Thứ Tư, 8 tháng 7, 2026

Thơ : NHỚ SÀI GÒN !- Hong Khuu.

 



NHỚ SÀI GÒN !

Từ dạo ra đi thương nhớ Sài Gòn

Nắng nơi ấy biết có còn rực rỡ

Trời có xanh như đã từng một thuở

Mưa có buồn trên phố nhỏ ngày xưa


Có còn không tiếng gà gáy ban trưa

Chiều hò hẹn có chợt mưa chợt nắng

Đêm trở giấc còn tiếng rao lanh lảnh

Tiếng chân khua trong thanh vắng dội về


Giờ Sài Gòn còn nồng nã bụi xe?

Khu ổ chuột đêm nằm nghe mì gõ

Bùi Thị Xuân quán xôi chè còn đó

Bến Bạch Đằng lộng gió lúc chiều rơi


Có còn không thương xá Tax một thời

Để hoài niệm mãi khung trời xưa cũ

Một mảnh vỡ đời trôi trong quá khứ

Mỗi đêm về thành nỗi nhớ không nguôi


Lúc nằm yên khi động đậy đâm chồi

Cho quay quắt một kiếp người viễn xứ

Nhấp vị cà phê đắng dòng tâm sự

Ta không về đành mang nợ người thôi


Xa thật rồi ...nhớ lắm Sài Gòn ơi!

Ngàn con chữ chẳng đủ lời diễn tả

Bước lưu lạc dắt ta qua muôn ngả

Men theo đời là tất cả nhớ thương


Có thể nào đi ngược đoạn sông buồn

Gánh thương nhớ qua mưa nguồn chớp bể

Đào ký ức tìm lại thời hoa lệ

Trăm năm về hoang phế với thời gian


Cũng đành cam cho số kiếp đa mang

Để mộng mị đổ tràn đêm hoài cổ

Sài Gòn đó một khoảng đời tuổi nhỏ

Đi bao xa cũng thương nhớ Sài Gòn

HONG KHUU. 

(Garland, 17/09/2025)

Qua rồi : CƠM KÝ TÚC XÁ - Hong Khuu.

 



CƠM KÝ TÚC XÁ

Hồi đó… lại "hồi đó"! Nghe riết muốn đập bàn, mà hễ mở miệng là nó chui ra trước. Chắc già thiệt rồi. Tuổi già kéo tới sầm sập như cơn giông tháng Bảy, biến thời gian thành ông già hàng xóm khó tánh, ngày nào cũng chống cây gậy tre gõ cộc cộc vô đầu tui mà càm ràm: "Ê, quay lại coi. Coi cái thời thanh xuân dữ dằn của mầy kìa!" Còn tương lai thì đứng tuốt tận chân trời, mỏng lét như làn sương trên sông Vàm Cỏ Đông, nhìn thấy vậy chớ với hoài không tới, cũng chẳng còn hứa hẹn được bao nhiêu. Thành thử, hễ lòng chùng xuống là tui lại lôi mấy chuyện cũ ra nhai như bò nhai cỏ khô. Nghe tưởng ngán, mà thiệt tình… ghiền dữ lắm. Người ngoài nghe chắc ngấy tới ót, còn với tui, mấy tuồng tích cũ kỹ ấy lúc nào cũng xanh rờn như đọt mồng tơi sau mưa, cứ ngọ nguậy hoài trong xó nhớ.

Vừa hé miệng là ký ức mở cửa cái rụp, kéo tay tui leo lên chiếc xe đò chạy bằng nỗi nhớ. Không cần xăng, không cần vé, chỉ cần trái tim còn biết nhớ là xe chịu nổ máy. Chiếc xe cà tàng lóc cóc ngược dòng năm tháng, bánh xe kêu két két như than thở vì già, băng qua những mùa mưa đã tạnh, những mùa nắng đã xa, rồi dừng ngay cái ngày hôm qua còn thơm mùi khói bếp, còn ấm hơi người, còn văng vẳng tiếng ai cười phía sau lưng. Thiệt ra, muốn về tuổi thơ đâu cần mua vé. Tui đi bằng câu chuyện, đi bằng nỗi nhớ, đi bằng những điều tưởng đã quên mà chưa bao giờ chịu mất. Trên con đường đó, tui gặp đủ kiểu người. Người bể nát như cái chén sành rớt xuống sân gạch. Người trầy trụa như trái xoài bị gió quật. Nhưng kỳ lạ lắm, trong đống mảnh vỡ của số phận, lúc nào cũng còn sót lại vài mảnh sáng, đủ để mình cúi xuống nhặt lên, lau sạch bụi đời rồi cất kỹ làm vốn liếng mang theo tới cuối cuộc đời.

Nhớ tới đó là ruột gan cồn cào. Nhớ cái thời sinh viên nghèo rớt mồng tơi, đi học mang theo cả bầu trời ước mơ, còn cái bụng thì rỗng tuếch, đánh trống còn đều hơn đội nghi thức. Trưa trưa, tiếng kẻng tan trường vừa boong một cái là mấy cái bao tử đồng loạt biểu tình, réo còn xôm hơn đám con nít thấy mẹ xách bịch bánh đi chợ về.

Bữa cơm ký túc xá nằm khiêm tốn trong cái dĩa nhôm móp méo, đen thui như cái đít nồi nội kho cá ở quê. Món chính thì quanh năm suốt tháng là tà hủ. Ăn riết tưởng mình đang tu khổ hạnh để sớm thành chánh quả. Hoạ hoằn lắm mới có một bữa cơm có thịt vào ngày học sinh, sinh viên mùng Chín tháng Giêng. Tin đó lan nhanh hơn gió. Đứa nào cũng ôm phiếu ăn chạy như sợ chậm một bước là con heo đổi ý. Thịt thì quý như vàng, ai cũng ráng dành lại bữa sau. Mà hồi đó làm gì có tủ lạnh. Mấy miếng thịt cứ thản nhiên nằm chung với không khí. Vậy mà lạ nghen, tui với đám bạn chung phòng hổng đứa nào bị Tào Tháo rượt. Không biết nhờ hên, nhờ bao tử gan lì, hay nhờ tuổi trẻ lúc đó nghèo tới mức vi trùng cũng thấy... tội nghiệp.

Lên căng tin, đứa nào cũng phải thủ sẵn cây muỗng. Quên đem theo thì chỉ còn nước luyện tuyệt kỹ "ngón diệu thủ". Đám con gái vừa ăn vừa lom khom đãi thóc, lựa từng hột cơm lẫn sạn, y chang Lọ Lem lựa đậu cho dì ghẻ. Chỉ khác là Lọ Lem còn có chim sẻ phụ, còn tụi tui chỉ có mấy cái bụng đói meo mốc mỏ làm cổ động viên. Mấy ông con trai thì khỏi nói. Thóc, sạn, cơm... vít đại. Lỡ cắn trúng cục sạn nghe "cốp" một cái cũng tỉnh bơ, coi như hôm đó... bổ sung thêm chất khoáng. Đói thì đói, chớ óc hài hước tuyệt đối không chịu suy dinh dưỡng. Người ta tức cảnh sinh tình, còn tụi tui tức mình sinh nói bậy. 

Rồi "kiệt tác" truyền miệng ra đời, bẻ cong bài Thu Điếu của cụ Nguyễn Khuyến thành bản trường ca của cái bao tử:

Tô canh lạnh lẽo nước trong veo

Chiếc lá mồng tơi bé tẻo teo

Cơm nhai với sạn nghe rào rạo

Vít sạn thóc ra, đánh cái vèo!

Giờ nghĩ lại vẫn thấy mắc cười. Đám sinh viên ngày đó chưa kịp học hết cái khổ đã học xong cách cười với cái khổ. Không phải vì đời dễ, mà vì nếu không cười thì nước mắt chắc cũng đủ nấu thêm nồi canh mồng tơi.

Nhưng cười đâu có nghĩa là đời chịu thương mình.

Thi đậu đại học đã trầy da tróc vảy. Học cho xong còn trầy vi tróc vảy hơn. Đến lúc ôm tấm bằng đi xin việc mới biết đó mới là cửa ải cuối cùng. Tui đây, đường đường cử nhân, tay nâng cái bằng đại học còn thơm mùi mực, lòng ôm đầy mộng tưởng. Sau bao ngày gõ cửa khắp nơi, cuối cùng cũng được nhận vô làm... nhân viên vệ sinh của một khách sạn năm sao.

Ờ, vậy đó.

Đời nhiều khi khoái chơi chữ lắm. Đang bay thì kéo xuống. Đang cười thì chọt cho khóc. Đang mơ thì lay cho tỉnh. Ngày đầu tiên cầm cây lau nhà đi giữa đại sảnh sáng choang, tui thấy cái bóng mình phản chiếu trên nền gạch còn rõ hơn cả tấm bằng cất trong ngăn tủ. Cây lau quét bụi dưới sàn, mà cũng quét luôn chút tự ái non nớt còn sót lại của tuổi trẻ. Hôm đó, tui mới hiểu: mình học để làm người, còn đời dạy mình làm lại. Tấm bằng đâu có vô dụng, chỉ là nó chưa gặp đúng cánh cửa dành cho mình.

