nhà.

Xúc lẹ một muỗng đường,

bỏ cái rẹt vô miệng…

ngọt lịm, dính cả đầu lưỡi,

mà thấy vui mắc cười, đứa này nhéo đứa kia để nhịn cười.

Ăn xong còn lấy tay vuốt lại cho mặt đường bằng phẳng,

tưởng đâu má hổng hay.

Ai dè…

má chỉ cần liếc một cái là biết liền.

Có bữa bị rầy, đứng cúi đầu,

miệng còn dính đường…

mà trong lòng thì vừa sợ, vừa mắc cười.

Giờ lớn rồi…

muốn ăn ngọt cỡ nào cũng có.

Mà lạ cái…

không còn thấy ngon như hồi đó nữa.

Chắc tại…

không còn cái tủ gỗ cũ mỗi lần mở là nghe “cọt kẹt”…

không còn những buổi trưa nín thở đi ăn vụng…

và…

cũng không còn má đứng đó,

giả bộ la… rồi quay đi lau nước mắt.

Tự nhiên nhớ quá…

mà không biết tìm lại ở đâu.


St trên FB. 

 



KINH XÁNG XÀ NO

(Mời đọc cho biết kẻo đi hết đồng bằng sông Cửu long mà không biết chi ... ?!)


    Là con kênh vừa rộng vừa sâu lại vừa thẳng chảy qua TP Vị Thanh, thủ phủ tỉnh Hậu Giang mới, cách TP Cần Thơ tròn vo 40 km. Nghe đồn, thỉnh thoảng từ dòng kênh này vọng lên câu hò dài thõng thượt, buồn man mác:

Hò ơ… 

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

Anh có thương em thì mua một con đò

Để em qua lại thăm dò ý anh

Hò ơ…

    Kinh hay kênh?

    Thằng Tây gọi sông nhân tạo (do người đào mới hoặc nạo vét rạch cũ) là canal, dân Ăng Lê kêu là channal, dân ta phiên âm thành kênh. Thế mới có bài hát “Con kênh ta đào chưa có nước chảy qua”. Người Nam Bộ có thói đọc trại: nhân thành nhơn, kính thành kiếng, và kênh thành kinh.

    Xáng và xáng cạp là sao?

    Thằng Tây gọi tàu thủy chở hàng là chaland, dân ta phiên âm là xà lan, người Nam Bộ gọi là xáng cho đơn giản. Xáng cạp là cái xáng có cần cẩu để nạo vét sông, cái miệng há ra cạp đất. Ở Nam Bộ đi đâu cũng thấy kinh xáng (là kinh đào bằng xáng cạp, không phải bằng sức người), cầu xáng (bắc qua kinh xáng) và các địa danh ngồ ngộ: ấp Xáng Mới (nơi kinh xáng mới đào), xóm Xáng Chìm (nơi có chiếc xáng bị chìm), chợ Xáng Nổ (nơi bị nổ máy xáng khi thi công), v.v. Cũng từ đó xuất hiện câu tục ngữ "Ăn như xáng múc, làm như lục bình trôi" và câu hò của chàng trai Hai Lúa ra cái vẻ chung tình:

Hò ơ...

Chừng nào chiếc xáng nọ bung vành

Tàu Tây kia liệt máy anh mới đành bỏ em

Hò ơ...

    Sao lại Xà No?

    Người Khmer gọi sông nhỏ là preak (rạch), xóm làng là srok (sóc), cây điên điển là snor (xà no). Xưa có con rạch chảy qua một làng có hàng điên điển (hoa vàng rộm, nấu canh chua cá lóc ngon hết sảy) kín hai bờ, người Khmer gọi là Preak Srok Snor, nghĩa là Sông nhỏ chảy qua làng điên điển. Người Việt phiên âm là Rạch Xà No.

    Chiếm xong 3 tỉnh miền Tây, Pháp xúc tiến ngay việc khai thác thuộc địa, thuê dân ta đào các kinh Trà Ôn (1875), Chợ Gạo (1877), Ô Môn (1896) để tưới tiêu và giao thông thủy. Năm 1901 Pháp dùng xáng cạp nạo vét rạch Xà No và đào nối dài, thế là có tên Kinh Xáng Xà No. Sách Lịch sử khẩn hoang miền Nam ghi: “Kinh Xà No thi công đến tháng 7-1903 thì hoàn thành. Bề ngang trên mặt rộng 60 mét, đáy 40 mét... Xáng đào chạy bằng hơi nước với những giàn gàu bằng sắt. Máy của xáng mạnh 350 mã lực, mỗi gàu múc được 375 lít, thổi bùn ra xa 60 mét. Từ xa trông chiếc xáng giống như chiến hạm, máy nổ ầm ầm vang xa năm ba cây số ngàn”.

