Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2026

Tản mạn : Đà LẠT, THÀNH PHỐ... - Lê Văn Thông.

 



ĐÀ LẠT, THÀNH PHỐ BUỒN VÀ MỘT NGƯỜI TÔI THƯƠNG


Có những bài hát không chỉ để nghe.

Mà để nhớ.

Với tôi, đó là bài Thành Phố Buồn.

Mỗi lần tiếng nhạc cất lên:

“Thành phố nào nhớ không em…

Nơi chúng mình tìm phút êm đềm…”

là tôi lại thấy mình của những năm mười bảy tuổi, áo len mỏng đứng trước cổng trường Trường Trung học Bùi Thị Xuân, nhìn anh đạp xe từ con dốc bên kia đi xuống.

Đà Lạt ngày đó nhỏ lắm. Nhỏ đến mức chỉ cần vô tình đi quanh Hồ Xuân Hương vài vòng là có thể gặp nhau. Nhỏ đến mức một ánh mắt trong sương chiều cũng đủ làm người ta nhớ cả đời.

Anh học giỏi, hiền và ít nói. Còn tôi thì hay cười. Hai đứa thường đi bộ qua những con dốc quanh co đường Phù Đổng Thiên Vương, Bùi Thị Xuân, rồi vòng xuống khu Hòa Bình, ghé trước Rạp Cine Ngọc Lan đứng nhìn mưa bay qua phố.

Đà Lạt ngày ấy buồn thật. Nhưng cái buồn rất đẹp.

Buồn như hàng thông đứng im trong sương.

Buồn như mái nhà gỗ lợp tôn nằm nép bên biệt thự Pháp cũ.

Buồn như tiếng chuông Nhà thờ Con Gà ngân lên mỗi chiều xuống.

Có những sáng chủ nhật, chúng tôi ngồi bên nhau thật lâu mà không nói gì. Chỉ nghe gió lạnh đi qua vai áo. Tôi còn nhớ bàn tay anh lúc nào cũng lạnh. Anh nói sau này sẽ vào đại học ở Sài Gòn. Còn tôi cúi mặt im lặng.

Hồi trẻ, người ta cứ nghĩ yêu là sẽ ở bên nhau mãi mãi.

Nhưng rồi chiến tranh, cuộc sống, gia đình… mọi thứ cuốn hai đứa về hai hướng khác nhau.

Anh vào đại học.

Còn tôi đi lấy chồng.

Ngày cưới, trời Đà Lạt có mưa. Tôi ngồi trong phòng nghe ai mở bài “Thành Phố Buồn” từ quán cà phê dưới dốc. Đến câu:

 “Rồi từ đó trốn phong ba em làm dâu nhà người…”

Tôi bật khóc.

Khóc đến nghẹn lòng.

Bởi có những nỗi buồn không cần gào thét. Chỉ cần nghe đúng một bài hát, là cả tuổi xuân trở về.

Nhiều năm sau, ở bên nhà chồng, tôi vẫn không dám nghe lại bài hát ấy. Mỗi lần tiếng hát vang lên, tôi lại thấy hiện ra con dốc cũ, hàng thông cũ, chiếc áo len màu khói sương của anh đứng chờ trước cổng trường năm nào.

Nhưng Đà Lạt bây giờ đã khác rồi.

Những hàng thông bị đốn bỏ. Những biệt thự Pháp xưa biến mất. Những căn nhà gỗ nép mình trong sương được thay bằng bê tông cao tầng và những màu sơn lòe loẹt.

Từ Ngã Năm Đại Học chạy về các con đường xưa, tôi gần như không còn nhận ra nữa. Võ Tánh, Hàm Nghi, Lê Đại Hành… tất cả đổi thay đến đau lòng.

Mấy hôm nay, mạng xã hội đầy hình ảnh Đà Lạt ngập nước như một thành phố xa lạ nào đó. Tôi nhìn mà nghe buồn cả buổi chiều.

Đà Lạt ngày xưa đâu có vậy.

Ngày xưa, chỉ cần bước ra ngoài vào một buổi sáng mù sương là đã thấy cả thế giới như đang trôi trong mây. Người ta có thể đi hết một vòng hồ chỉ để nhìn mặt nước mờ hơi lạnh, nhìn Thủy Tạ lặng im trong chiều tím, rồi mang về một nỗi nhớ rất nhỏ mà rất dài.

Bây giờ tôi mới hiểu.

Thứ mất đi không chỉ là rừng thông hay biệt thự cũ.

Mà là linh hồn của một thành phố.

Và có lẽ… cũng là tuổi trẻ của tôi.

Nhiều năm rồi, tôi không còn gặp lại anh. Có thể anh đã quên tôi.Có thể anh cũng như tôi, mỗi lần nghe bài hát “Thành Phố Buồn” thì lặng đi một lúc.

Chỉ có điều, anh còn giữ được Đà Lạt trong ký ức.Còn tôi, tôi đã đánh rơi Đà Lạt ở một chiều mưa cũ nào đó — ngay giữa câu hát:

“Tiễn đưa người quên núi đồi… quên cả tình yêu…”

Bây giờ, mỗi lần nghe lại bài hát ấy, tôi không còn biết mình đang nhớ anh, nhớ tuổi trẻ hay nhớ một Đà Lạt đã mất.

Chỉ biết rằng có những thành phố khi rời xa, người ta vẫn còn có thể quay về.

Nhưng cũng có những thành phố chỉ còn tồn tại trong ký ức — nơi một hàng thông cũ, một con dốc mờ sương và một người mình từng thương .

Để rồi đến cuối cùng, điều làm người ta đau nhất không phải là mất một cuộc tình.

Mà là một ngày chợt nhận ra —

cả người mình yêu, lẫn thành phố mình yêu… đều không còn nữa.

Và rồi tôi hiểu ra rằng, có những điều trong đời không mất đi vì thời gian — mà mất đi vì con người ta không còn giữ được nguyên vẹn trái tim của ngày cũ.

Tuổi trẻ giống như sương mai trên đồi thông Đà Lạt. Đẹp đến nao lòng, nhưng chỉ cần mặt trời lên cao một chút là tan biến. Người ta cứ nghĩ mình còn rất nhiều thời gian để yêu thương, để chờ đợi, để quay về. Cho đến một ngày ngoảnh lại mới biết mọi con đường xưa đều đã đổi khác.

Có những cuộc tình không cần một lời chia tay vẫn kết thúc suốt cả một đời người.

Và có những thành phố, càng lớn lên, càng hiện đại… thì ký ức của người cũ lại càng không có chỗ để quay về.

Có lẽ vì vậy mà bài hát “Thành Phố Buồn” vẫn còn sống mãi.

Không chỉ vì giai điệu buồn.

Mà vì trong bài hát ấy, ai cũng nhìn thấy một phần tuổi trẻ của mình — một người từng thương, một nơi từng nhớ, và một quãng đời tưởng đã quên nhưng thật ra vẫn còn mãi trong tim.


(Lê Văn Thông)

Hương xưa : CHIẾC HÔN TÌNH LỚN... - Lê Phong Quan.

 

( Hình ảnh minh họa sưu tầm trên mạng )

CHIẾC HÔN TÌNH LỚN TRONG MỘT BÀI THƠ CỦA NGUYỄN TẤT NHIÊN


Thập niên 60 và đầu 70, học trò trung học Ngô Quyền (Biên Hoà) chúng tôi không xa lạ với tên Nguyễn Tất Nhiên hay Hải khùng cũng là một người (1). Anh đã nổi tiếng rất sớm từ năm 18, 20 tuổi với những sáng tác thơ được phổ thành ca khúc của các nhạc sĩ được nhiều người miền Nam mến mộ như Phạm Duy, Anh Bằng, Nguyễn Đức Quang. 

Trong số những bài thơ của N.T.N được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc rất được ưa chuộng, nhiều người biết đến cho tới tận ngày nay, đó là bài “Hai năm tình lận đận”. Bài thơ nầy N.T.N viết tặng riêng cho Minh Thuỷ (T.) (2), một người tình trong thơ và cũng là người vợ duy nhất cuộc đời anh. 

Anh si tình và theo đuổi T. từ những năm tháng cô nàng đang học bậc trung học đệ nhị cấp (cấp 3). Những buổi vào sân trường tìm nàng tóc bính đưa thư, những lần chạy xe Honda lượn lờ dốc trường Ngô Quyền giờ tan học để theo sau vạt hai tà si mê nhìn áo trắng tiểu thư, rồi có khi rà xe tỏ tình tặng quà. Đến khi giận hờn, T. nhờ cô bạn thân nhất (Tưởng Dung) mang hết quà cáp, thư từ trả lại cho N.T.N. 

Vào giữa năm 73, T. chuẩn bị thi Tú Tài II thì bài thơ “Hai năm tình lận đận” là món quà N.T.N viết tặng riêng cho T. để làm hoà với nàng, được Phạm Duy phổ nhạc phát thanh lần đầu trên sóng radio qua tiếng hát của ca sĩ Duy Quang dễ thương, nổng nàn, da diết.

    … Em xưa còn thắt bính nuôi dưỡng thêm ngây thơ

          Anh xưa còn luýnh quýnh giữa sân trường trao thư

          Em thường hay mắt liếc anh thường ngóng cổ cao

          Ngoài đường em bước chậm quán chiều anh nôn nao

          Hai năm tình lận đận hai đứa cùng hư hao

          Hai năm tình lận đận hai đứa đành xa nhau…

Đây cũng là bài thơ làm hòa định mệnh, níu giữ “tình lớn” hai người lại với nhau. 

Sau biến cố 30 tháng 4 năm 75, đến giữa năm 78, N.T.N và T. làm đám hỏi tại Biên Hoà. 

Một bài thơ ra đời vào khoảng giữa tháng 9/78 của N.T.N tựa là Nụ hôn đầu (hay Lần Đầu?) tôi không nhớ rõ, nhưng có lẽ khi hai người đã quyết định làm lễ đính hôn. Vì thời đó, lứa tuổi chúng tôi một cái chạm tay đã là e dè nếu chưa đã là gì của nhau, huống chi T. là người con gái gia đình trâm anh, tính tình nhẹ nhàng, nhút nhát. Nụ hôn đầu dành cho người mình yêu, được chấp nhận, thời tuổi chúng tôi đã được chàng thi sĩ lãng mạn khắc hoạ như một bức tranh siêu thực: liều, trời đất bàng hoàng, trật tự đổi thay, tim như ngừng đập…

LẦN ĐẦU

gửi T.

gian truân lắm mới hôn người

chiếc hôn tình lớn đem đời nhau theo

hôn em phớt nụ hôn liều

bỗng nghe trật tự khá nhiều đổi thay!

ví dù cỏ nội ngàn cây

cũng môi trường đúng mới khai lá cành

mới đơm bông, mới trái lành

như tôi hướng thiện bởi tình thăng hoa

hôn em lén nụ bất ngờ

âm ba thảng thốt đào sâu, tận cùng

hình như trời đất bàng hoàng

không, không phải thế… tim ngừng đấy thôi!

hôn em chấn động đầu đời

chiếc hôn tình lớn kiếp người đôi giây!

 Biên Hoà - VN 16/9/78 

Nguyễn Tất Nhiên


Và sau cùng trên tất cả, “Nụ hôn đầu” của N.T.N được trở thành “chiếc hôn tình lớn mang đời nhau theo”. Cuối năm 78, N.T.N đã vượt biên cùng gia đình và vị hôn thê T.

Tháng Năm, bây giờ đã vào tháng Năm, tháng của những cơn mưa đầu bất chợt rũ xuống trần gian. Làm tôi nhớ đến những cơn mưa học trò ngày xưa. Nhớ đến những người bạn học cũ. Nhớ đến mối tình đầu thơ ngây nhưng chưa trở thành “tình lớn”, xin tản mạn một chút tình theo mưa…

  …giọt mưa xanh mấy tuổi nàng

     tôi nghe lá rụng như vàng áo xưa (N.T.N)


Sài Gòn, tháng Năm

2026

LPQ


Ps:

(1) Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh ngày 30 tháng 5, 1952 tại Biên Hoà.

…Trước 1975, Nguyễn Tất Nhiên ghi danh đại học Luật Khoa và gián đoạn việc học từ biến cố tháng Tư. Cuối năm 1978 ông cùng gia đình và vị hôn thê vượt biên, sau đó vợ chồng ông định cư tại Pháp khoảng hai năm. Tháng Tư năm 1981, gia đình ông sang Mỹ và sinh sống tại Westminster, Nam California. Ông tiếp tục sáng tác với một giọng trầm ngâm, buổn.

   Gần bốn năm sau khi hôn nhân tan vỡ, ông qua đời ngày 3 tháng 8, 1992 trên một chiếc xe đậu trong một sân chùa ở thành phố Garden Grove, Nam California, hưởng dương 40 tuổi…”

(trích Nguyễn Tất Nhiên - Thơ Văn Trọn Tập - 2025)


(2) Nguyễn Thị Minh Thuỷ, học cùng niên khoá với tôi (1966 - 1973) tại trường Trung Học Ngô Quyền, là ngôi trường công lập duy nhất của tỉnh Biên Hoà thời đó. Nguyễn Tất Nhiên học cùng trường với chúng tôi và học lớp trên hai khoá.

Tờ báo giai phẩm Xuân Ngô Quyền 1973, khi tôi là Trưởng khối Văn nghệ - Báo chí của trường thì Minh Thuỷ tham gia Ban Báo chí và là Trưởng ban Biên tập của giai phẩm Xuân.

LÊ PHONG QUAN.