Giờ ngồi kể lại, tui không còn thấy tủi nữa, chỉ thấy thương. Thương cái con nhỏ ngày xưa vừa đói, vừa mệt, vừa té đau mà vẫn ráng đứng dậy, phủi quần rồi đi tiếp. Thương những bữa cơm nhiều sạn hơn thịt, nhiều tiếng cười hơn nước mắt. Và thương cái cuộc đời lạ lùng, lúc tưởng mất là đang được, lúc tưởng thua là đang học, lúc tưởng đi lạc thì hóa ra lại tìm thấy chính mình.

Bởi vậy, tui kể hoài kể mãi không phải để khoe mình từng khổ, mà để nhắc lòng rằng ai rồi cũng có một thời phải lượm từng mảnh đời bể nát mà vá lại thành cuộc sống. Điều kỳ diệu không nằm ở chỗ mình chưa từng vỡ, mà là sau bao nhiêu lần nứt toác, mình vẫn còn đủ sức ngồi đây, cười một cái rồi kể tiếp.

Còn bà con thì sao? Trong đời, có cú đau nào từng quật mình té muốn gãy sống lưng, để bây giờ mỗi lần nhắc lại, miệng cười trước... rồi mắt mới kịp cay sau?

HONG KHUU.

Tản mạn : HÀO SẢNG MIỀN NAM - Lữ Minh Trí.

 


HÀO SẢNG MIỀN NAM 

(... Tôi chả thấy dân Nam hào sảng gì cả, có được cho, được nhận gì bao giờ đâu ! )

Khi đọc những dòng bình luận về sự hào sảng ở trong Nam, tôi khá buồn và nghĩ có lẽ bạn đang nhìn sai thước đo.

Bạn đang nhầm giữa hào phóng và hào sảng. 

Có những thứ không thể “thấy”, “nhận” theo kiểu thông thường. Nhiều khi phải sống cùng, đi qua vài chuyện, rồi mới cảm được.

Khí chất hào sảng Nam Bộ không chỉ ở tiền.

Ở Sài Gòn, ở miền Tây, nhiều khi nó là không khí.

Một ngày nọ, tôi ngồi ở Starbucks trên đường Nguyễn Thị Minh Khai. Nếu bạn chưa biết thì ở chỗ đó, quán không nhận tiền mặt. Có một cụ lớn tuổi đứng loay hoay muốn mua chút đồ, nhìn có vẻ là mua quà cho con cháu. Cụ lựa rất lâu, trầm ngâm tới lui, cuối cùng cũng ưng được hai món.

Tới lúc thanh toán mới kẹt. Cụ chỉ có tiền mặt, mà quán không nhận tiền mặt. Tôi thấy vậy nên bước tới, nói để cháu quẹt thẻ giúp, cụ đưa lại tiền mặt cho cháu là được.

Chuyện nhỏ thôi, không có gì đáng kể. Nhưng lúc đó, tự nhiên trong tôi bật lên rất nhiều chuyện cũ, như có ai khều nhẹ vô một cái ngăn ký ức đã lâu không mở.

Hồi nhỏ, tôi từng đi học trên những con đường đất sét ở một vùng quê nghèo. Mùa mưa, nước ngập tới đầu gối. Sáng đi rất sớm, chiều về nếu ba mẹ không đón được thì hai chị em cứ đi bộ mấy cây số về nhà. Trên đường thấy cô chú nào chạy ngang, tôi lại học lỏm một câu cửa miệng:

Cô ơi, chú ơi, cho con có giang (quá giang) về nhà.

Đa phần người ta đã chạy huốt qua (chạy lố) rồi mới dừng lại, quay đầu nhìn lại rồi kêu: Lên xe đi con.

Có khi họ chở một đoạn. Có khi không tiện thì thôi. Nhưng chỉ cần một người dừng lại, đoạn đường sình lầy hôm đó tự nhiên ngắn hơn rất nhiều.

Năm tôi mới lớp 3, mẹ tôi bị tật đãng trí đã lâu. Có hôm đưa hai đứa con đi học xong, mẹ quên mất chuyện phải đón. Hai đứa nhỏ cứ đinh ninh rằng mẹ sẽ lấy xe đạp ra rước, nên ngồi đợi miệt mài.

Tới tối khuya, ba tôi đi làm về hỏi: Con đâu em?

Cả nhà mới tá hỏa, hai đứa nhỏ vẫn còn ở trường.

Lúc đó trường đang xây mới mấy dãy phòng. Mấy chú thợ hồ thấy hai đứa nhỏ ngồi đợi tội quá, mới lôi vô căn tin, kêu bà chủ nấu cho hai gói mì con tôm. Các chú định trả tiền, mà bà chủ căn tin cũng không lấy, nói coi như cho con cháu trong nhà ăn.

Hai gói mì con tôm hồi đó, tính bằng tiền thì không đáng bao nhiêu. Nhưng với hai đứa nhỏ ngồi trong một cái trường vắng, chờ hoài không thấy ai tới đón, nó lớn hơn rất nhiều so với giá tiền của nó.

Nó làm mình nhớ hoài.

Tôi hay ăn cơm Má Tư ở Trần Cao Vân. 

Tôi gọi má, gọi tía, vì thật sự không khác gì ăn cơm nhà. Nhiều người đi cùng tôi chắc sẽ thắc mắc, sao đi ăn quán mà gọi thân như vậy. Nhưng nếu họ ngồi đó đủ lâu, ăn vài bữa, nghe vài câu chuyện, họ sẽ hiểu.

Có lần tôi ăn cơm gặp mưa, má Tư nói:

Đi vô trong xếp mấy cái ghế lại nằm ngủ trưa tí đi con. Mưa đầu mùa đi mắc mưa là bịnh nha con.

Vậy là tôi ăn cơm xong, vô trong quán xếp ghế nằm ngủ quên luôn tới chiều. Quán mát, trời mưa lả tả, mà tôi thì mất ngủ kinh niên, gặp bữa ngủ được là ngủ sâu. Buồn ngủ gặp chiếu manh.

Nghe rất khó tin, nhưng với tôi lại rất bình thường. Có những chỗ ở Sài Gòn không chỉ bán cho mình một dĩa cơm. Nó cho mình một chỗ để ngồi xuống, nghỉ ngơi, thấy mình không phải người khách lạ.

Ở Sài Gòn, chuyện ăn cơm, uống cà phê xong phát hiện có ai đó đã trả tiền giùm mà mình không biết là ai, cũng không phải chuyện lạ. Tôi từng gặp nhiều lần, và nhiều khi chính tôi cũng làm vậy. Không phải để ai mang ơn. Nhiều khi chỉ thấy hạp thì làm, thấy người ta vui thì mình vui thôi.

Có lần tôi đi ăn bún riêu ngoài Hồ Con Rùa, gần đó có một nhóm anh em thợ xây dựng đang sửa công trình. Trong nhóm có một anh dẫn theo đứa con trai nhỏ đi phụ, nhìn rất tội. Ăn xong, mấy anh gọi tính tiền thì quán nói bàn kia đã thanh toán hết rồi, có để lại lời nhắn: Trả tiền cho thằng cháu nội.

Anh có con nhỏ ngơ ngác hỏi:

Ủa, tui có quen ai đâu mà được tính tiền giùm, thằng cháu nội nào vậy? thằng con tui hả? Ba tui đi bán muối lâu rồi.

Rồi cả nhóm cười khà khà, kiểu cười rất miền Nam. Vui vì cái sự dễ thương ngang hông đó.

Người trả tiền chắc cũng đi mất rồi. Không để lại tên, không cần ai mang ơn. Chỉ có cái câu “thằng cháu nội” ở lại, nghe vừa mắc cười, vừa thương, vừa rất Nam Bộ.

Miền Tây còn rõ hơn nữa. Bạn lỡ đường, ghé đại một nhà xin miếng nước, xin nghỉ nhờ một lát, nhiều khi người ta không hỏi bạn là ai trước, mà hỏi bạn ăn cơm chưa. Cái bụng người miền Tây nhiều khi vậy đó, rộng như cái sân trước nhà, có gì dọn nấy, không giàu cũng không để khách đứng ngoài mưa.

Người xưa nói người Gia Định trọng nghĩa khinh tài. Hồi nhỏ đọc mấy chữ đó tôi thấy xa lắm, tưởng là chuyện trong sách. Lớn lên mới hiểu, có những câu không phải tự nhiên mà sống lâu. Nó sống được vì vẫn còn nằm trong cách người ta đưa cái ly nước, dọn thêm chén cơm, quay đầu xe giữa đường, nấu hai gói mì cho hai đứa nhỏ ngồi đợi mẹ.

Còn ai hỏi hào sảng, khảng khái có từ khi nào, chắc phải hỏi cụ Nguyễn Đình Chiểu, người sinh ra ở đất Gia Định. Cú phán của cụ trong Lục Vân Tiên, tới giờ đọc lại vẫn nghe như một tiếng chân bước thẳng vô chuyện bất bình:

Vân Tiên ghé lại bên đàng,

Bẻ cây làm gậy nhắm làng xông vô.

Không cần nhiều lời. Thấy chuyện không đành lòng thì ghé lại. Có cây thì bẻ cây, có tay thì đưa tay, có một bữa cơm thì mời ăn một bữa cơm.

Cái hào sảng đó không nằm ở chỗ người ta có dư bao nhiêu để cho, bao ai ăn uống. Nó nằm ở chỗ, trong khoảnh khắc thấy người khác bị kẹt, người ta không nỡ để mặc.

Nó cũng khác với câu “lá lành đùm lá rách”.