    Ngàn là sao?

    Là nghìn, người Nam Bộ gọi trại ra ngàn.

    Để mở rộng diện tích canh tác, cứ 1.000 mét dọc theo kinh Xà No lại đào 1 kinh nhỏ cắt ngang, gọi là kinh sườn lớn. Giữa 2 kinh sườn lớn, cách đều 500 mét lại có 1 kinh sườn nhỏ. Nơi có kinh sườn lớn đầu tiên gọi là ngã tư Một Ngàn (cách điểm xuất phát 1.000 mét), rồi đến Một Ngàn Rưỡi, Hai Ngàn… Khi đến ngã tư Mười Bốn Ngàn Rưỡi thì mệt quá, không đếm nữa. Bởi thế nay mới có thị trấn Một Ngàn, chợ Ba Ngàn Rưỡi, vàm Chín Ngàn, v.v.

    Vàm là gì?

    Là rẻo đất nơi kinh sườn gặp kinh chính hay sông nhỏ đổ ra sông lớn. Bởi thế mới có các địa danh: thị trấn Vàm Láng, cầu Vàm Cống, sông Vàm Cỏ, v.v. Kinh Xà No là đầu mối giao thông thủy rất quan trọng, dân kéo đến các vàm định cư đông đúc, thế là có chợ Vàm Xáng (lập năm 1907), chợ Bảy Ngàn (1909) và xuất hiện một nghề đặc trưng chèo thuyền bán hàng dạo từ vàm nọ đến vàm kia: nghề bán vàm.

    Sao lại Hậu Giang?

    Là “sông gặp sau". Thời các chúa Nguyễn mang gươm đi mở cõi, vào đến đây thấy 2 dòng sông to vật vã, bèn gọi dòng sông gặp trước là Tiền Giang, sông gặp sau là Hậu Giang.

    Tỉnh Hậu Giang hiện nay mang tên tỉnh Chương Thiện từ 1961. Năm 1976 người ta làm ăn lớn, nhập 2-3 tỉnh làm một. Bí tên để đặt, họ lấy béng tên sông tên núi đặt cho tỉnh mới, ví như các tỉnh Hoàng Liên Sơn, Sông Bé, Tiền Giang, Hậu Giang, v.v. Nhập chán thì tách. Năm 1991 tỉnh Hậu Giang tách thành 2 tỉnh Sóc Trăng và Cần Thơ. Năm 2003 tỉnh Cần Thơ lại tách đôi thành tỉnh Hậu Giang mới và TP trực thuộc TƯ Cần Thơ.

    Thật éo le, nếu như TP Cần Thơ trải dài theo hữu ngạn sông Hậu Giang thì tỉnh Hậu Giang chỉ có một đoạn rất chi là ngắn dính với dòng sông mà nó mang tên. Bù lại, trong số 10 tỉnh ở Nam Bộ cùng có huyện Châu Thành thì Hậu Giang được hẳn 2 huyện: Châu Thành và Châu Thành A. 

    Ngộ quá hể!

    (Chuyện cũ viết lại).


Tố Ngọc Trần Sưu tầm

Hương xưa : TÔI VÀ SÀI GÒN... - Đỗ Duy Ngọc.

 

TÔI VÀ SÀI GÒN…

( Hình ảnh minh họa st trên mạng - Xem cuối bài. )

Tôi vốn không phải là dân Sài Gòn. Tôi là thằng con trai miền Trung vô Sài Gòn kiếm cái chữ từ những năm cuối của thập niên sáu mươi, đầu bảy m của thế kỷ trước. Là thằng sinh viên nghèo tự lập chẳng ai nuôi nên tôi chỉ quanh quẩn ở những xóm lao động của Sài Gòn hoa lệ thời ấy.

Để tiện việc học hành, và vì lúc đấy cũng chẳng có phương tiện di chuyển, tôi bám trụ khu Trương Minh Giảng suốt quãng đời đi học. Cho đến khi đi làm mua nhà, tôi vẫn quanh quẩn khu vực ấy. Thế nên Sài Gòn trong tôi là những xóm nghèo, Sài Gòn với tôi là những người lao động nghèo, những căn nhà nho nhỏ, lụp xụp bên bờ kinh Nhiêu Lộc mà bây giờ không còn nữa. Ngay đống rác ngay chân cầu Trương Minh Giảng thuở xưa cũng là nơi ghi dấu nhiều ký ức cùa tôi một thời đã đi qua không trở lại.