Chuyện tình chị tôi : HOA NGỌC LAN - Nguyễn Thị Hương.

 



Chuyện tình chị tôi :

     HOA NGỌC LAN

  Chị là con gái đầu lòng của O tôi. Ngày chị sinh, dượng tôi trồng một cây ngọc lan trước ngõ. Chị bao nhiêu tuổi thì cây bấy nhiêu năm. Cây cao, lá xanh ngắt, cứ đến mùa, hoa thơm ngát cả một góc sân. Sáng nào đi học ngang, anh cũng đứng lại. Chị biết ý, chạy ra, với tay hái chùm hoa còn đẫm sương, dúi vào túi áo anh: “Cho anh đó, để thơm cả buổi học.”

   Chị và anh ở cùng thôn Nhất Đông, một làng nhỏ của vùng đất hiền hòa An Cựu. Chị ở xóm dưới còn anh ở xóm trên, ngày ngày cùng đi học. Chị học trường Đồng Khánh còn anh là trai Quốc Học. Buổi sáng, chị với tà áo trắng tinh khôi, chân bước nhẹ thướt tha dưới hàng tre xanh rì rào trong gió sớm mai, còn anh lẽo đẽo theo sau. Anh hay trêu chị: “Mai mốt lớn, anh sẽ trồng cả vườn ngọc lan cho em hái.” Chị đỏ mặt, cúi đầu bẽn lẽn cười.

     Nhà chị nghèo, Dượng đi lính bị thương, để lại ở chiến trường Quảng Trị một chân với thân thể nhiều miểng đạn nên đau yếu liên miên. Một mình O chạy chợ nuôi bầy con nheo nhóc. Hết lớp đệ tứ chị cắn răng xếp tà áo trắng tinh khôi lại, nghỉ học. Chị nói với mẹ: “Để con ở nhà phụ mẹ, cho mấy em được đi học.” 

     Chiều chiều, chị vẫn hái vài cánh hoa ngọc lan thỉnh thoảng gửi tặng anh rồi lặng lẽ khóc.

   Chị đẹp. Đẹp kiểu con gái Huế, dịu dàng mà thăm thẳm, chị là cánh hoa đồng nội xinh đẹp của thôn Nhất Đông ngày ấy. Đôi mắt chị màu nâu khói, buồn như một chiều thu không nắng. Nhiều trai làng để ý đến chị, cũng muốn làm quen. Nhưng lòng chị đã trót gửi cho anh, chàng trai xóm trên.Tình cảm anh chị đến tự nhiên như cỏ cây hoa lá ven sông. Hai đứa thương nhau từ dạo gánh nước chung ở bến sông, cùng chung con đường đi học. Anh nghèo, nhà chị càng nghèo hơn, mà nghèo lại hay thương nhau.

     Mẹ hay thở dài: “Nhà mình nghèo, nhà nó cũng nghèo. Cha con thì bệnh, mẹ trông cả vào con."

    Chị không nói. Chỉ cúi mặt. Nước mắt chảy ngược vô trong.

   Rồi một hôm nhà chị có người đến dạm ngõ. Nhà họ ở trên phố chợ Đông Ba. Mẹ kéo chị lại, bảo: “Người ta xin cưới. Người ta hứa lo thuốc thang cho cha, cất lại cái nhà dột, cho các em con ăn học.”

     Đêm đó, chị ra bến sông, nơi anh chị lần đầu gặp nhau và thường hẹn hò. Chị thả vài cánh hoa ngọc lan xuống dòng nước đang lững lờ trôi. Chị khóc. Chị thương anh và thương luôn cả chị. Ngày mai chị đi lấy chồng.

    Anh nghe tin, buồn đến đứt ruột. Anh bỏ học, đăng lính hải quân, theo tàu vô Nam. Anh đi như chạy trốn một nỗi đau, chạy trốn cả mùi hoa ngọc lan đã thành kỷ niệm. Anh trách anh sao không giữ chị dài lâu để chị lỡ duyên tình đầu. Anh trách ông trời sao không cho anh chị đi hết con đường. 

  Ngày nhà chị pháo nổ, đám cưới chị rình rang cả xóm. Chị mặc áo cô dâu xinh xắn nhưng đôi mắt màu nâu khói vẫn buồn rười rượi. Mẹ nắm tay chị, an ủi: “Đời con gái, sướng khổ tại duyên trời.” Chị lại khóc.

   Chồng chị tử tế, lo cho dượng thuốc thang, lo cho các em chị ăn học. Chị sinh được đứa con trai giống chồng như khuôn. Chị làm tròn bổn phận dâu con, bổn phận vợ, bổn phận mẹ. Chỉ có một thứ chị không làm tròn được là quên anh. Mùi hoa ngọc lan mỗi độ tháng ba về làm chị đau nhói.

    Hơn mười năm sau, tôi gặp lại chị trên một con phố Đà Nẵng. Tóc chị vẫn dài, búi gọn sau gáy. Dáng chị đằm thắm hơn xưa, nhưng đôi mắt màu nâu khói thì vẫn vậy, vẫn buồn, vẫn thăm thẳm như chiều thu.

   Hai chị em vô quán nước bên đường. Chị nhấp ngụm trà, nhìn tôi, khẽ hỏi:  

“Bao lâu rồi, em có gặp anh ấy không? Nghe nói… ảnh đi hải quân, đóng đâu trong Nam…”

   Tôi lắc đầu: “Từ ngày ảnh đi, biệt tăm luôn chị à. Nghe đâu tàu lênh đênh, lâu lắm mới ghé bờ một lần.”

   Chị lặng thinh không nói. Gió thổi sợi tóc mai lòa xòa trước trán chị. Đôi mắt màu nâu khói bỗng ướt như cả một trời chiều mưa đổ. Chị thở dài, nhìn xa xăm ra ngoài phố.

    Trong cuộc đời có nhiều cuộc tình bắt đầu bằng nhiều thứ, riêng chị, mối tình của chị bắt đầu bằng những chùm hoa ngọc lan, bằng áo trắng tinh khôi, rồi kết thúc bằng một lần cúi mặt làm dâu. Còn anh mang theo mùi hương ngọc lan cũ, đi suốt một đời lênh đênh, không một lần trở lại.

Chị, cả đời chắc chỉ dám gọi anh là “người xưa cũ” trong những chiều mưa xứ Huế miên man và thầm hát

Tóc mai sợi ngắn sợi dài

Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm...


Nguyễn Thị Hương 

28.4.2026

Truyện rất ngắn : BẾN QUÊ - Pham Minh Tri.

 



Truyện rất ngắn : BẾN QUÊ.

("Whatever our souls are made of, his and mine are the same" — Emily Brontë.)

Năm mươi tuổi, Việt góa vợ được ba năm. Sài Gòn, Paris, rồi Toronto, đời anh là những chuyến bay dài và căn hộ lạnh. Mùa khô này, anh quyết định về nước một chuyến. Không phải để tìm lại tuổi trẻ, mà để trả một món nợ với chính mình: thắp nén nhang cho ba má, rồi ghé Chợ Lách, Bến Tre, thăm thằng Khải — bạn cùng bàn năm lớp 9, thằng đã đẩy anh xuống ghe vượt biên lúc 15 tuổi.

Xe đò thả anh xuống ngã ba Cây Dương lúc xế trưa. Nắng miền Tây rọi thẳng, mùi mắm, mùi sình với mùi lục bình hòa vào nhau, quen đến nhói lòng. Tư Khải chạy chiếc honda 78 cà tàng ra đón, vẫn ốm nhom, răng khểnh, cười toe:  

“Mày còn khỏe hả mày? Tao tưởng mày thành Tây rồi quên tiếng Việt chớ...”

Nhà Tư Khải nằm khuất sau vườn dừa xanh um. Vẫn nhà lá, nay đã lót gạch tàu, trước hiên có giàn bông giấy đỏ rực. Vừa dựng xe, Việt đã nghe tiếng chổi quét sân xào xạc.  

“Út ơi, có khách nè!” Khải kêu lớn.

Từ sau hè, một người phụ nữ bước ra, chân đất, quần vải ú đen, áo bà ba màu hường phấn đã phai màu. Tóc cô bới gọn sau gáy, vài sợi tóc con rơi xuống thái dương ướt mồ hôi, trông duyên dáng kỳ lạ. Cô đang cầm cây chổi chà, ngẩng lên, sững người. Việt cũng sững người.  

Anh nhớ mang máng: ngày anh đi, nhà Khải có con bé em út khoảng 5 tuổi, hay lẽo đẽo theo anh xin kẹo. Giờ đứng trước mặt anh là người phụ nữ đã 40, mắt đen láy, long lanh, đuôi mắt đã có ít nếp chân chim mờ, nhưng nụ cười vẫn nguyên cái vẻ hiền khô, cái đẹp mộc mạc của đất phù sa, cái kiểu chân chất mà bên xứ người anh tìm hoài không thấy, không son phấn, không vội vã, nó tự nhiên và thật thà như nắng miền Nam lóe lên trong mỗi ánh nhìn.  

“Út Lành phải không ?” Việt lắp bắp.  

“Dạ. Anh. Em nè. Anh Tư hay nhắc anh” cô cười mím chi, cúi đầu. Hai má ửng hồng, không rõ vì thẹn, hay vì nắng.  

Bữa cơm chiều dọn dưới hàng hiên. Canh chua cá lóc bông so đũa, tép rang dừa, bông lục bình chấm mắm ớt. Lành không ngồi chung, cô chỉ lăng xăng bưng nước, thêm cơm. Mỗi lần cô đi ngang, mùi tóc, mùi chanh lại thoảng qua làm Việt lạc tay, gắp nhầm ngay chén nước mắm.  

Tối, Khải lôi chai rượu đế ra hai đứa lai rai. “Hồi mày đi, con Út khóc ba ngày. Nó nói anh Việt hứa về dẫn nó đi Sài Gòn coi sở thú.”

Lành đang rửa chén dưới sàn nước, nói vọng lên: “Anh Tư nhắc chuyện con nít hoài à...” Giọng cô lẫn trong tiếng ếch nhái gọi nhau vang vọng, tiếng dế kêu rả rích, nghe thật yên bình.

Đêm đó Việt trằn trọc. Giàn bông giấy ngoài cửa sổ in bóng trăng xuống vách. Anh 50, góa vợ, tóc đã muối tiêu. Còn Út 40, chưa chồng, vì lo cha già bệnh nằm một chỗ hơn mười năm, rồi lo má, rồi lo cháu. Chợ Lách nhỏ, trai làng chê cô “già”, "hết đát",  cô cũng không màng.  

Sáng hôm sau, Khải đi giao cây giống. Chỉ còn Việt với Lành. Cô dẫn anh ra sau vườn, chỉ cây mận hồng đào: “Hồi anh đi nó mới bằng cổ tay em. Giờ nó nuôi cả nhà.”  

Việt không nhìn cây. Anh nhìn bàn tay cô, nhỏ nhắn, trắng muốt, ngón tay không thon, có vài vết sẹo cắt cỏ, móng cắt cụt để tự nhiên. Mà sao anh thấy đẹp hơn mấy bàn tay bôi kem dưỡng da, sơn móng đủ màu mà anh từng nắm.  

“Anh… ở chơi bao lâu?” 

Cô hỏi anh, mắt không dám nhìn thẳng.  

“Hai tuần. Rồi anh về lại.”  

“Dạ.” 

Cô chỉ “dạ” một tiếng, rồi tiếp tục hái mận, như giấu tiếng thở dài.  

Ở bên Lành, Việt cảm thấy một niềm hạnh phúc rạo rực khó tả, nó đến kỳ lắm, không ồn ào. Nó như con nước ròng nước lớn, cứ dâng lên mỗi lần thấy cô cười, mỗi lần ngắm cô đang lặng im ngồi lựa đậu. Ở Toronto, Việt quen các phụ nữ tự lập, sắc sảo, yêu nhanh bỏ nhanh. Còn Lành thì chậm. Chậm như ghe xuồng thả trôi mùa nước nổi. Mà càng chậm lại càng làm người ta không dứt ra được.

Bữa thứ năm, trời mưa. Lành đội áo mưa đã rách đi chợ về, ướt như chuột lột. Việt bật dậy lấy khăn. Lúc đưa khăn, tay anh chạm tay cô. Tay cô lạnh ngắt, mà ngực anh nóng ran.  

“Cảm ơn anh.” Cô lí nhí.  

Việt buột miệng: “Lành… sao em không lấy chồng?”  

Chị sững lại, rồi cười buồn: “Duyên em nó lỡ. Mà … em ở vậy quen rồi. Ở quê con gái 40 là hết duyên. Em đâu dám mơ.”  

Câu nói đó như cứa vào lòng Việt. Đêm đó anh gọi cho con gái bên Canada. “Ba thương một người.” Con gái im lặng hồi lâu, rồi nói: "If she makes you happy, then Mom would want that."

Ngày cuối, Khải bày tiệc chia tay. Rượu vào, Việt nắm tay bạn, lắc lắc: “Tao hỏi thiệt mày… nếu tao muốn rước Út Lành qua bển, mày cho không?”  

Khải phun ngụm rượu: “Mày khùng hả? Nó 40, mày 50, còn cưới xin gì mậy? Mà… nếu nó chịu, tao gả liền. Em tao cực quá rồi.”

Lành đang dọn dẹp trong bếp, nghe hết. Chén trên tay rơi xuống, vỡ tan.  

Khuya, Việt ra sàn nước. Lành đang ngồi bó gối, ngó mông lung ra vườn.

“Anh xin lỗi. Anh làm em buồn.”  