Lá lành đùm lá rách là một đạo lý đẹp, nhưng trong đó vẫn có hình ảnh người còn lành che cho người đang rách, người có điều kiện hơn đỡ người khó hơn.

Còn hào sảng miền Nam nhiều khi không đặt ai ở trên, ai ở dưới. Nó không cần người kia phải khổ tận cùng mới giúp, cũng không cần người giúp phải dư dả gì. Thấy người ta kẹt thì gỡ giùm một chút, thấy thương thì làm, thấy hợp bụng thì đãi, làm xong cười khà khà rồi thôi.

Người được giúp không thấy mình bị ban ơn, người giúp cũng không thấy mình đang làm chuyện tốt chuyện lớn lao.

Cái hay nằm ở chỗ đó.

Trong người tôi là những ký ức của một đứa nhỏ từng được rất nhiều người lạ chìa tay ra. Một đứa nhỏ từng đứng bên đường sình lầy xin quá giang, từng ngồi trong trường vắng tanh ăn hai gói mì con tôm, từng ở những quán cơm mà chủ quán xem mình như con cái, từng thấy có người trả tiền bữa ăn rồi đi mất, không để lại cái tên nào cho mình mang ơn.

Thành ra sau này, khi thấy ai đó đang kẹt, tôi hay bị một cái quán tính rất lạ: đưa tay ra trước rồi tính sau.

Có lẽ hào sảng miền Nam là vậy.

Nó không ồn ào như một bài học đạo đức, cũng không sang trọng như một lời tuyên bố về lòng tốt. Nó giống hơi nước trong một căn bếp đang nấu cơm, không ai chỉ vô đó để khoe, nhưng bước vô là thấy ấm.

Hào phóng là rộng tay. Hào sảng là rộng lòng, rộng bụng, rộng cái khí chất của con người.

Vậy nên tiền bạc, vật chất chưa bao giờ là thước đo đúng nghĩa cho hai chữ hào sảng.

Hào sảng miền Nam, rốt cuộc, không phải là mình có bao nhiêu tiền, có cho ai cái gì không.

Mà là tới lúc người khác bị kẹt, chuyện đưa tay ra

mình thấy nó như chuyện tất yếu, như cần không khí để thở.

Bài này tôi chỉ viết từ một góc nhìn hẹp câu chuyện thật của một người Sài Gòn.

Tôi cũng có một người anh, cũng là người thầy, giai Hà Nội. Mỗi lần tôi ra ngoài ấy, hễ nói thuê hotel ở là bị mắng liền: “Ra nhà anh mà ở, mày dở hơi à?” 😊 

Rồi có cu em cũng dân Hà Nội, biết tôi thích uống nước “đẹp”, nó đem từ tận ngoài đó vào biếu một hũ sấu ngâm. Tôi hỏi: “Bộ trong đây không có hả?” 

Nó nói: “Làm sao ngon bằng em đem tận gốc vô biếu anh được.” 

Nên tôi nghĩ cái tình, cái nghĩa, cái sự rộng lòng thì vùng nào cũng có. Bài này chỉ là một lát cắt nhỏ về cái không khí tôi đang sống và cảm nhận ở Sài Gòn.

Những bình luận thô tục và thiếu chiều sâu, trải nghiệm hẹp nhưng thích quy chụp rộng sẽ được mời đi. Nhìn một góc rất hẹp vui lòng đừng nói lớn 👍

LỮ MINH TRÍ (FB) 

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2026

Cuộc sống : CON HẠNH PHÚC LẮM! - St trên FB.

 




CON HẠNH PHÚC LẮM! 

Một hôm đang trên đường đi làm về nhà, chuông điện thoại bỗng reo lên. Anh vừa bấm máy trả lời thì nghe giọng của một cô bé thều thào từ đầu dây bên kia: 

- Ba ơi! Ba nhanh về nhà nhé, con nhớ ba lắm!

Anh biết là ai đó đã gọi nhầm số, vì anh không có con gái mà chỉ có một cậu con trai mới vừa 6 tuổi. 

Chuyện này cũng không có gì lạ nên anh trả lời:

- Gọi nhầm số rồi nhé.

Thế nhưng số điện thoại kia vẫn tiếp tục gọi đến, anh bắt đầu cảm thấy phiền phức. Anh quyết định không nghe máy. Điều khiến anh ngạc nhiên là trong khi anh kiên quyết không trả lời thì số điện thoại kia vẫn kiên trì gọi cho bằng được. Cuối cùng, anh nghe máy. Vẫn là giọng nói yếu ớt của một cô bé:

- Ba ơi! Ba nhanh về nhé, con nhớ ba lắm. Mẹ nói con không gọi nhầm số đâu, chính là số điện thoại của ba đấy. Ba ơi, con đau lắm. Mẹ nói ba rất bận nên chỉ có mình mẹ chăm sóc con. Ba ơi, con biết ba đi làm vất vả, nếu ba không về với con được thì ba hôn con qua điện thoại một lần được không ba?

Yêu cầu ngây thơ của cô bé khiến anh không có cách nào từ chối. Anh đồng ý và anh hôn cô bé qua máy. Có tiếng nói đứt quãng của cô bé qua điện thoại:

- Con…cảm ơn…ba, con…vui…lắm, con…hạnh…phúc…lắm...ba ơi...

Mấy hôm sau, số điện thoại của cô bé lại gọi… nhưng người gọi lần này không phải cô bé mà là giọng nói nặng trĩu của một người phụ nữ:

- Xin lỗi ông! Mấy ngày hôm nay thật làm phiền ông nhiều, tôi thực sự xin lỗi! Tôi đợi lo xong mọi chuyện cho cháu rồi mới gọi điện lại xin lỗi ông sau. Con bé mà mấy lần trước gọi điện cho ông là con gái tôi, số nó khổ lắm, mới sinh ra đã mắc bệnh ung thư xương. Ba cháu cũng vừa qua đời trong một vụ tai nạn giao thông. Tôi không dám cho con biết tin buồn này vì hàng ngày cháu đã phải chịu sự dày vò đau đớn của các đợt điều trị hóa chất. Mỗi lần không chịu đựng được sự đau đớn đó, miệng cháu cứ gọi ba không ngừng bởi anh ấy luôn động viên cháu phải mạnh mẽ vượt qua. Tôi thực sự không nỡ chứng kiến cảnh cháu như thế nên liều nghĩ ra một số điện thoại để nói dối nó.

Nghe thế, anh vội vàng hỏi người phụ nữ:

- Vậy cháu bé bây giờ ra sao rồi?

Người phụ nữ kia trả lời:

- cháu đi rồi ông ạ! Cháu khoe đã được ông hôn... và cháu ra đi với nụ cười mãn nguyện. Trước khi đi, tay cháu còn ôm chặt cái điện thoại vào lòng.

Nghe xong, anh sững người không biết nói gì nữa.

ST TRÊN FB. 

Thơ : TÔI VỀ ĐỐT ĐUỐC... - Văn Châu.

 



TÔI VỀ ĐỐT ĐUỐC SOI NHÂN THẾ


Tôi về đốt đuốc soi nhân thế

Thấy đời còn lắm nỗi tang thương.

Hỏi sao không buốt lòng đau quặn

- Vì ai gây tạo nỗi đoạn trường?


Tôi về đốt đuốc soi nhân thế

Điểm mặt từng tên: lũ bội tình

Hỡi anh, hỡi chị- Sao có thể

Cứ vui mừng làm người cúi xin? (*)


Tôi về đốt đuốc soi nhân thế

Chợt hiểu vì sao Mẹ vẫn buồn

Chinh chiến tan rồi; im tiếng súng

- Mà sao đời Mẹ mãi tang thương?


Tôi về đốt đuốc soi nhân thế

Nghẹn lòng, ứa lệ trước em thơ

Chén cơm khoai sắn chưa đầy bụng

Trường lớp còn xa tận tít mờ.


Tôi về đốt đuốc soi nhân thế

Nghe tiếng kêu than dậy đất trời

Núi - rừng - sông - biển hờn ai oán

Mỗi ngày biền biệt mỗi tin vui.


Tôi về đốt đuốc soi nhân thế

Soi thử lòng mình rõ trắng đen?

Đêm đêm nhìn bóng mình trên vách

Như Đạt-Ma diện bích tọa thiền.


Cũng may! tóc bạc, lòng chưa bạc

Vẫn còn đau theo vận nước non.


VĂN CHÂU.


____________________________


(*) Ý nhạc của Trịnh Công Sơn

https://www.youtube.com/watch?v=kU_L96WxWLg

Thơ : HAI NHÀ - Kiên Duyên.