Lúc mới vào Sài Gòn, tôi mê những hàng cây. Những cây me đường Nguyễn Du với những quán cà phê ven vỉa hè. Tôi và bè bạn rong chơi ở đấy suốt đời sinh viên để ngắm những hàng me, để đón những lá me nhỏ xíu rớt trên vai mình, để nhìn những hạt mưa bay bay trên những vòm lá xanh biếc màu ngọc bích và để yêu một thành phố. Tôi cũng mê những buổi chiều đi lang thang sau giờ học ở Đại học Văn khoa, đến cuối đường Gia Long, ở gần nhà thương Grall để ngắm hai hàng cây giao nhau và cuối con đường là chủng viện Công giáo với tường màu gạch đỏ. Cảnh đó giống như một tác phẩm nghệ thuật và lúc đó tôi nghĩ đây là con đường đẹp nhất Sài Gòn. Đi thêm một đoạn nữa, ta ngỡ ngàng với hàng cây cổ thụ vươn cao từ khu Ba Son chạy ra Cường Để, những hàng cây thẳng tắp luôn khiến con đường nhiều bóng mát điểm những bóng nắng loang lổ như một bức ảnh đẹp được chụp bởi một tay máy nghệ sĩ.

Tôi cũng thích bách bộ lang thang đến đường Đoàn Thị Điểm (bây giờ là Trương Định) để ngắm những ngôi nhà sang trọng nhưng rất thanh lịch thấp thoáng sau hàng rào đầy hoa và con đường nhiều bóng râm. 

Nhiều lần đi kiếm cơm ăn ké bạn bè ở Đại học xá Minh Mạng, tôi cũng ngắm nhìn những hàng cây cao vút cạnh ngôi nhà thờ màu đỏ như gợi nhớ một bức tranh nào đó đầy màu sắc của hoạ sĩ Đinh Cường. 

Có nhiều đêm, đi qua ngôi nhà lớn ở đầu đường Trương Minh Giảng tôi nghe tiếng dế gáy ở bụi cỏ và hương ngọc lan thơm ngát từ ngững cây ngọc lan cổ thụ trong sân toà nhà dưới ánh đèn đường mờ đục.

Tiếng dế và hương thơm ngọc lan vẫn nằm trong ký ức của tôi đến tận bây giờ bởi con đường đó gắn với tôi biết bao kỷ niệm của một mối tình không thể nào quên.

Kể nhiều vòm cây khóm lá để thấy ấn tượng đầu tiên của một chàng học trò tỉnh lẻ đến Sài Gòn chính là những con đường với những hàng cây rợp bóng.

Đến bây giờ, tôi đã ở Sài Gòn được gần nửa thế kỷ. Chưa bao giờ có ai hỏi tôi là người gốc Sài Gòn hay là dân Sài Gòn xịn, dù đã ở lâu xứ này, tôi vẫn nói giọng Quảng dù đã nhẹ hơn người chánh gốc Quảng. Ở đất này, ai đã đến và sinh sống ở đây đều là người Sài Gòn. Sài Gòn có nhiều người Bắc di cư năm 1954. Sài Gòn cũng có nhiều người miền Trung từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Bình Định. Sài Gòn còn có rất nhiều người miền Tây lên, từ miền Đông Nam bộ đến. Nhưng dù họ đến từ đâu, họ ở đây đã là dân Sài Gòn, chẳng có ai phân biệt, chẳng có ai thắc mắc. Và đó cũng là đặc điểm đặc biệt của người Sài Gòn khác với Hà Nội.