Chị lắc đầu. “Em không buồn. Em chỉ sợ… anh thương hại em. Em già, quê mùa, qua bển em biết làm gì? Người ta sẽ nói anh...”  

Việt ngồi xuống kế bên, “Anh 50 tuổi, anh biết anh cần gì mà. Anh chỉ cần một người sáng dậy biết nấu nồi canh chua, chiều rảnh ngồi lặt rau, không cần nói gì nhiều cũng hiểu nhau. Anh đi nửa vòng trái đất giờ mới biết. Em không quê mùa. Em chính là quê nhà của anh.”

Trăng thượng tuần treo trên ngọn dừa. Vài con đom đóm lập lòe trên ngọn bần. Lành không nói. Chỉ có giọt nước mắt lăn xuống, rơi vào khoảng tối giữa hai người.

Sáng ra bến xe. Chỉ có Khải. Lúc xe chạy, Việt nhìn xuống, ruộng vườn xanh mướt vùn vụt lùi lại phái sau. Điện thoại rung. Tin nhắn từ số lạ:  

“Anh Việt, anh đi khỏe nha."

Việt bật cười, mắt cay cay. Anh 50, góa vợ, cứ ngỡ tim mình đã chết khô. Ai ngờ chỉ một ánh nhìn gập lại trong một căn nhà lá đơn sơ ở quê nhà, một dáng áo bà ba đã bạc màu, lại làm tim anh như sống lại lần nữa.  

Có những nửa kia của mình,  phải gần hết nửa đời người mới gặp. Mà gặp rồi, thì chỉ cần nhìn người ta cười mỗi ngày tới hết phần đời còn lại. 

Chỉ vậy thôi.

PHAM MINH TRI (FB)

Sưu tầm.

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2026

Truyện cực ngắn : CA TRỰC MÙA NƯỚC NỔI - Nguyễn Thyanh.




CA TRỰC MÙA NƯỚC NỔI. 

Sống chung với lũ" (thành ngữ miền tây Nam bộ)

Tháng chín năm 1980, nước lên. Ở Tháp Mười, nước lũ về không lên từ từ mà tràn qua bờ kênh như ai lén đổ cả thau nước ra. Chỉ sau một đêm, cái sân trạm xá đã ngập hơn mắt cá, ba gian nhà thành ba cái cù lao.

Bác sĩ An mới ra trường, về công tác được 3 năm, râu mọc lởm chởm vì cả tuần chưa cạo. Anh trực 24/24. Chị Mười là hộ sinh  kỳ cựu từ trước 75, tóc đã điểm bạc. Điện cúp từ hôm trước, máy nổ thì chạch cà ạch cà đụi vì vô nước. Toàn trạm xá chỉ còn bốn cây đèn dầu, một xuồng ba lá cột ở bậc thềm, và giàn loa phát toàn tiếng ếch nhái kêu như vỡ chợ.

Mười giờ đêm, mưa vẫn xối xả. Cửa sau có tiếng gõ mạn xuồng. Một người đàn ông ướt sũng, đội nón lá rách, hì hục đẩy xuồng vào tận hiên: "Bác sĩ ơi, vợ tui sắp đẻ, mà nước ngập tới nóc nhà, không đi đâu được!"

Trên xuồng là một cô gái chừng hai mươi, bụng to vượt mặt, nhăn nhó vì đau, bên cạnh, bà mẹ chồng ôm cái túi vải đựng mấy bộ đồ trẻ con. Nước trong xuồng lấp xấp.

Chị Mười nhìn An: "Đẻ trên xuồng không được đâu, kéo lên giường đi." 

Nhưng giường nào cũng lé đé nước. Cuối cùng, họ trải mấy tấm ván lên hai cái bàn khám, thành một cái "giường" cao khỏi nước.

An soi đèn dầu. Cô gái tên Lành, con của xã đội phó, mang thai con so, đã đau bụng từ chiều. Khám nhanh, cổ tử cung mở trọn, đầu lọt thấp, nhưng tim thai yếu, chỉ còn 90 lần/phút, nhịp không đều.

"Nước ối xấu rồi, phải kẹp ra liền," chị Mười nói nhỏ. Không có máy hút, không có forceps. An nhớ lại bài học ở Sài Gòn: "Khi không có gì, dùng tay mình."

Anh rửa tay bằng nước chín rồi cồn, xỏ găng. Chị Mười giữ đèn, ánh sáng vàng chao theo mưa tạt. Ngoài kia, nước dâng thêm, tràn vào tận mép ván.

An luồn tay, xoay nhẹ đầu bé. Mỗi lần rặn của Lành, nước dưới sàn lại sóng sánh. Mồ hôi An nhỏ xuống nhòe cả mắt. "Ráng đi... ráng một hơi nữa, em, một hơi nữa thôi!"

Đứa bé ra tím ngắt, không khóc. Dây rốn quấn hai vòng. Chị Mười cắt rốn, An dốc ngược bé, vỗ lưng, hút nhớt bằng miệng qua ống cao su - cách làm của những năm không có máy. Một giây, hai giây, ba giây dài như cả một mùa nước. Rồi một tiếng ọ ẹ bật ra, yếu nhưng rõ.

Bà mẹ chồng òa khóc, chắp tay vái lia lịa cái đèn dầu. Bà nghĩ ông bà đang đứng đó ngó, phò hộ cho cháu mình? Lành kiệt sức, nằm thở dốc, nước mắt trộn mồ hôi.

Chưa kịp mừng, máu từ mẹ trào ra xối xả. Băng huyết. Lại băng huyết. An rủa thầm trong bụng - mùa nước nổi năm nào cũng thiếu vitamin K, sản phụ ăn toàn cá linh, rau mác, không có gì cầm máu.

"Ép tử cung!" - vẫn câu nói cũ. An leo hẳn lên miếng ván, quỳ trên giường, dùng cả trọng lượng người ép xuống bụng Lành. Chị Mười chạy đi lấy ống ergotamine cuối cùng trong tủ - khỏi coi đát, kệ, có còn hơn không.

Mười phút ép liên tục, tay An run bần bật. Máu chậm lại, rồi cũng ngừng. Lành mở mắt, thều thào: "Con tui... còn sống hả bác sĩ?"

Mừng hết lớn.

An gật, không nói nổi. Anh đặt đứa bé da đỏ hỏn lên ngực mẹ. Ngoài hiên, mưa vẫn còn rơi trên mặt nước mênh mông.

Ai cũng nhễ nhại. Chị Mười lôi từ trong tủ ra nồi cơm nguội nấu từ trưa, còn đúng bốn chén, với một dĩa mắm kho quẹt và mấy con cá linh kho lạt - phần ăn trực.

Họ ngồi ngay trên giường, chân thả xuống nước, cùng nhau ăn dưới ánh đèn dầu. Cơm nguội, mắm mặn, cá linh mềm rục xương. Lành không ăn được, bà mẹ chồng vừa bế cháu vừa và cơm ăn ngon lành.

Người chồng, nãy giờ im lặng, bỗng nói: "Mùa nước năm nay lúa nhà tui mất trắng, nhưng trời cho đứa con gái. Tui đặt tên nó là con Thủy, bác sĩ coi được hông?"

An cười, lần đầu sau nhiều giờ căng thẳng: "Thủy là nước mà. Nước lên thì ngập, nhưng nước cũng mang cá về...Tên đó hay chớ."

Ăn xong, An ra hiên, múc một gáo nước lụt rửa tay. Nước đục ngầu phù sa. Anh nhìn ra đồng - mênh mông trắng xóa, chỉ thấy mấy ngọn tràm nhô lên xa xa. Trạm xá lúc này như một hòn đảo nhỏ chỉ chực chìm lỉm giữa biển cả mênh mông

Chị Mười đến ngồi cạnh An, đưa cho anh ly trà nóng rót từ bình thủy: "Mỗi mùa nước, mình lại đỡ thêm vài đứa. Tụi nó lớn lên cũng đâu nhớ mình là ai, nhưng mình sẽ nhớ hoài.."

An gật. Năm 1975 anh làm quen với ánh đèn dầu. Năm 1978 anh học ăn cơm độn rồi cũng quen. Năm 1980, giữa mùa nước nổi, anh học cách đỡ đẻ trên mấy miếng ván kê giữa một biển nước, trong ánh đèn chao nghiêng. Rồi cũng quen.

Đêm hôm đó, An ghi vào sổ trực, mực nhòe đi vì giấy ẩm: "12/9/1980. Sản phụ Nguyễn Thị Lành, 20t, sinh con so, ngạt, băng huyết. Mẹ tròn con vuông. Đặt tên bé Thủy."

Rồi anh viết vào cuốn nhật ký treo trên vách, viết cho riêng mình: Nước nổi không làm chết bà con Tháp Mười. Chỉ làm người ta gần nhau hơn. Đêm nay, ăn cơm nguội với cá linh trên mặt nước, mà ngon lạ lùng - có lẽ vì đó là bữa cơm của những người vừa cùng nhau giữ được một mầm sống, giữa mùa nước dâng.

NGUYỄN THYANH. (FB) 

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2026

Thời gian : VÉ SỐ HẾT HÀNG,... - Hong Khuu.

 




VÉ SỐ HẾT HÀNG, VÉ VỀ “NGÀY XƯA” AI BÁN?

Có những câu hỏi vừa bật ra khỏi môi là nghe cái “bụp” — trái tim rớt thẳng xuống đáy bao tử, nặng trịch như ai cột cục đá mài vô sợi gân cổ. Kỳ thiệt nghen, đời người lạ lùng, càng đau lại càng muốn nhớ — giống y như kẻ ghiền ớt, biết cắn vô là sặc sụa mà vẫn cứ ham chấm thêm miếng nữa cho nó đã cái nết phong trần.

“Bao giờ cho đến ngày xưa?”

Mới thốt lên thôi mà nguyên một bầu trời ký ức nó ụp xuống đầu. Mà cái mưa ký ức này ngộ lắm — mưa toàn tiếng dép sa-bô gõ “cộp cộp” trên nền gỗ, tiếng pháo đì đùng xé toạc màn đêm ba mươi, tiếng má khua nồi chén loảng xoảng dưới bếp hòa với tiếng ba ho khan ngoài hiên. Cái tiếng ho mỏng dính, liêu xiêu — mỏng hơn cả làn khói nhang đêm giao thừa. Hồi đó tui không biết rằng mình đang ký ức hóa từng tiếng động nhỏ đó, khắc từng tiếng từng tiếng vào tâm khảm mang theo suốt cả đời người còn lại.

Chị em tui hồi nhỏ giống như bầy chim sẻ đói nằm chen chúc trong cái ổ rơm rách nát. Cái ổ nghèo tới mức gió lùa qua vách nghe rõ mồn một hơn cả tiếng người — vậy mà đứa nào đứa nấy cũng nôn lớn, nôn mọc lông mọc cánh để bay. Bay khỏi mái nhà thấp lè tè. Bay khỏi những bữa cơm chan nước tương mà phải giả bộ húp sùm sụp như thể đó là mỹ vị trần gian, cho má bớt tủi lòng.

Hồi đó cứ tưởng ngoài đời là thiên đường.

Ai dè lớn lên mới thấu: đời rộng thiệt đó, mà lòng người lạnh hơn nước đá cây. Và cái thiên đường mình ham bay tới, thật ra chỉ là một căn phòng trống không mùi má, không tiếng ba.

Có những đêm đứng giữa phố thị đèn hoa, xe cộ chạy ào ào như nước lũ, tự nhiên sống mũi cay xè — không phải vì khói xe, mà vì nhớ. Nhớ cái quạt máy quay “cọt kẹt” như ông già hen suyễn. Nhớ cái nền gỗ ọp ẹp, mỗi lần bước qua là kêu “cót két” như đang than thở giùm cho phận người. Nhớ cái thứ ấm áp kỳ lạ mà chẳng có thể tìm được cho dù bất kỳ nơi đâu trên thế gian này. Nhà không có nổi cây quạt tốt — vậy mà người ôm người ngủ, nghe nó mát làm sao!.

Ông bà nói đâu có sai: “Con người có tổ có tông, như chim có tổ, như sông có nguồn.” Sông chảy vạn dặm cũng nhớ đầu nguồn. Người bay cao cỡ nào, tới hồi bị đời quăng quật te tua như cọng lục bình mùa nước nổi, mới hiểu — cái tổ rơm rách nát năm nào mới là thứ thuốc an thần ngon lành nhất thế gian. Không cần toa, không cần tiền. Chỉ cần bước vào là hết bệnh.

Tấm hình mùng Hai Tết Tân Dậu 1981.

Năm đó tui mười lăm tuổi — cái tuổi con gái bắt đầu biết soi gương lâu hơn soi bài tập. Cái tuổi mà mặc được bộ đồ mới là thấy đời mình sáng rực như đèn chớp hội chợ, hễ ai khen một câu là trong bụng nở như bắp rang. Sau bao năm Tết tản mác vì cái nghèo đeo đẳng không chịu buông tha, năm đó cả nhà mới được quây quần. Đủ mặt, đủ tiếng cười, đủ hơi người — mà hễ đủ người là Tết tự nhiên thành “Tết thiệt”, dù nhà chẳng có gì ngoài mấy đòn bánh tét và một tấm chiếu mới.

Nói tới bánh tét là tui phải kể.

Ba tui gói bánh kiểu “cha truyền con nối” mà hổng giống ai hết trơn — đòn bành ky bự chảng như khúc củi đình, nhân đậu xanh để sống nhăn răng. Tới hồi cắt ra, mỡ màng đậu đỗ đổ lộn tùng phèo như công trình thầu bỏ trốn. Hồi đó tui sợ bánh của ba, né còn hơn né người yêu cũ thiếu nợ. Nhìn sang bánh nhà hàng xóm mà thèm: nhỏ gọn, ráo hoảnh, đẹp như con gái nhà giàu đi lễ chùa đầu năm.