 



HAI NHÀ 


Thuở ấy nhà em với nhà tôi 

Cách nhau có mỗi dậu mùng tơi 

Em thường phơi áo bằng dây chuối 

Ngan ngát hương tơ một khoảng trời 


Trò chơi ngày ấy, em nhớ không 

Bắt vài chú dế ở ven sông 

Tôi làm chú rể nghèo xơ xác 

Em giả cô dâu nép bên chồng

 

Hai đứa nhìn nhau chẳng nói chi

Gặp mà lúng liếng, đứa quay đi 

Đứa cầm mảnh ngói lia xuống ruộng 

Mặc lúa đang xuân, lúa xuân thì 


Thế rồi em lớn, chũm trái cau 

Biết mang áo ngực có khuy sau

Biết soi tóc rối trong bể nước 

Có kẻ lăm le đặt cơi trầu 


Tôi thì cứ ngô ngố , lơ ngơ 

Thích nhưng chẳng dám ngỏ nàng thơ 

Đêm đêm ngấp nghển sau dàn mướp 

Sợ ngõ nhà em, có kẻ chờ 


Rồi điều lo lắng ấy xảy ra

Họ sang dạm ngõ chiều hôm qua 

Em quên tôi với ngày thơ dại 

Quên cả trò chơi ...đám cưới gà


Bây giờ dậu vắng , gió thênh thênh 

Có con bướm trắng đậu lênh chênh 

Hồn tôi cũng kém chi đâu bướm 

Có cả mùa đông lém qua mình 


Mẹ đã xa rồi, dạo nước lên 

Hai nhà rêu mốc cũng thêm men

Chỉ còn thu chớm , hoa râm bụt 

Cháy đỏ như ai đứng treo đèn...

.....

Kiên Duyên


Thơ : MÙA LY BIỆT - Trần Huiền Ân.

 



MÙA LY BIỆT

(Học thuộc lòng của Trần Huiền Ân

Trích trong Tân Việt Văn lớp Nhứt( lớp 5),Sống Mới xuất bản năm 1967.

Có những bài thơ không chỉ để học thuộc lòng, mà còn để lưu giữ một khoảng trời tuổi thơ. "Mùa Ly Biệt" của nhà thơ Trần Huiền Ân là một bài thơ như thế. Qua hình ảnh những chùm hoa phượng đỏ, tiếng ve ngân vang và sân trường rộn rã những ngày cuối niên học, tác giả đã khắc họa thật dịu dàng khoảnh khắc chia tay giữa thầy, bạn và mái trường thân yêu.

Bài thơ không chỉ gợi lên nỗi bâng khuâng của mùa hè, mà còn gửi gắm niềm tin vào chặng đường mới phía trước. Những lời thơ mộc mạc, trong sáng, gần gũi với tâm hồn trẻ thơ đã khiến biết bao thế hệ học sinh miền Nam  yêu thích và ghi nhớ. Đây cũng là một trong những sáng tác được Trần Huiền Ân viết cho sách giáo khoa tiểu học, góp phần nuôi dưỡng tình yêu mái trường và những tình cảm đẹp trong tuổi học trò. 

Đọc lại "Mùa Ly Biệt" hôm nay, nhiều người như được trở về với tiếng ve đầu hạ, sắc phượng sân trường và những buổi chia tay ngây thơ, trong trẻo của một thời cắp sách đến trường – những ký ức tuy đã xa nhưng vẫn luôn ấm áp trong lòng người.)


MÙA LY BIỆT

Trần Huiền Ân

1.

Tưng bừng, rực rỡ ngoài song cửa,

Ve bắt đầu ca, phượng nở đầy.

Những cánh hoa màu như ánh lửa,

Báo mùa ly biệt đến rồi đây...

2.

Chín tháng vui đùa trong đống sách,

Nghĩ gì giây phút sắp xa nhau?

Ngày mai, thầy bạn cùng xa cách,

Đâu có ngồi chung một chuyến tàu!

Còn một chiều nay vui lãnh thưởng,

Và cùng họp mặt buổi liên hoan.

Ngời lên ánh mắt bao tin tưởng,

Một quãng đời hoa quyết bảo toàn.

Đã hết năm năm trường tiểu học,

Người vào đệ thất cách xa đây.

Kẻ về thôn xóm mơ khoai thóc,

Giúp mẹ cha vun xới, cấy cày.

3.

Ai có hẹn ngày quay gót lại,

Thăm ngôi trường cũ, dãy bàn xưa?

Thì lòng không khỏi buồn tê tái,

Nếu thấy ngoài sân rợp bóng dừa...


(Lê Văn Thông sưu tầm và biên tập)

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2026

Thơ: LỜI TỪ BIỆT TRƯỜNG XƯA - Lê Nguyễn.

 



LỜI TỪ BIỆT TRƯỜNG XƯA 

 (Tâm tình người giáo viên mầm non gửi lại ngôi trường xưa)


Em lưu luyến nhìn lớp học sáng nay,

Rồi sẽ chẳng bao giờ trông thấy nữa!

Bao năm tháng chăm đàn con bé nhỏ,

Nhìn lại đời mình, như một thoáng chiêm bao!


Đã trở thành kỷ niệm thật rồi sao?

Ôi, những sáng nắng hanh, những chiều mưa bão,

Đời đâu chỉ là nỗi lo cơm áo,

Còn là niềm hạnh phúc được yêu thương!


Thôi, vĩnh viễn từ nay em giã biệt mái trường,

Xa, nhớ lắm những nụ cười thơ trẻ,

Những tiếng ê a, cùng lời ru rất nhẹ,

Đưa các con vào giấc ngủ bình yên.


Em trở về, nhưng chẳng thể nào quên,

Những bè bạn một thời chung mái ấm,

Đời giáo viên nghèo, chia nhau khoai sắn,

Vẫn thấy lòng tràn ngập nét tin yêu.


Em trở về, nghe nhớ biết bao nhiêu,

Con đường cũ với hai hàng hoa tím,

Giờ tất cả chỉ còn trong hoài niệm,

Của một thời tuổi trẻ đã qua mau! 


Sài Gòn 6.2026

Lê Nguyễn

Vui cười : TEST THỊ LỰC - St trên FB.


 

Tản mạn : BÔNG HỒNG CÀI ÁO - Lê Văn Thông.

 



BÔNG HỒNG CÀI ÁO

Bông Hồng Cài Áo của Thiền sư Thích Nhất Hạnh . Được viết vào năm 1962, bài tùy bút đã trở thành một trong những áng văn xúc động nhất viết về mẹ và lòng hiếu thảo trong văn học Việt Nam hiện đại.

Bằng giọng văn nhẹ nhàng, chân thành và sâu lắng, Thiền sư không dùng những lời ca ngợi hoa mỹ để nói về mẹ. Ông chỉ kể lại những điều bình dị nhất, những kỷ niệm tưởng như rất đỗi đời thường, nhưng lại chạm đến nơi sâu kín nhất trong trái tim mỗi người. Qua từng dòng chữ, người đọc nhận ra rằng còn mẹ là một hạnh phúc lớn lao, và mất mẹ là nỗi trống vắng không gì bù đắp được.

Trong tác phẩm, Thiền sư kể lại một phong tục đẹp mà ông từng biết đến ở Nhật Bản. Vào Ngày của Mẹ, những ai còn mẹ được cài lên ngực áo một bông hoa màu hồng, còn những người đã mất mẹ sẽ cài một bông hoa màu trắng. Khi được tiếp nhận vào văn hóa Việt Nam, hình ảnh ấy đã trở thành nghi thức Bông hồng cài áo trong mùa lễ Vu Lan – một biểu tượng đẹp của lòng hiếu kính và sự tri ân đối với đấng sinh thành.

Chính từ nguồn cảm hứng của bài tùy bút này, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã sáng tác ca khúc Bông Hồng Cài Áo. Bài hát mang giai điệu mộc mạc, tha thiết và đã đi vào lòng biết bao thế hệ người Việt. Chỉ với vài câu hát ngắn:

«"Một bông hồng cho em,

Một bông hồng cho anh,

Và một bông hồng cho những ai

Đang còn Mẹ..."»

đã đủ gợi lên niềm hạnh phúc của những người còn được mẹ yêu thương, che chở. Đồng thời, đó cũng là lời sẻ chia lặng lẽ dành cho những ai chỉ còn biết cài lên ngực mình một bông hoa trắng để nhớ về mẹ bằng tất cả yêu thương và tiếc nuối.

Thời gian có thể làm phai màu nhiều kỷ niệm, nhưng tình mẹ thì không bao giờ cũ. Mỗi mùa Vu Lan trở về, hình ảnh bông hồng cài trên ngực áo lại nhắc mỗi người biết dừng lại giữa cuộc sống bộn bề để nghĩ về mẹ, để biết nâng niu từng phút giây còn được ở bên mẹ, còn được nghe một lời dặn dò, còn được nắm lấy bàn tay đã vì mình mà nhọc nhằn suốt cả cuộc đời.

Có lẽ, giá trị lớn nhất mà Bông Hồng Cài Áo để lại không chỉ nằm ở vẻ đẹp của văn chương hay âm nhạc, mà còn ở lời nhắc nhở giản dị mà sâu sắc: hãy yêu thương và báo hiếu khi mẹ còn hiện diện, bởi đến một ngày nào đó, điều quý giá nhất trong đời có thể chỉ còn là ký ức và nỗi nhớ.

LÊ VĂN THÔNG. 

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026

Cuộc sống : MỘT CUỘC CHIA TAY - TG Văn Chương.

 



MỘT CUỘC CHIA TAY.

Tôi chỉ cần cho anh ta mượn xe đúng một lần là đủ để hiểu rằng đây không phải là người đàn ông dành cho mình... và đặt dấu chấm hết cho mối tình này.

Tôi năm nay 56 tuổi. Sau khi ly hôn, tôi đã trải qua gần mười năm sống một mình. Tôi nhặt nhạnh từng mảnh vỡ để tự vực dậy bản thân: từ công việc, nhà cửa, bạn bè cho đến những thói quen thường nhật. Một cuộc sống giản dị, nhưng được xây dựng bằng cả sự nỗ lực và tính tự lập. Theo thời gian, tôi gần như không còn tin rằng sẽ có một ai đó bước vào cuộc đời mình và mang lại sự bình yên nữa.