Đêm đầu tiên khi đặt chân đến Sài Gòn, tôi ngủ trên ghế đá chỗ vườn hoa Tao Đàn. Nửa đêm tôi bị đánh thức bởi hai người cảnh sát. Bởi thời đó thiết quân luật từ nửa đêm, không ai được ra đường. Sau khi đưa giấy tờ và kể lể hoàn cảnh vừa mới từ miền Trung vào đi học, chưa kiếm được người quen. Một anh cảnh sát bảo: Miền Trung à? Ái chà chà, mấy ông sinh viên quê ngoài ấy khoái theo Việt cộng lắm. Tui chẳng biết nói sao đành chịu bị giải về cái bót cảnh sát ở ngay góc chợ Bến Thành. Tui nằm ở đó một đêm, sáng ra có một ông sĩ quan cảnh sát đến, bảo tôi đi học thì gắng mà học hành, đừng nghe lời mấy tay Việt Cộng mà tiêu đời. Ông ta móc bóp, cho tôi tiền ăn sáng và uống cà phê. Đó là cái tình của người Sài Gòn đầu tiên trong đời tôi và gây cho tôi ấn tượng về con người ở xứ này. 

Trong những ngày đói rách, khó khăn của cuộc đời, những người Sài Gòn, những người nghèo Sài Gòn đã bảo bọc, giúp đỡ tôi qua cơn khốn khó. Tôi không quên được cô gái bán cơm ở chợ Trương Minh Giảng. Thuở đó, tôi thất nghiệp, chẳng kiếm ra tiền, chắt bóp, vơ vét túi chỉ đủ gọi dĩa cơm trắng rồi xin miếng xì dầu ăn qua bữa. Ăn được ba hôm như thế thì cô bán cơm hỏi sao không thấy anh ăn thức ăn, đành nói dối tôi ăn chay. Cô ấy chỉ cười, không nói. Nhưng mấy hôm sau, dĩa cơm xì dầu của tôi luôn có dưới lớp cơm trắng khi thì miếng đậu hủ, lúc thì miếng thịt hoặc cái hột vịt kho. Được mấy hôm, tôi mắc cỡ, không dám ra ăn nữa. Sau đó lại kiếm được việc bán báo ở tận đường Phạm Ngũ Lão, tôi không ăn cơm ở đó. Thời gian sau tìm lại thì quán đã đổi chủ rồi, tôi chẳng tìm được lại cô gái bán cơm có nụ cười rất tươi và tấm lòng nhân hậu.

Ăn uống thiếu thốn lại tạng người không khoẻ, tôi hay bệnh vặt. Chính những người hàng xóm rất nghèo của tôi đã giúp tôi qua được những cơn bệnh, giúp tôi có chén cháo, viên thuốc. Cái tình đó tôi làm sao quên. Sau này ở lâu, tôi mới hiểu ra đó là bản chất của người Sài Gòn. Là cái tính ưa giúp người hoạn nạn, giúp kẻ sa cơ, tính ưa làm việc thiện của người Sài Gòn.

Mỗi lần đi xa rời Sài Gòn lâu, nhớ về Sài Gòn tôi chỉ nhớ những hàng cây và những người Sài Gòn tôi đã gặp, đã sống chung với họ một quãng đời. Người ta hay khen Sài Gòn với những cao ốc, những dinh thự, những khu ăn chơi bốc trời, những hàng quán xa hoa, những chiếc xe đắt tiền, những thú vui hoan lạc. Riêng tôi, trong tôi, Sài Gòn là vòm cây xanh lá, là những ngôi nhà bên dòng nước đen và ở đó tôi tìm thấy tình người.

Bây giờ, Sài Gòn đã đổi tên. Thế nhưng tôi vẫn gọi là Sài Gòn như một thói quen, cái tên của ký ức không thể nhạt phai. Người ta đang tìm đủ cách để thành phố này không còn ký ức của Sài Gòn. Nhưng với người Sài Gòn, Sài Gòn mãi mãi là Sài Gòn mà không có một cái tên nào khác có thể thay thế được.


Đỗ Duy Ngọc.



Thứ Tư, 25 tháng 3, 2026

Tuổi thơ : CON DẾ CỒ LỬA - Lê Văn Thông.

 



CON DẾ CỒ LỬA 

Tuổi thơ của tôi bắt đầu bằng những buổi sáng rất sớm, khi trời còn mờ sương và tiếng gà trong xóm bắt đầu gáy. Hồi đó nhà tôi lợp mái bằng cỏ  tranh. Những tấm cỏ tranh cũ lâu lâu lại được dỡ xuống thay mới, rồi đem chất phía sau nhà.

Chính từ những tấm cỏ tranh cũ ấy mà tôi biết đến thế giới của những con dế.

Có một đêm  mưa lớn. Sáng hôm sau, ba tôi ra sau nhà dọn lại đống cỏ tranh. Khi vừa lật mấy tấm cỏ tranh lên, mấy con dế từ trong kẽ rơm rạ nhảy tứ tung. Ba cười, bắt mấy con dế bỏ vào tay tôi và em gái .