Vậy mà bây giờ, tui thèm cái đòn bánh “banh chành” đó tới đứt ruột.

Có những món ăn ngon đâu phải vì vị giác. Mà vì cái người ngồi tỉ mẩn gói cho mình ăn… giờ đã ngao du tận miền mây trắng xa xôi.

Hồi đó chụp hình gia đình là một sự nghiệp gian nan trần ai khoai củ. Phải kéo nhau ra tận tiệm Tân Việt Mỹ ngoài Thị Nghè — mà ba má tui thì ngán đi xa hơn ngán thiếu gạo, nên bác Ba Tặng thành “phó nhòm bất đắc dĩ” của thời cuộc.

Nhìn cái áo tui mặc trong hình mới ghê: hoa lá hẹ nở rộ từ vai xuống eo, màu mè như thể mùa Xuân uống nhầm rượu đế rồi té vào tấm vải. Vậy mà mặc vào là thấy mình đẹp cỡ minh tinh Hồng Kông chứ chẳng chơi! Con gái mà — hồi đó đâu cần đẹp thiệt, chỉ cần tin mình đẹp là đủ vui nguyên cái Tết. Suốt đời này tui chưa thấy ai mặc cái áo giống vậy. Chắc ông trời đặt may đúng một bộ rồi dẹp mẫu luôn — cái áo đó chỉ thuộc về con nhỏ mười lăm tuổi trong tấm hình đó, và mãi mãi là vậy.

Còn đôi sa-bô đầu tiên trong đời. Mang vào nghe “cộp cộp” mà lòng nở hoa dữ thần. Tối ngủ còn để ngay đầu giường, lâu lâu hé mắt ngó coi nó còn đó không — như thể sợ hạnh phúc cũng biết bỏ đi giữa đêm.

Căn nhà ngày xưa sàn gỗ mục loang lổ như bị thời gian gặm nhấm từng miếng. Cái gác thấp lè tè tới mức đưa tay lên là đụng cây đà ngang nghe “cốc” một cái muốn giác ngộ nhân sinh. Bên trái là bộ bàn gỗ gụ. Bên phải là cái divan trải chiếc chiếu cói mới tinh — món “vũ khí” trình làng mỗi dịp Xuân về của má.

Má tui kỳ lắm nghen. Nhà có thể nghèo, chớ Tết nhất định phải có cái gì mới: cái chiếu mới, bộ đồ mới, hay hũ dưa món mới muối. Như thể má muốn nói với mùa Xuân — và với cả năm đứa con đang nhìn — rằng: “Nhà mình nghèo thiệt, chớ chưa bao giờ đầu hàng.”

Tui hiểu điều đó mãi về sau. Hiểu rồi, ngồi nhớ lại mà mắt cay xè không biết tại sao.

Có ba má để thương, có anh chị em để cãi lộn rồi tối ngủ quên sạch. Có cái cảm giác “má còn dưới bếp, ba còn ngoài hiên” — thứ cảm giác mà sau này mất rồi mới biết nó quý hơn vàng mười. Mà lạ, hồi đó mình không biết đang hạnh phúc. Hạnh phúc nó thường vậy — chỉ lộ diện khi đã thành ký ức.

Nhớ nhất là cú ba “gài” thằng em út: “Ăn nửa trái mới cay, ăn nguyên trái ngọt ngay hà con!” Thằng nhỏ tin thiệt, nuốt nguyên trái ớt hiểm. Ba giây sau mặt nó đỏ như trái gấc chín, nước mắt nước mũi chảy ròng ròng, nhảy tưng tưng như bị điện giật — giữa tiếng cười giòn tan vỡ ra khắp nhà.

Cái tiếng cười đó. Tui vẫn nghe được. Vẫn còn nguyên trong tai. Mà người tạo ra nó thì không còn nữa.

Trong tấm hình, thằng anh lớn mặt sưng sỉa vì đang đỏ bài bị kêu về chụp hình, mắt nhìn ống kính như “viên đạn lên nòng.” Con em gái sún răng thì cười tươi nhứt nhà. Ngẫm lại, tấm hình đó ai cũng thiếu cái gì: người thiếu tiền, người thiếu vui, người thiếu răng… Chỉ có tình thương là dư dả. Chỉ có tình thương là không ai thiếu.

Ba má tui đi bên nhau gần 57 năm. Như cặp máy dầu cũ kỹ nổ “lụp bụp” mà bền tới phát sợ. Nuôi năm cái “tàu há mồm” thời bao cấp, thiếu trước hụt sau, vậy mà vẫn cắn răng cho con học tới nơi tới chốn.

Ba má chẳng để lại vàng bạc. Chỉ để lại con chữ. Chỉ để lại cái nết tử tế để tụi tui bước vào đời mà không cần cúi mặt với ai.

Mà thiệt tình, đó mới là thứ gia tài không bao giờ mất giá.

Giờ ba đã thành người thiên cổ.

Người ta nói:

“Còn cha còn mẹ thì hơn,

Không cha không mẹ như đờn đứt dây.”

Cây đàn của tui giờ một dây đã đứt rồi. Dây còn lại — tiếng nó ngân lên sao mà chông chênh, sao mà buồn thảm. Không phải không có âm thanh. Mà là âm thanh đó nó thiếu, nó lạc, nó cứ vang lên giữa khoảng trống mà không có gì đỡ lấy.

Đêm giao thừa, tui nhớ tiếng còi tàu Tân Cảng hú dài như tiếng nấc của thời gian rời bến. Nhớ dáng ba lụi cụi thắp nhang, khói nhang quấn lấy lưng ổng — như thể định mệnh đang ôm lấy một đời người lam lũ, không muốn buông.

Hồi đó tui cứ nghĩ dáng ba thắp nhang sẽ còn đó mãi. Ai mà biết được — có những điều mình thấy ngày nào cũng thấy, tới một ngày không thấy nữa mà không hề được báo trước.

Có những cuộc chia tay không có hồi chuông cảnh báo. Có những người mình tưởng sẽ gặp hoài — tới lúc họ đi rồi mới hiểu: trên đời có những cuộc tái ngộ mà không con đường nào dẫn tới được.

Tui thèm được làm con nhỏ 15 tuổi năm nào.

Mặc cái áo hoa lá hẹ quê mùa. Mang đôi sa-bô gõ “cộp cộp” khắp xóm. Ăn lại đòn bánh tét nát đội hình của ba. Nghe má càm ràm. Thấy anh em cãi chí chóe rồi ngủ khì bên nhau như bầy mèo con. Ngồi canh nồi bánh đêm ba mươi, mắt khói cay mà không chịu vào nhà vì sợ bỏ lỡ một giây nào đó của đêm đó.

Hồi đó nghèo thiệt.

Mà sao lòng người giàu quá.

Bây giờ đủ thứ hết…

Lại thiếu đúng những người mình muốn gặp nhứt.

Nếu đời có bán vé quay về — tui hổng cần trẻ lại, hổng cần giàu thêm. Tui chỉ xin được làm con của ba má thêm một lần nữa thôi.

Được gọi một tiếng “Ba ơi” mà còn có ba để gọi.

Chỉ vậy thôi.

Mà sao nghe xa dữ thần.

Ngày xưa ơi… nếu có rảnh, ghé tui chơi một bữa nghen. Tui vẫn ngồi đây, vẫn nhớ, vẫn chừa sẵn trong lòng một cái ghế — cho những người đã cũ, cho những ngày không bao giờ trở lại.

Còn bạn… có bao giờ giữa một đêm yên lặng, tự nhiên nghe nguyên một trời tuổi thơ ngồi khóc trong tim mình chưa?

HONG KHUU (FB) 

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2026

Cuộc sống : CHIẾC XE ĐẠP CŨ - St trên FB.

 


CHIẾC XE ĐẠP CŨ 

Hồi đó, tôi làm thợ sửa xe đạp ở một con hẻm nhỏ gần chợ huyện.

Tiệm của tôi chỉ là cái mái tôn thấp lè tè, trước treo cái bảng gỗ đề nguệch ngoạc: “Sửa xe – Vá ruột – Thay thắng”. Mưa xuống là nước tạt ướt hết nửa sạp. Nắng lên thì nóng như cái lò.

Tôi sống một mình.

Cho tới một buổi chiều, có một bà cụ dắt theo con bé chừng tám tuổi tới tiệm.

“Chú ơi, vá giùm bánh xe. Mai nó phải đi học.”

Con bé gầy nhom, mặc bộ đồng phục đã sờn cổ. Nó không nói gì, chỉ ôm cái cặp trước ngực.

Tôi vá xe xong, bà cụ lục túi hồi lâu, đếm từng đồng tiền lẻ. Thiếu hai ngàn.

Tôi lắc đầu:

“Thôi khỏi. Khi nào có thì trả.”

Bà cụ cảm ơn rối rít. Con bé ngẩng lên nhìn tôi lần đầu tiên.

Ánh mắt nó sáng mà buồn lạ.

Từ đó, chiều nào nó cũng ghé tiệm tôi ngồi làm bài tập. Bà nó bán rau ngoài chợ tới tối mới về, nên nó đợi ở đây cho khỏi lang thang.

Tôi không biết dạy toán, chỉ biết pha cho nó ly nước mát.

“Chú ơi, chữ này đọc sao?”

Nó chìa tập ra.

Tôi đánh vần chậm rãi. Nó cười, hai cái răng cửa sún.

Nó tên là Vy.

Có hôm trời mưa lớn, tiệm dột tứ tung. Tôi lấy cái thau hứng nước. Vy ngồi nép vô góc, vẫn cặm cụi viết.

Tôi hỏi:

“Sao con không nghỉ học cho đỡ cực?”

Nó lắc đầu.

“Con muốn làm cô giáo. Sau này dạy lại cho mấy bạn không có tiền học thêm.”

Tôi nghe mà mắc cười.

“Làm cô giáo giàu hông?”

Nó suy nghĩ một hồi:

“Không giàu tiền. Nhưng chắc giàu vui.”

Con nít nói chuyện kỳ ghê.

Rồi một hôm, Vy không tới nữa.

Ngày đầu tôi nghĩ chắc nó bệnh.

Ngày thứ hai, tôi chạy ra chợ hỏi.

Người ta nói bà nó té xe, nằm viện trên tỉnh. Không có tiền đóng viện phí, nên xin về. Bệnh nặng thêm.

Tôi lật đật chạy tới căn nhà trọ cuối xóm.

Vy ngồi trước cửa, mắt đỏ hoe.

“Chú…”

Chỉ kêu được một tiếng vậy rồi khóc.

Bà cụ mất sau đó hai ngày.

Căn phòng trọ nhỏ xíu, không còn ai thân thích. Họ hàng xa dưới quê nghèo quá, không lên được.

Tôi đứng nhìn con bé loay hoay gấp quần áo của bà bỏ vô cái bao ni lông. Nó làm rất cẩn thận, như sợ làm đau ai đó.

Tối hôm đó, tôi nói:

“Con qua ở tạm tiệm với chú. Để tính.”

Vy không khóc. Nó chỉ gật đầu.

Từ ngày có nó, tiệm sửa xe bớt lạnh.

Buổi sáng tôi chở nó đi học bằng chiếc xe đạp cũ. Buổi chiều nó ngồi học bài, rồi quét tiệm phụ tôi. Khách tới, nó lễ phép:

“Dạ chú đợi chút, ba con đang sửa.”

Tôi giật mình mỗi lần nghe chữ “ba”.

Tôi chưa từng có gia đình. Không vợ, không con. Vậy mà tự nhiên có đứa nhỏ gọi mình như vậy.

Năm Vy học lớp 9, nó học giỏi nhất trường.

Thầy hiệu trưởng tới tiệm, nói nó có cơ hội lên tỉnh học trường chuyên. Nhưng chi phí ăn ở cao.

Tối đó, tôi không ngủ.

Tôi mở cái hộp thiếc dưới gầm giường — tiền dành dụm bao năm. Tôi tính mua cái sạp lớn hơn, mở tiệm đàng hoàng.

Sáng hôm sau, tôi nói:

“Con đi đi.”

Vy sững người:

“Còn ba?”

Tôi cười.

“Ba ở đây sửa xe cả đời được. Nhưng con không thể ngồi đây vá ruột xe hoài.”

Nó khóc, lần đầu tiên kể từ ngày bà mất.

Ngày đưa nó lên tỉnh, tôi dặn:

“Có cực cũng đừng bỏ học.”

Nó ôm tôi rất chặt.

“Ba đừng bệnh.”

Tôi về lại con hẻm cũ. Tiệm vẫn vậy, mái tôn vẫn dột. Chỉ khác là buổi chiều không còn ai hỏi tôi đánh vần nữa.

Nhiều năm trôi qua.

Tôi già đi thấy rõ. Tay run hơn, mắt mờ hơn.

Vy vẫn gọi điện đều. Nó học đại học sư phạm. Rồi ra trường. Rồi được giữ lại trường dạy.

Ngày nó mời tôi lên dự lễ nhận bằng khen “Giáo viên trẻ xuất sắc”, tôi mặc cái áo sơ mi duy nhất, ủi phẳng phiu.

Ngồi dưới hội trường, nghe người ta xướng tên nó, tôi không dám vỗ tay mạnh. Sợ người ta nhìn thấy bàn tay chai sạn của mình.