Thế rồi anh xuất hiện.

Anh không phải là người đàn ông của những lời thề non hẹn biển hay những hành động lãng mạn phô trương. Anh chỉ đơn giản là luôn ở đó. Anh gọi điện cho tôi, hỏi han tình hình, nhớ từng chi tiết nhỏ nhặt. Thi thoảng, anh đến chơi với một bông hoa trên tay, chỉ thế thôi. Anh bảo rằng khi ở bên tôi, anh cảm thấy thoải mái và bình yên. Và đó cũng chính là chính xác những gì tôi tìm kiếm: sự tôn trọng, lòng tin và sự tĩnh lặng trong tâm hồn.

Suốt bốn tháng trời, chúng tôi tận hưởng mối quan hệ này một cách thong thả. Mỗi người đều giữ cho mình một khoảng không gian và sự độc lập riêng. Không áp lực, không vội vã chạy đua với thời gian. Tôi có cảm giác đó là cách tốt nhất để xây dựng một điều gì đó chân thành.

Một buổi sáng, anh gọi điện cho tôi.

Xe của anh đang phải để ở gara sửa chữa, trong khi anh lại có việc phải di chuyển cả ngày.

— Em cho anh mượn xe của em được không? Chỉ hôm nay thôi.

Tôi thoáng chút ngần ngại. Chiếc xe này là thành quả từ công sức lao động và biết bao sự chắt chiu của tôi. Nhưng tôi tự nhủ, nếu đã muốn xây dựng một mối quan hệ thì lòng tin phải có chỗ đứng của nó.

Vì vậy, tôi đã trao chìa khóa cho anh.

Buổi tối, anh trở về với dáng vẻ thư thái, mỉm cười. Chúng tôi dành thời gian bên nhau, uống một ly vang và trò chuyện như mọi khi. Trước khi ra về, anh đặt chìa khóa lên kệ tủ.

— Cảm ơn em nhé, em đã cứu bồ anh cú này.

Mọi chuyện dường như hoàn hảo và bình thường.

Sáng hôm sau, tôi bước lên xe để đi chợ mua vài thứ đồ.

Vừa nổ máy, đèn báo cạn nhiên liệu liền bật sáng.

Bình xăng gần như trống rỗng.

Trong khi rõ ràng, tối hôm trước, nó vẫn còn đầy ắp.

Tôi ngồi bất động mất vài giây, rồi bấm máy gọi cho anh.

— Anh có thấy xe gần như hết sạch xăng rồi không?

Câu trả lời của anh đến ngay lập tức, không một chút ngập ngừng:

— Ừ, anh thấy. Thì sao nào? Xe của em thì em tự đi mà đổ đầy chứ.

Chính ngay khoảnh khắc đó, một điều gì đó trong tôi đã vỡ vụn.

Chuyện này hoàn toàn không phải vì tiền bạc.

Càng không phải vì một bình xăng.

Mà là vì cái cách anh ta nói với tôi.

Cái giọng điệu cằn nhằn, bực dọc đó. Cái cách anh ta coi một việc vô lý như vậy là điều hiển nhiên. Như thể sự tôn trọng chỉ là một tiểu tiết không đáng bận tâm. Như thể những gì thuộc về người khác thì không xứng đáng nhận được sự trân trọng hay giữ gìn.

Và đột nhiên, tôi nhìn ra mọi chuyện với một sự tỉnh táo đến kinh ngạc — những điều mà trước đây tôi đã tự lừa dối mình để nhắm mắt làm ngơ.

Là những lần anh ta luôn để người khác trả hóa đơn.

Là những bài đạo lý của anh ta về việc làm "người đàn ông trụ cột trong nhà", nhưng chẳng bao giờ thực sự gánh vác trách nhiệm.

Là tất cả những biểu hiện nhỏ nhặt của thói ích kỷ mà tôi đã vị tha và tìm cớ bào chữa quá nhiều lần.

Ngày hôm sau, tôi thông báo với anh ta rằng tôi không muốn tiếp tục mối quan hệ này nữa.

Anh ta ngã ngửa vì sửng sốt. Anh ta buộc tội tôi là kẻ làm quá mọi chuyện. Anh ta bảo ở độ tuổi của chúng tôi rồi, đột ngột sống bớt phức tạp đi một chút.

Có lẽ anh ta đúng ở một điểm.

Càng có tuổi, người ta lại càng trở nên đơn giản hơn thật.

Bởi vì chúng ta không còn tìm lý do để bao biện nữa.

Chúng ta không còn ngó lơ những dấu hiệu cảnh báo.

Và chúng ta nhận ra ngay lập tức những gì thực sự còn thiếu sót.

Đối với tôi, chưa bao giờ câu chuyện là về một bình xăng đầy.

Mà là về sự tôn trọng.

Về sự tinh tế.

Về sự biết điều.

Tôi đã tự mình lái xe đi đổ đầy bình xăng.

 Khi đang trên đường trở về nhà, nhìn con đường dài thênh thang trước mắt và cảm nhận khoảng không gian tĩnh lặng bên cạnh, tôi chợt thấy một cảm giác mà từ lâu lắm rồi mình chưa được nếm trải: sự bình yên.

Bởi vì có những người bước vào cuộc đời ta là để ở lại, nhưng cũng có những người đi qua chỉ để dạy cho ta một bài học. Và đôi khi, một hành động tưởng chừng như chẳng có gì lại là quá đủ để lột trần bản chất thật của một con người.

Ngày hôm đó, tôi không chỉ từ bỏ một người đàn ông. Tôi đã tìm lại được một thứ còn trân quý hơn thế rất nhiều: sự khẳng định chắc chắn rằng, tôi sẽ không bao giờ chấp nhận bất cứ điều gì thấp hơn những gì mình xứng đáng được nhận.

TG Văn Chương

Hồi ức : CON BÚP BÊ... - Nguyễn Cúc (FB)




 CON BÚP BÊ BIẾT NHẮM MỞ MẮT VÀ NHỮNG VIÊN SÔ CÔ LA KHÔNG BAO GIỜ QUÊN !

   Thập niên 60-70, ba tôi là lính thợ của sân bay Biên Hoà. Nhà có tới 7 đứa con nên cuộc sống vô cùng chật vật. Lo từng bữa ăn hàng ngày đã khó huống chi là chuyện mua sắm đồ chơi cho các con! Là chị em gái liền nhau bốn đứa nên trò chơi cũng giống nhau lắm: trốn tìm, thả diều, nhảy dây, ô ăn quan, chơi trò làm ba má trong một mái nhà tự làm bằng cây lá quanh vườn, nấu ăn với bếp nồi là lon sữa bò, mãnh sành, nặn bằng đất sét...búp bê bằng nhựa cứng thi thoảng cũng có do mấy đứa bạn con nhà khá giả “tặng “khi đã toét mắt, sứt tay, rách áo ...Vậy mà chị em tôi vẫn có một thiên đường tuổi thơ dù cuộc sống không đủ đầy. 

    Dấu ấn đậm nét nhất là con búp bê biết nhắm mở mắt của nước ngoài và những viên sô cô la thơm lừng giống như mùi cà phê ! Đó là món quà giáng sinh của ba nhận được từ đơn vị gửi tặng cho những gia đình có con. Quà tặng này là nước ngoài viện trợ cho đơn vị của ba. Tôi nhớ như in, hình ảnh ba vừa về đến cửa nhà, chúng tôi reo hò vỡ òa niềm vui chạy nhanh đến níu chân ba đòi mở quà liền tay. Lần đầu tiên được ôm trong lòng con búp bê nước ngoài biết nhắm mở mắt, da thịt mềm mịn như người thật, tóc vàng óng ả, mặc chiếc áo đầm sặc sở, vả đôi giầy dễ thương bé xíu ở chân... Tôi mừng hết lớn! Chị em tôi bốn đứa thay phiên nhau ẳm bồng, ru ngủ, chải tóc, may quần áo, thay áo cho em búp bê.... cưng như em ruột của mình. Bên cạnh đó là cảm giác ngây ngất lần đầu khi được thưởng thức hương vị ngọt ngào, thơm phức, béo ngậy sô cô la tan chảy trong miệng ... Lúc đó, tôi cứ ngỡ mình đang ở trong mơ ! Gia đình thường xuyên thiếu thốn nên tôi không bao giờ dám mơ tưởng đến hai món quà tuyệt vời và đắc tiền như vậy. 

   Đó là một lát cắt thời thơ ấu không thể quên mà tôi từng có được. Bao nhiêu năm qua rồi mà cứ ngỡ như mới hôm qua !

NGUYỄN CÚC (FB)

Thơ: NỐT LẶNG VÔ THƯỜNG - Hong Khuu (FB)

 




NỐT LẶNG VÔ THƯỜNG

Gió đi đâu, xin cho ta hỏi nhỏ

Về nơi nào...Tìm đến đó gặp ai?

Có buồn không mà hiu hắt thổi hoài!