“Các con đem bỏ vào lon sữa bò để chơi.”

Từ bữa đó, tôi mê dế lúc nào không hay.

Sáng nào cũng vậy. Khoảng năm giờ, khi nhà ông ngoại tôi sát nhà tôi bắt đầu đọc kinh buổi sáng, tôi đã lồm cồm ngồi dậy. Trời còn mờ tối, tôi chạy ra sau nhà lật ổ rơm, mấy tấm đưng,vạch mấy đống chà cây. Chỉ cần khéo tay một chút là bắt được dế.

Dế ở quê tôi nhiều lắm: dế than màu đen bóng, nhanh và dữ,dế xám thân to, sức khỏe bền bỉ. Còn dế lửa thì đỏ au như than hồng, vừa đẹp vừa hung hăng.

Các bạn nhỏ trong xóm còn có cách gọi riêng. Con dế trống to và khỏe thì  gọi là dế Cồ: Cồ lửa, Cồ than, Cồ xám. Hễ bắt được con nào lớn, càng to là tụi tôi mừng lắm, vì biết chắc đó là một con dế Cồ đá rất dữ.

Bắt được dế, tôi bỏ vào cái hộp gỗ nhỏ. Ba tôi đóng cho bằng mấy miếng ván vụn, khoan vài lỗ nhỏ cho thoáng hơi. Bên trong tôi lót ít rơm khô và lá cỏ non.

Trưa đi học về, tôi lại mở hộp ra xem.

Đêm xuống, đặt cái hộp gỗ bên cạnh giường, tôi thường nghe tiếng dế gáy râm ran trong bóng tối. Tiếng dế kêu từng hồi, nghe vừa vui vừa yên tĩnh, như thể cả tuổi thơ của tôi đang nằm gọn trong cái hộp gỗ nhỏ đó.

Lúc đó em gái tôi đang bệnh nặng, em sốt suốt mấy ngày, nằm li bì trong nhà. Má tôi thức gần như cả đêm để chăm sóc em, còn ba thì chạy đi  tìm thầy thuốc trong xóm.

Có một lần tôi mang cái hộp gỗ lại gần giường cho em xem. Em mở mắt rất chậm, nhìn vào trong hộp rồi hỏi khẽ:

“Anh Hai… con dế lửa đâu?”

Tôi chỉ vào con dế  đang bò trong góc hộp, em mỉm cười rất nhẹ.

“Nó đẹp quá… tối nó có gáy không anh?”

Tôi gật đầu.

em nói nhỏ:

“Vậy anh để gần giường… cho em nghe.”

Nhưng tối hôm đó em sốt cao quá, ngủ mê man. Tiếng dế trong hộp vẫn kêu râm ran, còn em thì nóng mê sản.

Một buổi sáng , tôi gặp một cái hang nhỏ dưới chân gò mối ngoài bãi đất hoang. Nhìn dấu đất , tôi biết chắc trong đó có dế.

Tôi thò tay xuống hang.

Bỗng một cái đau nhói buốt chạy thẳng lên cánh tay.

Một con bò cạp từ trong hang chích tôi.

Cái đau lan rất nhanh, như có dòng lửa chạy trong tay. Tôi choáng váng, ngồi phịch xuống bên gò mối. Trước mắt tôi tối sầm, tai ù đi. Tôi phải nằm tại đó gần năm phút, tay ôm cánh tay đau buốt, thở từng hơi ngắn, rồi mới gượng dậy nổi.

Tôi cúi xuống nhìn lại cái hang.

Một lát sau, từ trong hang bò ra một con dế lửa.

Nó to chưa từng thấy. Cái đầu đỏ au, tròn và to gần bằng ngón tay cái của tôi. Hai cái càng dày và cong, trông dữ dằn như hai cái móc nhỏ.

Tôi nhìn một cái là biết ngay:đây là một con dế Cồ lửa.

Chiều hôm đó, tụi nhỏ trong xóm kéo nhau ra bãi đất trống trước nhà tôi để xem đá dế 

. Con dế của tôi đá thắng hết các con dế của thằng Khoai, thằng Mỹ, thằng Hòn… Nó trở thành vô địch của xóm.

Hôm sau thằng Nghĩa, ở bên xóm chợ, nhà rất giàu, tìm tới. Nó đem theo một con dế than to gần bằng con dế lửa của tôi.