Trên sân khấu, nó nói trong bài phát biểu:

“Em có được ngày hôm nay là nhờ một người ba không sinh ra em, nhưng nuôi em bằng tất cả những gì ông có.”

Cả hội trường quay xuống tìm tôi.

Tôi cúi đầu.

Có những đứa con không cùng máu mủ. Nhưng nó cho mình một mái nhà trong lòng.

Và tôi nghĩ, đời người, nếu mình sửa được một “chiếc xe” lạc đường… thì cũng đáng lắm rồi. 

Tối đó về lại tiệm, tôi mở cái hộp thiếc cũ. Bên trong chỉ còn vài tờ tiền lẻ và một tấm hình Vy hồi nhỏ, răng sún, cười toe.

"Vy, ba thương con !"  .

Tôi khóc như như chưa từng bao giờ được khóc.

SƯU TẦM. 

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2026

Vui vẻ : ĐI NGHỈ MÁT - St trên FB.

 



ĐI NGHỈ MÁT 

- Hôm nay lễ, có đi nghỉ mát không?

- Có. Sài Gòn nóng quá! Chịu hết nổi.

- Đi Đà Lạt hay đâu?

- Không, Đà Lạt mùa này cũng nóng. Dân cư ngày càng đông đúc. Chạy xe từ Sài Gòn lên đó mất cả ngày.

-Vũng Tàu gần hơn, có biển.

- Hic, biển thì đông người, nắng rát da. Tắm xong đen như cột nhà cháy. Ăn uống ngày lễ Vũng Tàu cũng khó khăn, vô nhà hàng phải chờ đợi lâu.

- Vậy chỗ anh đang ở tốt hơn à? Không nóng, giá rẻ và đồ ăn ngon nữa hả?

- Chứ sao, phải biết lựa chỗ tốt. Mát mẻ, 25 độ. Chỗ ở tiện nghi, không ồn ào. Ăn uống cũng rẻ như ngày thường. Có đồ ăn sáng, cà phê miền phí. Các chương trình ngăm cảnh tự chọn. Phục vụ ca nhạc tại chỗ. Không tốn kém bao nhiêu.

- Chà nghe đã vậy? Giới thiệu giúp anh em cái đi.

- Trong phòng ngủ của tui chứ đâu.

ST TRÊN FB. 

Cười chút : TÌNH NGAY LÝ GIAN - St trên FB.

 



TÌNH NGAY LÝ GIAN.

Có ông nông dân nọ ngồi lù lù trong quán rượu, nốc tì tì từ sáng sớm.

​Một ông khách đi ngang qua thấy lạ quá mới hỏi:

— Này bác gì ơi! Trời đẹp thế này sao không đi làm mà ngồi đây nốc rượu cho say bét nhè ra thế?

​Ông nông dân ngước mắt lên, thở dài cái thượt:

— Đời mà bác... có những chuyện trên đời không tài nào giải thích nổi đâu...

​— Có gì mà nghiêm trọng thế? Kể nghe coi!

​— Thì đấy, sáng nay tôi ra chuồng vắt sữa bò. Vừa mới vắt xong đầy một xô thì con bò dở hơi ấy nó giơ chân trái lên đạp một phát, đổ sạch sành sanh.

​— Ôi giời, chuyện vặt, bò nó đạp tí có sao đâu!

​— Vâng, nhưng tôi đã bảo rồi, có những chuyện không thể giải thích nổi...

​— Thế rồi sao nữa?

​— Thì tôi lấy dây xích luôn cái chân trái nó vào cột cho chắc ăn. Xong đâu đấy tôi ngồi xuống vắt tiếp... Vừa vắt xong xô thứ hai, nó lại giơ cái chân phải lên sút một phát, xô sữa lại đi đời!

​— Thật luôn? Con bò này gấu nhỉ!

​— Thế mới nói... Có những chuyện đố ai mà giải thích nổi...

​— Thế bác xử nó thế nào?

​— Tôi lấy dây trói nốt cái chân phải nó vào cái cột bên kia. Thế là xong nhé, hết đường quậy. Tôi ngồi xuống vắt lần thứ ba... Mọi chuyện đang ngon lành cành đào... thì đùng một cái, con bò chết tiệt ấy nó quất cái đuôi một phát như roi điện, xô sữa lại đổ sạch lần nữa!

​— Thôi xong, gặp tôi là tôi cũng phát điên với nó đấy...

​— Chính thế! Tôi mới nói là có những chuyện không thể giải thích nổi mà bác...

​— Rồi bác làm gì nó?

​— Khổ nỗi lúc đấy hết sạch dây nhợ rồi... bí quá tôi mới tháo phắt cái thắt lưng đang mặc ra, để cột cái đuôi nó lên xà nhà.

Nhưng mà khổ thân tôi, vừa mới giơ hai tay lên cột cái đuôi xong... thì cái quần của tôi nó tụt bố nó xuống đất...

​— Thế rồi sao nữa bác?!

​— Thì... đúng lúc đấy bà vợ tôi đẩy cửa bước vào chuồng bò...

Đấy bác xem, đúng là trên đời có những chuyện... có giải thích bằng trời vợ tôi cũng không thèm tin! 🤣🤣🤣

​ST TRÊN FB. 

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

Vui cười : CƯỜI CHÚT... - St trên FB.

 



CƯỜI CHÚT... 

Một anh ngoài Bắc đi công tác ở Huế . Anh tìm đến một quán bún bò nổi tiếng ở chợ Đông Ba . Vừa ngồi xuống ghế , cô chủ quán nhanh nhảu.

Anh ăn lồn xồn hỉ ?

Có nghĩa là một bát thập cẩm 

Anh ta cứng họng ngồi xuống rồi hỏi lại .

Lồn xồn là sao ?

Là những cái ni , cái tê cô chỉ vào từng thau thức ăn .

OK vậy cho tôi một bát .

Thấy ngon , hôm sau anh lại đến , vốn tính hài hước anh gọi to .

Chủ quán ! cho anh một bát lồn xồn , rồi anh đứng cười tủm tỉm ngắm cô gái xinh đẹp .

Cô chủ quán ngước mắt nhìn lên hỏi .

Đụ thử hỉ ?

Anh phá lên cười .

Đụ thật chứ đụ thử đâu .

🤣🤣🤣🤣🤣🤣🤣🤣🤣🤣

ST TRÊN FB. 

Cuộc sống : TÌNH NGƯỜI - St trên mạng.

Một thiếu niên ở Chicago liên tục đột nhập vào trung tâm thể dục X-Sport Fitness Center và sử dụng thiết bị ở đó. Ban quản lý đã cảnh báo cậu ta rằng họ sẽ báo cảnh sát. Nhưng cậu ta vẫn tiếp tục tìm cách đột nhập vào. Cuối cùng, cảnh sát đã được gọi đến để giải quyết vụ việc. Cảnh sát Mario Valenti biết được rằng cậu bé 15 tuổi này trước đây từng là thành viên của trung tâm, nhưng mẹ cậu không còn đủ khả năng chi trả phí thành viên nữa. Và tất cả những gì cậu muốn làm chỉ là chơi bóng rổ ở đó. Nhưng thay vì buộc tội cậu bé về tội đột nhập, viên cảnh sát đã bỏ ra 150 đô la tiền túi của mình để mua cho cậu bé một thẻ thành viên có thời hạn khoảng 4 tháng. Khi chủ sở hữu trung tâm thể dục liên hệ với trụ sở chính của công ty về những gì đã xảy ra, các quan chức ở đó đã rất cảm động trước lòng tốt của viên cảnh sát, nên họ đã gia hạn thẻ thành viên cho cậu bé thêm hai năm nữa. Viên cảnh sát Valenti nói: “Cuối cùng, điều quan trọng không phải là lòng biết ơn. Hầu hết chúng tôi làm công việc này để giúp đỡ mọi người, chứ không phải để làm hại họ. Công việc này có thể mang tính tiêu cực. Phần lớn công việc là giải quyết những người tốt đang gặp phải một ngày tồi tệ, vì vậy bạn không thấy được mặt tốt nhất của mọi người… Tôi thà để cậu ấy chơi bóng rổ còn hơn là để cậu ấy lang thang ngoài đường và có thể gặp rắc rối.”

Thơ: ĐÔI BỜ - Quang Dũng.

 



ĐÔI BỜ

𝐐𝐮𝐚𝐧𝐠 𝐃ũ𝐧𝐠


Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai?

Sông xa từng lớp lớp mưa dài

Mắt kia em có sầu cô quạnh

Khi chớm heo về một sớm mai?


Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự

Bên này em có nhớ bên kia

Giăng giăng mưa bụi qua phòng tuyến

Quạnh vắng chiều sông lạnh bến tề


Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa

Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ

Thoáng hiện em về trong đáy cốc

Nói cười như chuyện một đêm mơ


Xa quá rồi em người mỗi ngả

Bên này đất nước nhớ thương nhau

Em đi áo mỏng buông hờn tủi

Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?


1948

Cuộc sống :HỌC MARKETING - St trên FB.

 


HỌC MARKETING. 

Xưa tui hỏi sư phụ, marketing ở nước nào giỏi nhất, ổng nói Mỹ. Starbucks có trồng cà phê đâu mà lượng tiêu thụ khủng. Apple cũng có nhà máy nào đâu, nhưng hễ ra ĐT mới là người ta xếp hàng. Rồi Coca, Pepsi, McDonald's, phim Hollywood....cũng hốt bạc. Cả trăm năm.

Ở châu Á, có 2 đệ tử của Mỹ trong lĩnh vực này là Hàn và Thái. Hàn thì dùng X còn Thái thì dùng Y (X dùng cái đẹp để tạo làn sóng yêu mến cực độ, còn Y dùng cái vui vẻ ma mị khiến người ta thấy thoải mái). X dùng trong hàng hoá công nghiệp hoặc dịch vụ giải trí (phim ảnh, ca hát...) còn Y thì dùng trong du lịch, ẩm thực. Thầy tui còn nói thêm, marketing là nghệ thuật, nên đầu tiên phải có sense (năng khiếu, trời cho), sau do người có nghề thực tế đào tạo thêm (tương tự thi thanh nhạc, phải có chất giọng đã, thi đậu vào nhạc viện, thầy cô ở đó sẽ giúp cho hát đúng kỹ thuật). Học marketing trong ĐH, ít ai ra trường làm tốt, do không xét năng khiếu đầu vào. Và người dạy không phải là người làm nghề xuất sắc. Ngành này, không phải cứ học là biết làm. Có tốt nghiệp ngành marketing ĐH Harvard thì cũng không có ý nghĩa gì cả. Nhưng ở Mỹ, có những trung tâm, những công ty đào tạo marketing theo hướng thực làm, họ chỉ tuyển người có năng khiếu.

Vì muốn coi họ làm marketing ra sao, tui sang Mỹ học 1 khoá ngắn hạn, do các sếp lĩnh vực mkt các tập đoàn hướng dẫn (chuẩn đầu vào để qua vòng loại thì chỉ cần IELTS 6.5, tui thì cứ 2-3 năm thi 1 lần để không quên kiến thức, tương tự là HSK 4 nếu bạn thích học 1 khoá ngắn hạn ở Trung Quốc). Cá tính tui chịu chơi chứ không phải giàu sụ, tích luỹ đủ tiền để cho 1 mục đích gì đó thì xài cho hết xong làm lại. Người Mỹ họ làm marketing tốt nên mình phải trả rất cao tiền chất xám của họ. Họ bắt tui gửi audition, thể hiện năng khiếu. Tui phải quay clip 2 phút, viết 1 đoạn nhỏ mong muốn học, gọi điện nói chuyện cỡ 15 phút, xét đầu vào coi có tư chất, có cá tính không thì mới có thư mời nhập học. Tui quay mình đang ngồi quán cà phê vỉa hè, rồi đi Hạ Long, đi Mỹ Sơn quay ghép vô, nội dung gì giờ quên mẹ. Chỉ nhớ là khùng khùng, coi cười muốn rụng răng.

Sang bển, vào lớp mới thấy người Hàn, người Thái, người Nhật, người Hoa, người Ả Rập....học nhiều. Lớp mỗi tui Việt Nam. Cứ 1 buổi trên lớp là 1 buổi lang thang ra siêu thị, để coi người nghèo họ mua gì; ra shopping mall coi người trung lưu mua gì; lên khu nhà giàu coi người siêu giàu xài tiền ra sao; đi khách sạn nhà hàng đông khách (tức năng lực marketing tốt) để ăn uống, quan sát. 3 tuần đó học từ sáng tới khuya, tui phải uống thêm 1 đống thuốc chức năng để khoẻ dẻo dai như viên chứa nhung hươu của Nhật, sâm Peru mới đủ sức chạy theo bọn nó. Ngoài học phí, học viên ai cũng xài tiền ác liệt, marketing còn gọi là "nghệ thuật đốt tiền". Người ngoan hiền vở sạch chữ đẹp, thụ động, kỹ tiền bạc, ít dám tiêu xài, ăn chắc mặc bền, cá tính mỏng thì HOÀN TOÀN KHÔNG làm được nghề này.