Gieo rắc nhớ cho thêm dài đêm vắng


Nhớ gì không bốn mươi năm thầm lặng

Gom ngày xưa ta viết tặng một người

Xin ơn đời trả lại tuổi đôi mươi

Ðể theo gió đi tìm người tri kỷ


Lòng ta đó chút tàn tro âm ỉ

Đêm trở mình nghe mộng mị về ngang

Giữa tàn khuya ngơ ngẩn một cung đàn

Buông nốt lặng để lỡ làng ước vọng


Gió có biết ta còn hoài trông ngóng

Giữa nhân gian mà lạc bóng một người

Bốn mươi năm như giấc mộng rã rời

Có ai đó thoáng qua đời, xa khuất...


Nếu gặp lại xin người đừng ngoảnh mặt

Ta còn đây quay quắt một lời thương

Gió bay xa đi về phía vô thường

Mang giùm nhé chút vấn vương ngày cũ

HONG KHUU.

(23/06/2026)

Hồi ức : MỘT THỜI BỊ ĐÓI - Giáo Thứ (FB)

 



MỘT THỜI BỊ ĐÓI 

(hay là câu chuyện ăn mày :

Đang trưa ăn mày vào chùa 

Sư đem cho một lá bùa rồi đi 

Lá bùa chẳng biết làm chi 

Ăn mày bỏ túi lại đi ăn mày ).

Thế hệ chúng tôi không ai không trải qua những tháng ngày bị đói .

Cái đói hành hạ ngày này sang ngày khác, đêm nọ nối đêm kia.

Nó kéo con người đến sát mặt đất làm cho giấc mơ của người ta cũng trở nên ti tiện, tầm thường: ước gì có được bữa cơm no.

Người ta được nhà nước bán cho đủ thứ thay thế gạo để cho vào dạ dày : khoai tây, khoai lang, ngô, sắn, bột mì mốc, cao lương …nhưng sợ nhất vẫn là bo bo. Bo bo nhắc lại chuyện cũ mà vẫn còn rùng mình: cái thứ đầu vào thế nào đầu ra cũng gần y nguyên như thế. Nỗi sợ kinh hoàng nhất là mất sổ gạo. Có câu thành ngữ trong dân :

Mặt nghệt như mất sổ gạo.

Mất sổ gạo đó thực sự là một thảm họa.

Cái “nghèo” sinh ra “cái hèn”: Cái đói gặm nhấm mất lương tri và những điểm sáng còn sót lại của con người .

Đấy là cuối năm 1978, cứ đêm đêm mấy đứa bọn tôi rình mò xuống khu nhà bếp của đơn vị dùng cái que sắt khều cơm cháy đã ngấm nước gạo ( thứ  dùng để nuôi lợn ).

Nhưng kế ấy cũng chẳng đc bao lâu bọn tôi bị tay Khang béo anh nuôi phát hiện. Thế là báo động toàn đơn vị.

Vì đói quá nên người ta phải tìm mọi cách để tăng thêm thu nhập.

Buôn thuốc lá từ Bắc ninh về , sang Bình đà lấy pháo, ngược Thái nguyên buôn chè mạn… muôn kế mưu sinh nhưng rầm rộ nhất vẫn là phong trào nuôi lợn.

Hồi còn đi học đại học khu tập thể trường Kinh tế quốc dân khu dành cho giáo viên còn có chức năng phụ nữa là nuôi lợn.

Mỗi lần lên nhà thầy tôi- thầy Chỉ dạy giải tích ở tầng 4 nhà i8 là thấy lợn kêu ủn ỉn và mùi phân lợn nồng nặc.

Cho nên câu chuyện về giáo sư Văn Như Cương được người ta tương truyền tôi e là có thật.

Người ta kể câu chuyện giáo sư nuôi lợn ở khu tập thể nó gây ô nhiễm môi trường sống . Tổ dân phố hay trưởng khoa gì đó đến nhà lập biên bản: Giáo sư nuôi lợn, ông nhất trí hoàn toàn và chỉ xin thay đổi một chữ là : Lợn nuôi Văn Như Cương .

Lại có một câu chuyện hầu như sinh viên nào thời ấy cũng biết.

Có một kỹ sư kiến trúc thiết kế ngôi nhà ba tầng nhưng không tầng nào có khu vệ sinh.

Mọi người thắc mắc tại sao ,anh ta giải thích:

Tầng một dành cho các cháu mẫu giáo vì các cháu ị vào bô.

Tầng hai cho sinh viên ở vì đói bụng quanh năm nên không cần đi ị.

Tầng ba để dành cho các nhà văn nhà báo vì họ có thói quen hay ị vào mồm nhau.

Ôi ! Một thời bị đói. 

Cũng thời ấy chúng ta no nê bánh vẽ .


Lại nhớ nhà thơ Đồng Đức Bốn và nhà thơ Phạm Xuân Trường, hai nhà thơ thành danh quê đất cảng Hải Phòng:

“Mải mê đuổi một con diều 

Củ khoai nướng cả buổi chiều thành tro.”


“ Bố hoang phí một đời trai 

Đuổi theo những thứ ở ngoài tầm tay 

Bảo rằng ớt ngọt chuối cay 

Giữa đêm người bảo ban ngày cũng tin”.

GIÁO THỨ (FB)

( bài đăng lại).

Cuộc sống : CON CHÓ NHỎ VÀ... - Lê Văn Thông.




 CON CHÓ NHỎ VÀ CẬU BÉ.

Có những lúc, giữa dòng đời hối hả, lòng nhân ái không hiện ra bằng những điều lớn lao. Nó chỉ là một khoảnh khắc rất nhỏ thôi, nhưng đủ làm người ta nhớ mãi.

Chiều hôm đó, trời Sài Gòn đang nắng bỗng đổ mưa ào xuống. Đường về phía cầu đông nghịt xe cộ. Giữa dòng người vội vã ấy, tôi nhìn thấy một thằng bé ngồi sau xe máy, hai tay ôm chặt một con chó nhỏ vào lòng.

Con chó chắc đang bệnh nên được chở đi thú y. Nó run lên vì lạnh và sợ. Còn thằng bé thì luống cuống quay qua quay lại nhìn trời mưa mỗi lúc một nặng hạt. Rồi bất ngờ, nó tháo chiếc nón bảo hiểm mình đang đội xuống, nghiêng qua che cho con chó. Cả người nó ướt hết, còn con vật nhỏ thì được ôm sát vào ngực như một đứa em bé.

Khoảnh khắc đó diễn ra rất nhanh.

Người cha chạy xe phía trước có lẽ không hề biết.

Chỉ có thằng bé, con chó và tôi — người chạy xe bên cạnh — nhìn thấy.

Tự nhiên tôi thấy lòng mình lắng lại giữa cơn mưa Sài Gòn bắt chợt.

Người ta vẫn thường nói về lòng nhân ái như điều gì cao xa lắm. Nhưng thật ra, lòng nhân ái bắt đầu từ những điều rất nhỏ: biết cúi xuống trước nỗi đau của một sinh linh khác, biết thương một con vật yếu ớt.

Tôi nhớ có người từng hỏi vì sao tôi không ăn thịt chó.

Không phải vì thói quen hay sở thích.

Chỉ là tôi luôn sợ mình ăn nhầm một con chó đã giữ nhà cho ai đó suốt nửa đời người. Sợ ăn nhầm người bạn thân của một đứa trẻ. Sợ ăn nhầm một con chó nghiệp vụ từng cứu mạng con người, hay là con chó là “đôi mắt” của một người mù nào đó.

Và hơn hết… đơn giản vì tôi thương chúng.

Loài vật không biết nói tiếng người, nhưng chúng biết đau, biết nhớ, biết vui mừng khi gặp lại chủ và biết buồn khi bị bỏ rơi. Có khi, thứ tình cảm chúng dành cho con người còn chân thành hơn cả  con người dành cho nhau.

Càng đi qua nhiều năm tháng, tôi càng tin rằng cách một người đối xử với loài vật cũng là cách họ giữ gìn phần dịu dàng trong tâm hồn mình. Vì một trái tim biết rung động trước nỗi đau của một con vật nhỏ giữa cơn mưa, rồi mai này cũng sẽ biết yêu thương con người bằng một tấm lòng nhân ái.

Và biết đâu, giữa một thế giới ngày càng vội vã, chính lòng thương dành cho những sinh linh bé nhỏ lại là điều cuối cùng giúp con người còn giữ được phần người đẹp nhất trong mình.

(Lê Văn Thông, ảnh trên internet)

Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2026

Hương xưa : LỜI THỀ... - Hiep Phan.

 



LỜI THỀ HIPPOCRATES


Niên khóa 1969-1970, tôi học lớp 5 tại Trường Tiểu học Nguyễn Du, Biên Hòa.

Nhà tôi ở trên đường Trịnh Hoài Đức, không xa trường lắm, nên hằng ngày tôi đều đi bộ đến trường. Trên đường đi học, tôi thường đi ngang qua Bệnh viện Bác sĩ Phạm Hữu Chí. Sát bên bệnh viện là một tòa nhà hai tầng, phía trên có tấm bảng lớn ghi tên: Trường Tá viên Điều dưỡng Biên Hòa. Đây là nơi đào tạo điều dưỡng cho Bệnh viện Phạm Hữu Chí và các nơi khác trong tỉnh.

Một ngày nọ, sau khi tan buổi học sáng, tôi đi bộ về nhà. Khi đi ngang cổng Trường Tá viên Điều dưỡng, tôi thấy rất đông người đứng ngoài hành lang, dõi mắt nhìn về phía hội trường. Vì tò mò, tôi ôm cặp đi vào hành lang và nhìn vào bên trong.