Hai con dế được thả vào cái thùng thiếc.

Một thằng trong đám ngắt một cọng cỏ nhỏ chọc nhẹ vào càng dế để kích nó đá.

Bỗng con dế than lao tới.

Hai cái càng chạm nhau đánh “tách” một cái. Hai con dế quấn lấy nhau xoay vòng trong thùng.

Tụi nhỏ la ầm lên.

Bỗng con dế lửa hất mạnh một cái.

Con dế than loạng choạng lùi lại rồi quay đầu chạy.

Cả đám con nít reo ầm:

“Thắng rồi! Cồ lửa thắng rồi!”

Sau trận đó, thằng Nghĩa kéo tôi ra một góc rồi nói nhỏ:

“Nếu mày bán con dế này cho tao, tao trả năm đồng.”

Tôi nghe mà đứng sững.

Thời đó đi học mỗi ngày má cho tôi năm cắc tiền ăn xôi. Năm đồng đối với tôi lúc ấy lớn lắm, gần như cả một gia tài.

Nhưng tôi vẫn lắc đầu.

Tôi không nỡ bán con dế Cồ lửa của mình.

Vài ngày sau, bệnh của em gái tôi nặng hơn.

Rồi một buổi chiều rất lặng, em tôi ra đi trong căn nhà nhỏ của chúng tôi.

Sau khi em gái tôi mất, tôi như trở thành một con người khác.

Tôi không còn chạy ra bãi đất để tìm dế nữa. Những buổi sáng khi tiếng gà gáy vang lên trong xóm, tôi chỉ ngồi lặng trước hiên nhà.

Cái hộp gỗ nuôi dế vẫn đặt ở góc bàn, nhưng  tôi không buồn mở ra.

Như thể cùng với em gái, một phần tuổi nhỏ của tôi cũng lặng lẽ mất đi.

Tối hôm đó, tôi mang cái hộp gỗ nuôi dế ra sau nhà.

Tôi mở nắp.Dưới ánh đèn leo lét, mấy con dế lần lượt nhảy ra bãi cỏ.

Con dế Cồ lửa là con ra sau cùng.

Nó đứng lại một chút, giương càng lên như thói quen, rồi chậm rãi bò vào đám cỏ tối.

Tôi ngồi nhìn theo thật lâu.

Bỗng tôi nhớ lại câu hỏi của em gái:

“Tối nó có gáy không anh hai ? ”

Đêm đó, dế ngoài bãi cỏ vẫn kêu.

Nhưng em tôi thì không còn nghe nữa.

Con dế Cồ lửa năm ấy đã mất hút giữa đám cỏ đêm.

Còn tôi thì ngồi rất lâu bên bãi cỏ sau nhà, nghe tiếng dế kêu thưa dần trong bóng tối.Đến lúc ấy tôi mới hiểu:Tuổi thơ cũng giống như tiếng dế đêm.

Khi còn nghe, ta cứ tưởng nó sẽ kêu mãi.

Chỉ đến một đêm nào đó, giữa khoảng sân cũ của đời mình, ta mới chợt nhận ra ,tiếng dế vẫn còn ngoài bãi cỏ,nhưng người mà ta từng muốn cho nghe tiếng dế ấy đã không còn nữa.

Và từ đêm đó,

tuổi thơ của tôi

cũng lặng lẽ đi xa


( Tác giả: Lê Văn Thông)

Thơ : THÁNG BA VỀ... - Nhật Hạ.

 



THÁNG BA VỀ...

Tháng Ba về, anh có nhớ gì không?

Cơn mưa xuân giăng mờ trên phố nhỏ

Chiều êm trôi, rực màu hoa gạo đỏ

Nắng dịu dàng gọi kí ức không tên.


Tháng Ba về, em-hoa cỏ dịu êm

Đợi chờ ai, hương nồng hoa bưởi ngọt

Vầng trăng xưa khuyết tròn bao ước hẹn

Tháng Ba về thao thức những riêng mang.


Người nơi nào đã thấy tháng Ba sang

Hoa xoan tím cả một trời thương nhớ

Hoa giấu gì mắt em long lanh thế

Ánh mắt cười, vương vấn dưới hàng mi.


Tháng Ba về, vô tình gió cuốn đi

Những mong ước, câu tình ca dang dở

Tóc em bay bên khung trời rộng mở

Để “hương thầm” bịn rịn... những chờ mong.

   NHẬT HẠ.