2. Một bữa, lớp đi 1 bãi biển (không nổi tiếng mấy) ở Mexico, viết bài hoặc làm clip giới thiệu mời khách tới (chính quyền địa phương đặt hàng công ty media của một thầy đứng lớp). Tụi tui ở đó 2 ngày 1 đêm, tự do tìm hiểu. Tui chọn viết chứ làm clip í ẹ quá, viết xong nộp thì 3 giám khảo đều chê. Họ nói người ta đọc mày viết xong sẽ lập tức đến xem vì tò mò. Nhưng sẽ thất vọng. Góc nhìn của mày là góc nhìn của người có mắt nghệ thuật, người dân thường không được thế, họ tới và không nhìn ra "những con sóng lấp lánh những đồng tiền vàng dưới ánh nắng" thì sẽ cho là nói xạo, là "lùa gà" ("gà" luôn sợ bị lừa, thấp thỏm cẩn trọng ghê lắm). Mày miêu tả không sai, nhưng mày là người xông xênh tiền nong, ưng là móc ra xài cho hết xong tính tiếp, khác đại đa số người trong xã hội. Mày viết cảnh đi bộ quanh thị trấn, tạt vào quán bar với những ly Tequila sóng sánh, những ly bia 12 độ viền bột ớt, những điều xì gà Cohiba lâng lâng đầu óc và ngắm đại dương, tao nghe cũng thèm. Mấy người dám bỏ cả mấy trăm đô 1 lần uống rượu và hút xì gà như mày (chỉ có làm cái thứ 3 miễn phí là ngắm đại dương, ăn hải sản vô cũng trả giá từng con cua con cá). Họ ngắm cảnh 1 hồi cũng chán, tự dưng sẽ tiếc tiền, sẽ cho rằng mày quảng cáo sai sự thật, đòi đền bù. Làm marketing phải làm sao đó để đại đa số người trong xã hội móc ví ra mua hàng vì thấy cần thiết phải mua, chứ không phải chỉ cho 1 nhóm người chịu chơi. Với nhóm luôn miệng nói người khác lùa gà, thực ra là nhóm dễ bị lùa nhất. Phù thuỷ marketing, tức marketer cao tay ấn thì gà hay  đại bàng gì cũng "bẫy", cũng "dụ" cũng "lùa" được hết, mà họ còn vui vẻ chui vô chuồng, cười nói vui vẻ, móc bóp móc ví không tiếc. Còn tiếp

*Các bé làm kinh tế tóm tắt sau khi đọc xong, để bắt đầu có tư duy cơ bản về marketing nhen. Ai chọn nghề thì đọc đi đọc lại vài lần. 

ST TRÊN FB. 

Hồi ức : TUI LÀM LUẬN VĂN... St trên FB.





TUI LÀM LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 

Luận văn tốt nghiệp ngành sinh lý động vật của tui hồi đó… trời đất ơi, nó giống như một cuộc phiêu lưu mà nhân vật chính là tui, vai phản diện là mấy con gà, mấy cục tuyến giáp của heo, và cái số phận long đong của một đứa sinh viên nghèo. Lúc đó tui chỉ mong sao cho mau mau tốt nghiệp, lượm cho lẹ cái “vũ khí” đại học để có đủ điều kiện mà tậu một cái cần câu cơm sang chảnh một chút chớ cứ để cái bụng đói nó đánh lô tô hoài thì chịu sao thấu!

Cái đề tài nghe oai dữ thần: “Bước đầu ứng dụng premix sinh học vào việc nâng cao sản lượng trứng gà”. Nghe như phim khoa học viễn tưởng, mà thiệt ra thì đơn giản lắm — cái “premix sinh học” đó không gì khác hơn là tuyến giáp heo xay thành bột, trộn vô cám, rồi cầu trời khấn Phật cho gà đẻ sung. Nhận đề tài này là chấp nhận đi bất cứ nơi đâu số phận cần. Và quẻ xăm ấy khiến tui lặn lội lên tận trại gà giống thịt Hồng Sanh ở Thuận An - Bình Dương, với hành trang bao gồm một bụng mộng mơ và hai con mắt lơ ngơ. Vừa đi vừa tự hỏi: “Ủa, học đại học chi mà giờ thành cô bé chăn gà phiên bản lỗi vậy trời?”

Muốn có nguyên liệu chế “linh đơn” thì phải vô lò mổ Vissan. Tui đứng nhìn người ta hành quyết mấy lão Trư mà cám cảnh phận mình… vừa thắt theo vừa tự hỏi: “Mai mốt tới phiên mình bị đời xẻ thịt không ta?”. Nhưng thôi — heo còn chịu được, mình chịu được. Tuyến giáp được trường đem về xay, sấy, chế thành cái thứ bột mà nghe tên sang trọng hết biết: premix sinh học. Tui trộn vô thức ăn, trộn kiểu như bà phù thủy tập sự nêm phép. Mỗi hạt cám là một câu cầu nguyện, mỗi quả trứng là một lời hồi đáp. Mà tiếc cái, ông Trời trả lời theo kiểu… “seen không rep”.

Tui với nhỏ bạn vác lều chỏng lên trại, đóng đô ròng rã ba tháng trời — y như hai nàng công chúa bị đày ra đảo hoang. Sáng đổ cám, trưa dọn phân, ngày ba lần lượm trứng, lượm luôn may rủi của đời. Phục vụ tận răng, chăm sóc tận cánh. Lũ vũ công hai cánh thì cứ đẻ đều, còn tui thì cứ đuối dần. Có bữa đứng giữa chuồng, tui tự hỏi: “Rốt cuộc ai nuôi ai vậy?” Tiếng gáy ban đêm là chuyện bình thường — chỉ có tui thức đêm đếm số liệu mới là bất thường.

Cơm trại thì miễn phí, nhưng nguyên liệu chính là… gà chết. Tui nhìn dĩa thịt mà lòng run như cầy sấy: “Ăn vô có chết theo nó không?”. Rồi tự trấn an: “Người ta ăn được thì mình ăn được. Chưa thấy ai ăn gà chết mà phải đi chôn tới lần thứ hai”. Vậy là ăn. Ăn ngon là đằng khác. Đói mà, cái bao tử nó át luôn cái nỗi sợ.

Tui tá túc nhà một anh công nhân có phong cách sống rất nhất quán: “Sáng sỉn, chiều sai, tối loay hoay, ngày mai nhậu tiếp”. Vợ chồng ảnh coi chuyện đấm đá như cơm bữa, báo hại hai đứa sinh viên phải nhảy vô làm trọng tài bất đắc dĩ. Có bữa tui lãnh nguyên một chưởng lạc hướng, mắt nổ hào quang như pháo giao thừa — thấy cả dải ngân hà giữa ban ngày ban mặt. Thiệt tình, tui chỉ muốn nghiên cứu sinh lý, chớ đâu có nhu cầu tu nghiệp môn bạo lực gia đình!

Nhưng cũng nhờ vậy mà thân với mấy anh chị công nhân. Trưa Chủ nhật, khi mấy sếp về thành phố dưỡng già, tụi tui làm chủ một cõi. Hái măng rừng luộc ăn với hột gà luộc chấm nước mắm— chu choa, nó ngon thấu trời xanh! Ngon kiểu “ngon vì đói”, chớ không phải ngon vì sang. Cái thị trấn đó buồn như một câu thơ bị bỏ quên. Hai đứa sinh viên nửa quê nửa tỉnh, đi đứng lóng ngóng như Tư Ếch lạc giữa Sài Gòn. Nhưng trong cái buồn đó, tụi tui vẫn nuôi một giấc mơ — mơ ngày đề tài thành công, đời mình xán lạn như đèn pha, dù lúc đó chẳng thấy được một ánh sáng nào ở cuối đường hầm.

Rồi cú “twist” của cuộc đời cũng tới. Số liệu nhảy ra, mà nhảy kiểu… phản chủ. Lũ vũ công hai cánh ăn “linh đơn” không những không đẻ nhiều hơn mà còn đẻ ít lại! Lý thuyết đứng bên này, thực tế đứng bên kia, còn tui đứng giữa như cây cầu khỉ sắp gãy. Tui nhớ lời đồn: hồi trước có anh sinh viên bên Nông Lâm vì cháy đề tài mà đi treo cổ. Nghe mà lạnh xương sống. Cái nghèo đang hực hực như lửa sau lưng, cái bằng tốt nghiệp là vòi cứu hỏa — không xịt ra nước là đời coi như xong phim.

Tui với nhỏ bạn nhìn nhau, thở dài cái “tặc”. Rồi thôi — tụi tui “phù phép”. Số liệu được trang điểm, kết quả được dỗ dành. Một lô ăn thức ăn thường, một lô ăn premix Bình Thắng, một lô ăn đồ “chế” của tui. Tất cả đẹp như mơ — đẹp tới mức chính tụi tui cũng suýt tin. Tặc lưỡi một cái, tui thà làm “tội đồ” với mấy con gà còn hơn làm “anh hùng” mà thất nghiệp — chỉ mưu cầu bảo vệ cái “sinh lộ” của mình.

Hồi đó tin học còn xa lạ lắm, tui đâu biết đánh máy. Phải mướn người ta gõ, rồi đem cho thầy sửa tới sửa lui muốn ná thở mới ra được bản hoàn chỉnh để “lên sóng”. Thầy cô dặn tụi tui là lúc bảo vệ cứ coi Hội đồng như “mấy củ khoai” cho bớt run. Nói thiệt, nhìn mấy vị học hàm học vị đầy mình mà tui đâu có làm được! Tui chỉ biết vặn mình sang chế độ “trơ” kiểu bất cần đời. Kiểu như: tui đã chạy máy hết cỡ rồi đó, mọi việc tùy thuộc vào cái “dao phay” của mấy ông bà coi chặt cỡ nào thì chặt! Cuối cùng, luận văn qua trạm trót lọt. Hú hồn chim én! Tui thở phào mà hồn vía còn mắc kẹt đâu đó giữa mấy chuồng gà. Miễn leo được lên bờ tốt nghiệp, chuyện gì tính sau!

Những năm sau, mỗi lần nhớ lại, lòng tui lấn cấn như ăn cá mắc xương. Không ai biết, không ai hay — nhưng lương tâm thì biết, mà nó nhớ dai hơn mấy con gà nhớ giờ ăn cám.

May sao, thời gian — ông thầy khó tính mà công bằng — đã dạy tui một bài học khác. Sau này tìm hiểu kỹ, tui mới thấy cái thí nghiệm “thiên tài” hồi đó thực ra là một cú dại dột có khoa học chống lưng. Tuyến giáp heo nhét vô cơ thể gà chẳng khác nào bắt chúng chạy marathon khi còn đang mang dép lào. Bị ép “tăng ga” vô tội vạ nên tàn nhanh hơn — đẻ sớm, vỏ mỏng, tuyến giáp tự thân đình công vì bị “đồ ngoại” lấn lướt. Cái gọi là “phép màu” đó thực ra là một cú đẩy không phanh.

Vậy nên, nghĩ lại, tui thấy mình sai mà… cũng hên. Hai cái sai — thực nghiệm sai và số liệu ma — hoá ra lại thành một cái đúng: tui có được cái bằng mà không phá hoại khoa học, chỉ phá hoại vài con gà xấu số. Cái sai đó chết yểu trong xấp giấy, không kịp lan ra ngoài đời làm hại ai. Còn mấy con gà tội nghiệp đã “hy sinh cho khoa học nửa mùa” — chắc tụi nó đang nhìn tui từ đâu đó, lắc đầu cười: “Con nhỏ này, học hành gì kỳ cục vậy con?”

Giờ đây, tui nhìn lại cái luận văn đó — nó nằm im lìm như một bí mật cũ. Vô dụng? Ừ, có thể. Nhưng nó dạy tui một điều mà không trường nào dạy được: có những con đường, đi lạc một lần mới biết đâu là đường về. Và đôi khi, chính cái sai trẻ người non dạ đó lại là bài học trung thực nhất trong cả một đời người.

Nếu có ai hỏi tui: “Có muốn làm lại không?”

Tui sẽ cười — cười kiểu miền Nam, nhẹ hều mà sâu hun hút:

“Thôi… cho tui chăn gà lại được rồi. Chớ đừng bắt tui chăn lương tâm nữa — con vật đó nó dai sức lắm, mà không có cái chuồng nào nhốt cho yên được đâu!”

Còn mấy anh chị, có hồi nào lỡ tay “múa gậy vườn hoang” rồi sau này nhìn lại mới thấy mình vừa bậy vừa hên không? Kể tui nghe chơi cho vui cửa vui nhà coi!

HONG KHUU (FB)

Thơ : CÂU CHUYỆN HỌC TRÒ - Phan Hòa.

 



CÂU CHUYỆN HỌC TRÒ


Có bao giờ em nhắc đến tháng Tư?

Nơi ký ức một thời hoa phượng đỏ

Tà áo trắng đi về ngang đầu ngõ

Nón bài thơ che hở nửa vầng trăng!


Em bây giờ còn nhớ tháng Tư chăng?

Quyển lưu bút có một trang lạ lắm

Chỉ mình em thích lật ra nhìn ngắm

Nét chữ “con trai”, nét chữ một người.


Có một lần em nhặt cánh phượng rơi

Nhờ anh ghép cho mình con bướm đỏ

Anh gật đầu ghé tai em nói nhỏ

Nhặt giùm anh cánh nữa... để thành đôi.


Chuyện ngày xưa, giờ cũng đã xa rồi

Quyển lưu bút bồi hồi nơi góc tủ

Tà áo trắng quên đường về chốn cũ

Đôi bướm hồng không thể kết tơ duyên!


Tháng Tư về... ký ức vẫn còn nguyên

Nhưng xa lắc nơi bến bờ dĩ vãng

Thuở học trò - câu chuyện tình lãng mạn

Có bao giờ em nhắc lại... không em...?


Phan Hoà

Đời sống : TIẾNG VIỆT THỜI NAY - GS Nguyễn Tuấn.

 


TIỂNG VIỆT THỜI NAY 


Hôm nay, tôi nhận được một email của một người Sài Gòn mở đầu bằng chữ “Kính gởi …” (thay vì ‘kính gửi’). Mát dạ ghê nơi! Và, làm tôi có cảm hứng thổ lộ vài tâm tình về tiếng Việt ngày nay. 