Tôi rất ngạc nhiên khi thấy các cô chú học viên của trường mặc đồng phục áo blouse trắng, đội nón trắng. Mỗi người cầm trên tay một cây đèn cầy trắng đang cháy, đứng nghiêm trang hướng về một vị bác sĩ và đồng thanh đọc những lời gì đó mà lúc ấy tôi không hiểu.

Về nhà, tôi hỏi mẹ tôi và được bà giải thích: "Đó là các cô chú đang đọc lời thề Hippocrates. Đây là lời thề thiêng liêng của ngành y. Các cô chú ấy là những điều dưỡng đã hoàn tất khóa đào tạo và đọc lời thề trước khi chính thức bước vào nghề. Lời thề Hippocrates nhắc họ về trách nhiệm và đạo đức khi hành nghề sau này. Còn việc các cô chú cầm đèn cầy trên tay là tượng trưng cho ánh sáng của trí tuệ, của kiến thức và lòng từ bi khi chăm sóc bệnh nhân."

Sau này, khi tìm hiểu thêm, tôi được biết Bệnh viện Phạm Hữu Chí là một bệnh viện công lớn của tỉnh Biên Hòa. Đây là nơi bất kỳ bệnh nhân nào cũng có thể được tiếp nhận, chăm sóc và điều trị y tế vô điều kiện, hoàn toàn miễn phí, với cung cách phục vụ niềm nở, tôn trọng và ân cần của các bác sĩ cùng nhân viên y tế. Họ không hề hách dịch, cũng không gợi ý vòi tiền hay quà cáp từ người bệnh.

Có một lần, mẹ đưa tôi vào bệnh viện này để mổ vết thương ở lòng bàn chân do đạp phải gai nhọn. Tôi còn nhớ hôm ấy là phiên trực của bác điều dưỡng tên Hiếu. Bác vui vẻ, ôn tồn an ủi tôi hãy yên tâm, bác sẽ làm nhẹ nhàng, bảo đảm tôi sẽ hết đau và sớm đi lại bình thường. Các cô chú nhân viên cùng làm việc với bác tại phòng ngoại khoa cũng rất ân cần với bệnh nhân.

Tôi để ý, trong bệnh viện không thấy treo bất kỳ khẩu hiệu "Lương y như từ mẫu" nào cả. Nhưng cách phục vụ ân cần, tử tế của nhân viên nơi đây làm cho người bệnh cảm thấy ấm áp và gần gũi như trong gia đình.

Những năm đầu thập niên 1970, bóng dáng chiến tranh đã dần chạm tới Biên Hòa. Tỉnh lỵ nhỏ bé của tôi bị pháo kích triền miên. Một vài lần, tôi theo mẹ vào bệnh viện để khám bệnh. Tôi thấy không ít người dân bị thương tích bởi bom đạn. Phòng cấp cứu lúc nào cũng đông bệnh nhân, các bác sĩ và điều dưỡng luôn tất bật với công việc.

Nhưng khi để ý quan sát, tôi thấy thái độ của họ rất ân cần. Họ dùng lời nói dịu dàng, nhỏ nhẹ để an ủi và giải thích cho bệnh nhân. Tuyệt nhiên không có tình trạng thờ ơ, hách dịch hay gắt gỏng với người bệnh.

Ngày ấy, Bệnh viện Phạm Hữu Chí cũng có nhiều bác sĩ và điều dưỡng người Úc đến cùng điều trị, chăm sóc bệnh nhân. Họ cũng rất tận tụy với người bệnh. Một lần, tôi trực tiếp chứng kiến một cô điều dưỡng người Úc thay băng cho một ông cụ bị phỏng nặng, toàn thân co rút, vết thương lở loét. Ông cụ la hét đau đớn. Cô điều dưỡng ấy vẫn dịu dàng an ủi và chăm sóc ông tận tình, chu đáo như người thân.

Sau năm 1975, tôi quen biết một anh điều dưỡng làm việc trong phòng cấp cứu của một bệnh viện lớn tại Biên Hòa. Được biết, anh cũng là cựu học viên Trường Tá viên Điều dưỡng của Bệnh viện Phạm Hữu Chí.

Những năm đầu thập niên 1980, cả nước gặp nhiều khó khăn do bị quốc tế cấm vận. Thuốc men, trang thiết bị và dụng cụ y tế thiếu thốn trầm trọng. Tuy nhiên, số lượng bệnh nhân hằng ngày vẫn không hề suy giảm. Trong điều kiện thiếu thốn mọi thứ, anh bạn tôi cùng các đồng nghiệp luôn trăn trở tìm cách tận dụng và cải tiến những dụng cụ y tế sẵn có để phục vụ bệnh nhân tốt nhất.

Ngày ấy, kim chích không dùng một lần như hiện nay, mà được đun sôi hoặc hấp tiệt trùng để tái sử dụng nhiều lần. Khi có những giây phút rảnh hiếm hoi trong phiên trực, anh chăm chỉ mài số kim chích cũ cho sắc hơn, để bệnh nhân bớt đau đớn khi tiêm thuốc.

Ngoài giờ làm việc, anh nghiên cứu tài liệu và rảo quanh các chợ trời tìm phụ tùng, với hy vọng sửa chữa, phục hồi chiếc máy hút đàm bị hư. Vì thiếu chiếc máy này, nhiều bệnh nhân cấp cứu đã không qua khỏi cơn nguy kịch khi cần máy trợ giúp.

Có lần, một bệnh nhân bị phỏng nặng hai chân. Vết thương đã hoại tử và bốc mùi hôi thối. Nhiều nhân viên buồn nôn và bỏ cuộc khi phải chăm sóc bệnh nhân này. Trước tình hình ấy, anh cùng một cô điều dưỡng trẻ đã không ngại khó khăn, kiên nhẫn bóc tách, loại bỏ từng phần thịt bị hoại tử, bôi thuốc và băng bó vết thương cho bệnh nhân. Một thời gian sau, vết thương của người bệnh khô da và lành hẳn.

Có người hỏi anh: "Bộ anh chị không sợ hôi thối và gớm ghiếc khi trực tiếp chăm sóc vết thương kinh khủng như vậy sao?"

Anh vui vẻ trả lời: "Có sợ chứ, nhưng phải cố gắng thôi. Nếu mình sợ, hoặc tỏ ra gớm ghiếc, xa lánh, rồi làm sơ sài, thì sẽ làm cho người bệnh thêm buồn tủi, có khi còn nguy hiểm đến tính mạng. Họ đã đau đớn về thân xác lắm rồi, đâu thể đành lòng để họ bị tổn thương thêm về tinh thần nữa."

Đối với một vài người làm trong ngành y mà tôi từng biết, họ luôn xem người bệnh như người thân. Họ hết lòng chăm sóc bệnh nhân bằng tinh thần trách nhiệm, lòng trắc ẩn và sự chia sẻ không điều kiện, như lời họ đã từng hứa khi đọc lời thề Hippocrates trước khi chính thức dấn thân vào nghề nghiệp cao quý cứu người này.

Thỉnh thoảng, trong thực tế đời thường, tôi vẫn thấy không hiếm sự hiện diện của những thiên thần áo trắng như vậy. Họ có mặt để xoa dịu nỗi đau đớn vì tật bệnh của những bệnh nhân khốn khổ.

Nhờ có lời thề Hippocrates, đạo đức nghề nghiệp trong ngành y, tình người và lòng nhân ái đâu đó vẫn còn hiện hữu, vẫn còn tỏa sáng, chứ không hề mai một đi.

Bài của HIEP PHAN gửi chuyenxua đăng

Cuộc sống : HƯƠNG THỜI GIAN - St trên FB.

 


HƯƠNG THỜI GIAN. 

Ở nhiều vùng quê tại Pháp, vẫn có những chiếc xe bán bánh mì rong lặng lẽ chạy qua từng ngôi làng nhỏ mỗi sáng.

Chỉ là tiếng động cơ quen thuộc, mùi bánh mì nóng mới ra lò… và vài cụ già đã đứng chờ sẵn bên đường.

Trong thời đại mà mọi thứ đều được tối ưu bằng tốc độ và công nghệ, những chiếc “mobile bakery” ấy lại tồn tại vì một lý do rất con người:

có những nơi mà thứ người ta cần nhất không chỉ là thực phẩm — mà là cảm giác mình chưa bị thế giới bỏ quên.

Ở nhiều vùng nông thôn châu Âu, các cửa hàng nhỏ dần biến mất. Người trẻ chuyển lên thành phố. Dân cư thưa hơn. Những tiệm bánh truyền thống không còn đủ khách để duy trì một mặt bằng cố định.

Nhưng người già thì vẫn ở lại.

Và với họ, việc lái xe hàng chục cây số chỉ để mua một ổ bánh mì không phải chuyện đơn giản.

Thế là những tiệm bánh bắt đầu đặt cả cửa hàng của mình lên bánh xe.

Mỗi ngày, họ đi theo một lộ trình cố định xuyên qua các ngôi làng. Trên xe có baguette, bánh sừng bò, bánh ngọt, vài món nhu yếu phẩm nhỏ… nhưng thứ họ mang theo thực ra còn nhiều hơn thế.

Họ mang theo nhịp sống.

Người dân biết chính xác chiếc xe sẽ đến lúc nào.

Một vài cụ ông bước ra chỉ để mua nửa ổ bánh và hỏi thăm vài câu.