 Tôi là người lớn lên với Tiếng Việt thời trước 1975, tức là Tiếng Việt trong Tự Lực Văn Đoàn của những Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam, v.v. Đó cũng là tiếng Việt của các tiền bối như Hoàng Xuân Hãn, Phạm Quỳnh, và sau này là Mai Thảo và nhóm tạp chí Bách Khoa lừng danh một thời. Đó cũng chính là Tiếng Việt thời 1945 và sau này được gìn giữ ở trong Nam. 

Thời đó, chúng tôi nói và viết Tiếng Việt theo thứ tự tự nhiên. Chẳng hạn như chúng tôi được dạy là 'hôi thúi' (hay 'hôi thối') vì một vật thể khi bị chết đi, nó đi từ 'hôi' mới đến 'thúi.' Chúng tôi nói 'khai triển' (khai trương rồi mới phát triển). Các thầy dạy cho biết đó là cách nói của người Việt được coi là thuận với thiên nhiên. 

 Do đó, ngày xưa, Tiếng Việt chúng ta được cấu trúc theo công thức tự nhiên đó. Có thể tìm thấy những chữ thường ngày như: bảo đảm, đơn giản, thành hình, khai triển, ít nhiều, v.v. 

 Thế nhưng sau 1975, những chữ đó đột nhiên bị đảo lộn thành: đảm bảo, giản đơn, hình thành, triển khai, nhiều ít, v.v. Những chữ này có cùng nghĩa như những chữ trên, nhưng nó chỉ đảo ngược cách nói/viết.  

 Tại sao có sự đảo ngược này? 

 Câu trả lời đơn giản là do Tàu hoá. Thật vậy, rất nhiều chữ sau này được dùng theo cách dùng của người Tàu. Chẳng hạn như người Tàu hay nói ngược với chúng ta. Thay vì nói 'bảo đảm', họ nói 'đảm bảo'. Chúng ta nói 'khai triển', họ thì 'triển khai'. Vân vân. 

 Thật ra, những chữ như 'bảo đảm', 'khai triển', 'đơn giản', v.v. đều xuất phát từ chữ Hán. Nhưng các vị tiền bối chúng ta nói ngược với họ, có lẽ một phần là theo lẽ tự nhiên, và quan trọng hơn là không bị Tàu hoá.  

Tiếng Việt ngày nay rất ư là hỗn tạp và phức tạp. Hỗn tạp là thứ lai căng (như ‘tuổi teen’), và phức tạp là làm cho tối nghĩa (ví dụ như ‘một cá thể trâu’). Mới đây còn có 'topping' nữa chứ! Loại tiếng Việt này làm đau đầu những người thuộc thế hệ tôi, và làm nhói tim những ai còn quan tâm đến sự trong sáng của tiếng Việt.

Hôm qua, cô tiếp viên sau khi tính toán tiền ăn xong rồi nói:

"Dạ, phần của mình là 56 ngàn ạ"

Tôi muốn ghẹo cô ấy, nên giả bộ hỏi "'mình' là ai vậy con?" Cô ta bẽn lẽn nói "Dạ, con quen miệng ạ". Tôi lại chọc: người miền Nam không nói "ạ". 

Rồi còn những cách dùng sai nghĩa nữa, mà tiêu biểu là 'liên hệ' và 'liên lạc'. Chẳng hiểu từ đâu mà ngày nay ở trong nước ai cũng dùng chữ 'liên hệ' theo ý nghĩa contact của tiếng Anh. "Anh cần thêm bất cứ điều gì, cứ liên hệ qua số điện thoại ...". Đáng lí ra phải là 'liên lạc'.

 'Liên hệ' theo tôi hiểu là quan hệ huyết thống, máu mủ ruột thịt trong gia đình, tiếng Anh là 'relate'. Còn 'Liên lạc' có nghĩa là tiếp xúc giữa các cá nhân, tiếng Anh là 'contact'. Rõ ràng như vậy, mà chẳng hiểu sao đi đâu cũng thấy 'liên hệ'. Tôi nghi là cũng do Tàu hoá mà ra. 

Lại nói đến chữ 'khả năng' cũng bị đổi nghĩa. 'Khả năng' có nghĩa là năng lực để làm một việc gì (tiếng anh là capacity). Vậy mà ngày nay người ta dùng chữ 'khả năng' theo cái nghĩa 'có thể' (probable): 'Chiều nay trời có khả năng mưa'. Trời ơi! Sao không nói "Chiều nay trời có thể mưa"? Lại một cách Tàu hoá?

Khó ưa nhứt là chữ ‘Việt Kiều’. Tôi nghĩ giới báo chí không chịu tìm hiểu nghĩa nên dùng chữ không đúng. ‘Kiều’ có nghĩa là người ngoài đến sanh sống nơi mình cư trú. Do đó, chúng ta mới có Hoa Kiều, Pháp Kiều. Tôi là người Việt về thăm quê thì mắc mớ gì mà gọi tôi là ‘Việt Kiều’?! Đáng lí ra nên gọi là ‘Kiều Bào’. 

Chói tai nhứt là nghe cách đánh vần ngày nay. Lúc nào cũng Bờ Cờ Sờ ... nghe thiệt khó vô. Đó là cách phát âm đánh vần thời Bình dân Học vụ (thời 1930-1940) để giúp cho người mù chữ làm quen với chữ cái trong tiếng Việt, chớ đâu phải cách đánh vần chánh thức. Đâu có ai dùng nó để chỉ A Bê Xê (ABC) đâu. Các nhà ngôn ngữ học cũng đã nói cách đánh vần Bờ Cờ Sờ là sai. Vậy mà ngày nay trên đài truyền hình, đài phát thanh oang oang Bờ Cờ Sờ! 

 Có lần tôi thấy sốc khi nghe một đồng nghiệp Pháp nói với tôi rằng tiếng Pháp ở Paris ngày nay là loại hỗn tạp, còn tiếng Pháp ở Québec (Canada) mới là ‘chuẩn’. Chẳng biết nhận xét đó đúng hay sai, nhưng tôi có cảm giác nó hợp với tiếng Việt ngày nay: tiếng Việt ở hải ngoại mới chuẩn hơn tiếng Việt ở trong nước.

•GS Nguyễn Tuấn

Hồi ức : ÔNG THẦY VIỆT VĂN - Vũ Thế Thành.

 



ÔNG THẦY VIỆT VĂN…

Tôi hận ông thầy Việt văn lớp 11. Ổng chơi không đẹp khi bắt tụi tôi học thuộc lòng bài thơ “Kẻ Sĩ” của Nguyễn Công Trứ. Đó là bài hát nói gieo vần vô kỷ luật nhất mà tôi từng biết, chả vần chả điệu, lòng thòng, Hán nhiều hơn Nôm.

Đây này, trích thử vài câu nghe chơi:

“… Cầm chính đạo để tịch tà cự bí

Hồi cuồng lan nhi chướng bách xuyên…”

 Mà tôi theo ban toán, chứ có phải văn chương đâu, nội hiểu được ý nghĩa bài thơ đó cũng đáng nể rồi, giờ còn bắt học thuộc lòng nữa, coi sao được. Tôi tính “tố phé” ổng. Thế này, lớp 40 học sinh, mỗi tuần 4 giờ Việt văn, 2 lần lên lớp. Tôi có 75% thoát hiểm, lỡ dính thì coi như Trời hại. Nhưng ổng tỉnh bơ: “Tôi sẽ gọi từng người cho đến hết lớp”. Ổng còn thêm: “Ai không thuộc, tôi sẽ cho cơ hội lần sau, và lần sau nữa cho đến khi… có điểm”. Thế là rõ! Ổng quyết tâm… chơi tụi tôi đến cùng. 

Không còn chọn lựa nào khác, đành ôm hận, lảm nhảm đến méo mỏ cái bài thơ thổ tả đó cho đến khi thuộc lòng.

Cơ hội rửa hận đến khi ổng ra đề luận: “Bạn nghĩ gì về tình thầy trò ngày nay?”. Từ hồi biết mặt chữ, tôi chưa bao giờ “múa bút” sướng như thế. Nào là, thời xưa học một thầy, học để làm quan, và chỉ học nghề… văn. Thời nay, học đủ thứ, cần gì học nấy, học để hành nghề. Thời đại khoa học, ai học trước người đó là… «thầy», bởi vậy mới có chuyện đi học luyện thi, mới có thầy giáo “cua” học trò,… Đại loại bài luận văn là một “bản cáo trạng” về thầy. Tôi khoắng bút như một nghệ sĩ, cho đến khi gần hết giờ, chấm xuống hàng, kết luận: Nên xem thầy giáo như người anh coi bộ nhẹ nhàng hơn khi nhìn dưới khía cạnh đạo đức. Thiệt là hả giận! Tôi viết với tư thế “tử vì đạo”, ăn trứng vịt cũng được. Không thành danh thì cũng thành… ma.

Bài luận được 16 điểm. Hôm phát bài, ông thầy cười cười: “Tôi không đồng ý với em nhiều điểm, nhưng vẫn cho em số điểm cao nhất”. Thiệt chưng hửng! Tôi mơ hồ hình như ổng chơi trên... cơ mình, nhưng “cái tôi” khốn nạn đã đẩy tôi đi quá xa, khoác lác hả hê với bè bạn: Cái hận “Kẻ Sĩ” đã rửa xong.

Ổng còn nhiều chiêu kỳ quái khác. Tú Xương thì học trò đứa nào chẳng khoái. Lẽ ra phải chia sẻ chút đỉnh với đám học trò mới lớn bằng những câu thơ 

“Cao lâu thường ăn quỵt

thổ đĩ lại chơi lường”

 hay ít ra cũng thông cảm với bọn hoc trò đang chuẩn bị bước vào vòng ân oán của thi cử

“Đau quá đòn hằn, rát hơn lửa bỏng”

Hổ bút hổ nghiên, tủi lều tủi chõng…

… Thi là thế, học hành là thế, trò chuyện cùng ai?

Người một nơi, hồn phách một nơi, than thân với bóng!”

 Không! Ổng phang bài:

“Trên ghế bà Đầm ngoi đít vịt.

Dưới sân ông Cử ngửng đầu rồng”.

 Ổng giảng say sưa, bằng giọng bi ai, phẫn hận về thời Nho mạt, về danh lợi, về nhân phẩm, ổng truyền lửa cho đám học trò đang há hốc miệng ngồi nghe,  xả suốt 2 giờ đồng hồ. Hình như ổng đang dạy tụi tôi kiến thức để làm người, chứ không phải kiến thức để đi thi. Ổng đâu ngán cháy giáo án. Mà hồi đó làm gì có giáo án. Bài soạn của ông là xấp giấy A4 gấp đôi, chẳng bao giờ thấy ổng mở ra. Ổng chỉ mở… sổ điểm.

Đời cứ thế trôi đi… Những năm cuối thập niên 70, đầu 80, đời sống khó khăn thế nào khỏi cần kể. Tôi làm ở một trung tâm nghiên cứu ở Sàigòn. Ban ngày khoác áo blouse vào phòng lab cứ như là…viện sĩ. Tối về mượn xích lô của thằng bạn, cảo vài vòng kiếm thêm. Một buổi tối trời mưa, ế độ. Tôi táp vào quán nhậu ven đường (cái lều nhậu thì đúng hơn) gần Ngã Tư Bảy Hiền. 

Hồi đó khu này còn hoang vắng lắm. Quán cũng ế độ, chỉ có mình ông chủ đang trầm ngâm bên ly rượu. Tôi kêu một xị, ngồi trông ra đường, nghe tiếng mưa lằng nhằng trên mái nhà, rầu thúi ruột… Chợt nghe tiếng ngâm ê a của ông chủ quán từ phía sau. Lời ngâm nghe quen quen…, rồi tự nhiên tôi cũng cất tiếng ngâm theo:

“…Lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng tất

Hiêu hiêu nhiên điếu Vị, canh Sằn

Xe bồ luân dầu chưa gặp Thang,Văn.

Phù thế giáo một vài câu thanh nghị.

Cầm chính đạo để tịch tà cự bí.

Hồi cuông lan nhi chướng bách xuyên…”,

 và cứ thế cho đến hết bài “Kẻ Sĩ”.

Một khoảng im lặng. Tôi quay lại, không ai bảo ai, cả hai nâng ly mời nhau. Trong sự nghiệp cụng ly của tôi, chưa bao giờ tràn ngập những “tiếng nói không lời” như lần đó.

Chủ quán trạc ngoài 30, cao học Luật, công chức chế độ Sàigòn. Sau 75, đi cải tạo 4 năm, về mở “lều nhậu” tiêu sầu. Chúng tôi cà kê chuyện đời, chuyện người, chuyện số phận đẩy đưa… Rượu đến mềm môi. Bài thơ “Kẻ Sĩ” thưở còn đi học tưởng đã trôi vào quên lãng, bỗng thức dậy trong một đêm mưa, có người đồng điệu, ngân nga như tiếng chuông đeo đẳng đời người.

Đất nước thời mở cửa, kinh tế thị trường nửa khép nửa hở. Kiếm sống bằng năng lực thì ít, nhưng bằng quyền lực hay dựa hơi quyền lực thì nhiều. Luật lờ mờ, nhưng lệ rõ ràng. Làm ăn là phải biết điều, gọi văn vẻ là… thỏa hiệp. Thỏa hiệp đủ thứ, không thỏa hiệp không được. Giới hạn thỏa hiệp tới đâu, tùy thuộc vào nguyên tắc sống (tôi không dám dùng chữ “nguyên tắc đạo đức”) của mỗi người. Cái giới hạn này mong manh, tự mình hạ thấp giới hạn xuống, rồi tự biện minh với bao lời  hoa mỹ, đi ngược lại “xu hướng thời đại” là không thức thời. Dối người, dối mình, đạo đức giả hồi nào chẳng hay.