Một cụ bà sống một mình có thể cả ngày không nói chuyện với ai — ngoại trừ lúc chiếc xe bánh ghé qua.

Đó không còn là “dịch vụ giao hàng”.

Nó giống một dạng kết nối xã hội cuối cùng còn sót lại trong nhiều cộng đồng nhỏ.

Điều đẹp nhất là:

mô hình này không cố chống lại hiện đại hóa bằng sự hoài niệm cực đoan. Nó thích nghi.

Tiệm bánh không biến mất.

Nó thay đổi hình dạng để tiếp tục tồn tại.

Một chiếc xe tải nhỏ len qua những con đường quê hẹp ở Pháp đã chứng minh một điều rất đơn giản:

văn minh không nằm ở việc mọi thứ trở nên nhanh hơn,

mà nằm ở việc xã hội vẫn đủ tử tế để không bỏ rơi những người chậm hơn.

Có lẽ vì thế mà ở Pháp, bánh mì chưa bao giờ chỉ là thức ăn.

Nó là thói quen.

Là phẩm giá đời sống thường nhật.

Là cảm giác thuộc về một cộng đồng.

Và đôi khi, giữ cho một ngôi làng còn “sống” không cần những dự án hàng triệu euro.

Chỉ cần một con đường quen thuộc,

một chiếc xe nhỏ,

và mùi bánh mì nóng mỗi sáng. /.

SƯU TẦM TRÊN FB. 

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2026

Cười chút : CON KẸT ! - St trên FB

 

CON KẸT !



Đó đây : Ý CHÍ SINH TỒN - St trên FB.

  



Ý CHÍ SINH TỒN. 

Họ đã ném chú chó xuống Đại Tây Dương trong màn đêm… tin rằng biển cả sẽ kết thúc mạng sống của em.

Giữa làn nước lạnh buốt ngoài khơi Maine, một chú chó Labrador đen nhỏ bé đã bị bỏ mặc giữa sóng dữ. Không ai nghĩ em có thể sống sót.  

Nhưng suốt gần 11 tiếng đồng hồ giữa biển đêm, em vẫn chiến đấu để tồn tại. 

Khi bình minh vừa ló dạng, một ngư dân đánh tôm hùm tên Daniel Mercer phát hiện một thứ đang trôi nổi giữa màn sương dày đặc. Ban đầu ông nghĩ đó chỉ là mảnh gỗ vỡ sau cơn bão.  

Rồi “mảnh gỗ” ấy cử động. 

Đó là một chú chó đang kiệt sức giữa đại dương lạnh giá.  

Bộ lông đen của em ướt sũng, cơ thể run lên từng cơn vì hạ thân nhiệt. Em không còn đủ sức để bơi nữa…  

Điều duy nhất giữ em sống sót là một mảnh ván gỗ trôi dạt giữa biển. 

Nhưng em không nằm trên đó.  

Em đang cắn chặt lấy nó.  

Hàm răng của em ghim sâu vào tấm gỗ đến mức khi Daniel cố cứu, ông nhận ra em hoàn toàn không thể buông ra được nữa.  

Cơ hàm của em đã cứng lại vì sợ hãi, đau đớn và bản năng sinh tồn. Nếu cố kéo ra, hàm của em có thể sẽ vỡ nát. 

Người ngư dân già đã đứng lặng giữa boong tàu. Sau đó ông lấy cưa… cắt luôn phần gỗ mà chú chó đang cắn chặt để đưa cả em và tấm ván lên thuyền. 

Ngay cả khi được cứu, chú chó ấy vẫn không buông mảnh gỗ ra.  

Các bác sĩ thú y sau đó phải gây mê mới có thể tách hàm em khỏi tấm ván trôi. Họ phát hiện em bị tổn thương phổi do nước biển, hạ thân nhiệt nghiêm trọng, rách nướu, gãy răng, tổn thương thần kinh ở chân sau và hơn 20 mảnh gỗ đâm sâu vào bàn chân. 

Nhưng điều khiến tất cả mọi người kinh ngạc nhất là:  

Em đáng lẽ không thể sống sót.  

Suốt 11 giờ giữa làn nước lạnh buốt, cơ thể em lẽ ra đã phải buông xuôi vì kiệt sức. Nhưng em vẫn cắn chặt lấy hy vọng cuối cùng của mình. 🤍

Một bác sĩ nghẹn ngào nói:  

“Tôi từng cứu rất nhiều động vật dưới nước… nhưng chưa từng thấy ý chí sinh tồn nào mạnh mẽ đến vậy. Nó đã tự quyết định rằng mình sẽ không chết.”

Daniel bắt đầu đến thăm em mỗi ngày. Mỗi sáng trước khi ra khơi. Mỗi tối sau khi trở về cảng.  

Ông ngồi lặng cạnh chiếc lồng nhỏ, còn chú chó tựa đầu lên đôi ủng cũ của ông như thể cuối cùng em đã tìm thấy nơi an toàn. 

Khi được xuất viện, Daniel mang em về nhà và đặt tên em là “Timber”.  

Bởi chính mảnh gỗ trôi dạt ấy đã cho em cơ hội sống cuối cùng. 

Đến hôm nay, Timber vẫn mang theo những vết sẹo của đêm định mệnh đó. Một chân sau hơi tập tễnh. Vài chiếc răng sứt mẻ. Và nỗi sợ biển chưa bao giờ biến mất hoàn toàn.  

Nhưng mỗi tối, khi Daniel trở về với mùi muối biển và dầu máy trên áo, Timber lại leo lên lòng ông… rồi nhẹ nhàng cắn lấy tay áo khoác cũ. 

Không nhai. Không chơi đùa.  

Chỉ là… giữ chặt lấy nó.  

Y hệt cách em đã từng bám lấy mảnh gỗ ngoài đại dương năm đó.  

Như thể một phần trong em vẫn sợ rằng nếu buông ra… mình sẽ chìm xuống biển sâu mãi mãi. 

Daniel chưa bao giờ gỡ em ra. Ông chỉ lặng lẽ để Timber giữ lấy tay áo của mình thật lâu.  

Và rồi ông nói:  

“Người ta thường nhắc đến ý chí sinh tồn như một câu nói…”  

“Còn tôi… tôi đã tận tay kéo nó lên từ đại dương.”

St trên FB. 

Cuộc sống : LỜI NÓI MẠNH HƠN... - St trên FB.

 



(Private James Sullivan 19 tuổi đứng bịt mắt trước đội hành quyết gồm tám binh sĩ tại Căn cứ Quân đội Boston vào ngày 10 tháng 11 năm 1917. )

LỜI NÓI MẠNH HƠN VIÊN ĐẠN.

Anh bị tòa án quân sự kết án tội đào ngũ. Tuy nhiên, điều mà đội hành quyết chưa biết cho đến khoảnh khắc ấy là lý do anh đào ngũ. 

Thiếu tá William Morrison, 55 tuổi, đã đọc cáo trạng: “Binh nhì Sullivan, anh bị kết án tử hình bằng đội hành quyết vì tội đào ngũ trong thời chiến.”

James đã nói lớn: “Thưa ngài, tôi xin được phát biểu lời cuối cùng.” Thiếu tá Morrison đáp: “Hãy tiến hành.” James tiếp tục: “Tôi đào ngũ vì phát hiện em gái 12 tuổi của tôi, Rose, đã bị gả cho một người đàn ông 41 tuổi trong lúc tôi đang ở trại huấn luyện. 

Cha tôi đã bán em ấy với giá 600 đô la. Tôi đã vắng mặt không phép để cố gắng cứu em. Tôi tìm thấy em đang mang thai ở tuổi 13. Tôi đưa em đến cơ quan chức năng. Sau đó tôi trở về căn cứ và tự nộp mình. Tôi chấp nhận bản án, nhưng tôi muốn đội hành quyết này biết rằng tôi đào ngũ để cứu một đứa trẻ, chứ không phải vì hèn nhát.”

Thiếu tá Morrison đã lập tức dừng việc hành quyết và tuyên bố: “Đội hành quyết, đứng xuống. Binh nhì Sullivan, tôi hoãn thi hành bản án của anh trong khi chờ điều tra.” Quân đội đã tiến hành điều tra, phát hiện tình trạng của Rose, bắt giữ chồng và cha của em, đồng thời cho James xuất ngũ danh dự thay vì xử tử. 

James đã làm chứng tại phiên tòa cứu trợ em gái, và biên bản phiên hành quyết trở thành bằng chứng cho thấy ngay cả những người lính đối mặt với cái chết cũng ưu tiên bảo vệ gia đình.

James sống đến năm 1979, qua đời ở tuổi 81. Trước khi qua đời, ông đã hồi tưởng: “Tôi lúc ấy 19 tuổi, bịt mắt đứng trước đội hành quyết vì tội đào ngũ. Họ hỏi tôi có lời cuối cùng không. Tôi nói tôi đào ngũ để cứu em gái 12 tuổi bị bán vào hôn nhân trong lúc tôi đang huấn luyện. 

Chỉ huy đã dừng việc hành quyết. Tôi sẵn sàng chết để cứu em. Thay vào đó, lời thú nhận của tôi đã cứu tôi và kết tội những kẻ lạm dụng em. 

Đội hành quyết ấy chưa từng bắn. Lời nói của tôi mạnh mẽ hơn cả những viên đạn của họ.”

Sưu tầm trên FB. 

(Theo The History Hub)