Kẻ Sĩ thời nay lộn ngược rồi: Thương, Công, Nông, Sĩ. Ai chẳng khoái tiền, khoái danh. Cám dỗ vô cùng! Đạo lập thân làm sao giữ lấy cương thường? Mỗi lần như thế, tiếng chuông đêm mưa ở cái “lều nhậu” lại vang lên, làm nhức nhối kẻ bị mang tiếng là… gàn dở, toát mồ hôi với cái lưới “đầu rồng đít vịt”.

Trong Kinh thánh có chuyện kể, đứa con út đòi cha chia gia tài, rồi tìm đến phương trời xa vui chơi thỏa thích. Người cha chiều nào cũng tựa cửa đứng trông con về. Rồi thằng con về thật. Nó đã phung phí hết tiền, bây giờ đói rách trở về nhà cha xin chén cơm thừa. Nhưng người cha mừng rỡ, đã mặc áo mới cho nó, làm tiệc linh đình mừng con mình trở về.

Văn hào Pháp, André Gide cũng có câu chuyện “Đứa con hoang đàng” tương tự, chỉ khác khúc cuối: Đang giữa tiệc mừng, thằng con lững thững bỏ về phòng, nhìn xa xa qua khung cửa sổ, nhớ đến cuộc chơi thâu đêm suốt sáng cùng chúng bạn. Nó đang mơ một chuyến đi khác. Trở về chỉ là chuyện bất đắc dĩ. Hồi đó, đọc đến đoạn này, tôi bật cười sảng khoái “Phải thế mới được!”

Thưa thầy Việt văn, thằng đệ (tử) giờ đây đầu bạc chân mỏi, ngày Nhà Giáo năm nay xin hầu thầy cho đến tận cùng bữa tiệc để khoanh tay nói lời tạ lỗi, trước khi phản xạ tung hô theo đám đông: “Biết ơn thầy cô”.


•Vũ Thế Thành

Hồi ức : VỀ LẠI CON ĐƯỜNG XƯA MÁU LỬA - Nguyễn Ngọc Luật.

 



(CÓ NHỮNG NGÀY KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

Người ta thường nói hãy quên đi quá khứ để sống an nhiên trong hiện tại. Xét chung chung thì ta thấy khá đúng, vì nếu một người cứ bị ám ảnh bởi quá khứ và luôn đắm chìm trong quá khứ thì người đó sẽ đánh mất cuộc sống hiện tại.

Thế nhưng một sự kiện trong quá khứ mà chính nó đã làm đảo lộn số phận của hàng triệu người, của cả một gia đình và quan trọng nhất là nó làm thay đổi số phận của chính mình thì dù bao nhiêu năm tháng đi qua nhưng cũng khó mà quên đi được!

Tôi muốn nhắc lại những ngày tháng Tư định mệnh, nó không phải là ngày 30/4/75 mà nó là những ngày 26,27,28,29,30/4/72. Những ngày đau thương đối với dân Quảng Trị, cũng là những ngày tạo nên một tên đường đi vào lịch sử: ĐẠI LỘ KINH HOÀNG của một: MÙA HÈ ĐỎ LỬA. 

Bài bút ký này tôi viết khá lâu và đã đăng lại nhiều lần, nhưng cứ mỗi lần tháng Tư, quá khứ đau thương lại ùa về và  tôi lại muốn đăng thêm lần nữa, như là hoài niệm về ký ức đau buồn của một thời tuổi trẻ, bài bút ký có tên) :


VỀ LẠI CON ĐƯỜNG XƯA MÁU LỬA. 


Sau năm 1975 theo cuộc thế nổi trôi, dòng đời phiêu bạt, bỏ quê hương để đi biền biệt, tôi lênh đênh trôi dạt về tận miền Đông Nam Bộ làm thân kẻ xa xứ. Dòng sông tuổi thơ, mảnh vườn có hoa cải vàng mùa xuân, có hương hoa sầu đông thoang thoảng trong đêm trường lạnh giá, có mái tranh nghèo ấp ủ những năm tháng hoa niên, có cánh đồng lúa xanh rờn lộng gió, có cánh diều tuổi thơ bay cao trên nền trời xanh ngắt…Tất cả chỉ còn là ký ức mù sương, tất cả chỉ còn là kỷ niệm nhạt nhòa trong tâm trí. Gần hết cuộc đời tôi sống tha hương giửa đất phương Nam hai mùa mưa nắng. Có những trưa hè oi ả nơi xứ người chợt nhớ da diết tiếng kẻo kẹt võng đưa, tiếng ru à ơi ngọt ngào của mẹ, tiếng chim rồng rộc ríu ra ríu rít trên đọt tre già nơi lũy tre sau vườn. Có những đêm đông bình yên, ấm cúng ở đất phương Nam mà nhớ những ngày đông tháng giá gió rít từng cơn, mưa rơi rã rít trên mái tranh nghèo một thời xa lắc…Những âm thanh, hình  ảnh của quá khứ hầu như đã chất đầy trong tiềm thức có dịp là bùng phát mãnh liệt khiến lòng tôi cảm thấy ray rứt không yên. Tôi tự nhủ với lòng phải về thôi, dòng sông quê, con đường làng rợp bóng tre xanh nơi chôn dấu biết bao nhiêu kỷ niệm một thời thơ ấu đang chờ đợi bước chân tôi về.

Mùa hè năm nay thầy trò trường Nguyễn Hoàng tổ chức họp mặt kỷ niệm sáu mươi năm thành lập trường, thế là bạn bè từ quê nhà liên tục réo gọi, tình quê thôi thúc. Lại thấy đường đời của mình cũng đã xế bóng, cơ hội về quê không nhiều nên mặc dù nợ áo cơm luôn đeo đẳng không rời, tôi vẫn sắp xếp một chuyến về. Tôi xem chuyến về này như là một chuyến hành hương về đất Tổ, thế nên từ phương Nam tôi quyết định xuống xe tại Huế và ghé nhà đứa con gái đang sinh sống tại đây mượn chiếc xe máy để về quê.

Đoạn đường Huế-Quảng Trị dài 60km là một con đường ghi nhiều kỷ niệm, ghi dấu thời thơ ấu của tôi, vui có, buồn có, êm đềm cũng có mà kinh hoàng cũng có,  nên có dịp đi lại con đường xưa một mình một ngựa trên chiếc xe máy tà tà ngắm cảnh vật hai bên đường khiến tôi thấy thú vị làm sao! Thời tiết quê nhà tháng sáu nắng nhạt nhưng hơi oi bức, gió chiều nhè nhẹ. Cho dù nhà cửa, phố xá hai bên đường so với ngày xưa đã khang trang hơn nhiều nhưng đã quen với cảnh phố xá tấp nập, xe cộ ngược xuôi chen nhau trên đường của những thành phố phương Nam nên tôi vẫn cảm thấy đường sá xe cộ có phần  thưa thớt, nhịp sống hình như chậm rãi và có phần uể oải, nét đặc thù của các tỉnh nhỏ  miền Trung.

Càng đi ra càng thấy cảnh vật hoang sơ hơn, nhà cửa thưa thớt, tuềnh toàng không dấu được cái nghèo khó đang ngự trị nơi đây. Qua khỏi địa phận tỉnh Thừa Thiên, qua khỏi những  khu nhà tương đối sầm uất, nhộn nhịp là đến vùng hoang hóa với những  cồn cát chạy dài, cây cối khô cằn, còi cọc, ngoại trừ những đám bạch đàn, dương liễu do người trồng và chăm sóc còn lại hầu hết là cây xương rồng, sim, móc và những cây cối mọc hoang dại. Người ta nói dân Quảng Trị thật thà chất phác, thật quá đúng! Thật thà đến nỗi không biết dấu cái nghèo cái khó của xứ sở mình mà đem trình nó ngay trên đường quốc lộ  cho bàn dân thiên hạ biết. Những khách phương xa có dịp đi ngang qua địa phận tỉnh Quảng Trị nhìn thấy cảnh vật hai bên đường chỉ thấy toàn là cát với cát chạy dài ngút mắt đều chép miệng than.

 - Đất đai cằn cổi như thế này không biết người dân Quảng Trị làm gì mà sinh sống!?

Hoặc chí ít họ cũng nghĩ rằng đất đai khô cằn sỏi đá như thế thì dân Quảng Trị nghèo là phải!

Tôi qua khỏi cầu Bến Đá thì trời đã về chiều, thời tiết có phần mát mẻ hơn, nắng chiều nhạt nhòa trùm lên cảnh vật, gió hiu hiu thổi, một miền quê yên ả, thanh bình khá tỉnh lặng. 

  Thế nhưng đi lại trên đoạn đường này những hồi ức xa xưa chợt về, lòng tôi bổng cảm thấy trào dâng một nỗi buồn, một nỗi lo sợ mơ hồ phủ kín tâm hồn. Chao ôi! Đoạn đường này bốn mươi năm về trước vào những ngày tháng Tư của “mùa hè đỏ lửa” tôi cũng như biết bao nhiêu người dân Quảng Trị đã vượt qua với nỗi kinh hoàng cùng cực. Vào những ngày mà bom đạn chiến tranh, chết chóc đã áp sát vào thị xã thì người dân Quảng Trị vội vàng rời bỏ nhà cửa thu dọn của nả để chạy vào Huế lánh nạn, chúng tôi đã chạy qua một quãng  đường ngắn trong lằn đạn pháo từ những làng mạc hai bên đường bắn ra xối xả. Người chết nằm la liệt, người bị thương rên la thảm thiết, người còn sống thì chạy thục mạng về phía Thừa Thiên, sự hoảng loạn, kinh hoàng cùng cực khiến ai cũng lo chạy tháo thân, mặc cho những tiếng kêu cứu của những người bị thương, mặc cho những đứa bé ngơ ngác kêu khóc bên xác mẹ. Sau này khi cuộc sống tạm thời ổn định trong trại tạm cư ở Đà Nẵng những hình ảnh kinh hoàng của con đường đầy máu lửa cứ ám ảnh mãi trong tâm trí. Tôi đã viết trong nhật ký:

“… Trên đường lánh nạn hình ảnh cảnh loạn ly làm tê tái lòng người, từng đoàn người, từng đoàn xe tấp nập di chuyển trên đường quốc lộ 1 đông nghịt dài mấy cây số. Nào người đi bộ, người bồng bế, gồng gánh và đủ thứ xe cộ chen chúc nhau. Xe hàng thì chất đầy của cải và người ta bu kín ngoài bàn đạp, ngồi trên mui, xe máy chở ba, bốn người, xe xích lô chất đầy người với rương hòm, giỏ xách, xe đạp chở hai, ba người ì à ì ạch tiến lên phía trước. Tất cả tạo thành một khối hổn loạn di động trên con đường nhựa nóng bỏng. Đàng sau về phía thị xã và vùng ven là những đụn khói đen cao ngất trời, những tiếng nổ ầm ầm của đại bác, những tràng liên thanh của súng máy nghe vang rền khiến cho lòng người thêm hoảng loạn. Đoàn người đông như kiến cỏ đó khi vào tới khỏi cầu Dài ngang địa phận xã Hải Trường (Đoạn đường dài mấy cây số sau này được đặt một cái tên nghe khủng khiếp: Đại Lộ Kinh Hoàng) thì chựng lại vì tiếng súng ở các xóm ven lộ bắn ra. Rồi thì cảnh náo loạn xảy ra, xe cộ tăng tốc phóng tối đa về phía trước, còn người thì ba chân bốn cẳng chạy bán sống bán chết, họ vất hết gồng gánh, bao bì để chạy. Cảnh tượng thật là hổn loạn, xe cộ chà lên người, người đạp lên người, mạnh ai nấy chạy về phía trước, ai chết nằm đó, ai bị thương kêu la cũng mặc, người ta lo cho mạng sống của mình và bỏ mặc họ cho số phận. Đoạn đường từ Quảng Trị vào Huế chỉ 60km mà chúng tôi đi suốt ngày mới tới, bằng mọi cách đu lên xe nào có thể đu được, xe hàng, xe nhà binh, xe tải…bất kỳ xe nào cũng lên đại, cuối cùng thì chúng tôi cũng vào đến Huế vào lúc 6giờ tối thành phố đã lên đèn…”

Một ngày sau đó thị xã Quảng trị chìm trong lửa đạn và những người dân còn lại vội vàng bồng bế nhau chạy vào Huế. Nhưng quốc lộ 1 đã bị khóa chặt, tại cầu Dài đến cầu Bến Đá bom đạn liên hồi nổ trên đường, người chết trên đường như rạ, một đoàn xe của bệnh viện Quảng Trị chở bệnh nhân lánh nạn đi ngang qua đã bị bắn cháy người trong xe dù người lành hay người bệnh cũng đều bị chết hết. Số người còn kẹt lại phía Quảng trị đã bỏ quốc lộ 1 chạy xuống đường làng theo ngả làng Thanh Hương để vào Thừa Thiên rồi vào Huế (tôi có một người chị chạy theo đường nay mấy ngày sau mới vào tới Huế, tả tơi, rách nát, kiệt sức phải vào nằm bệnh viện).

Nỗi ám ảnh về “Đại Lộ Kinh Hoàng” như một vết dao cắt sâu vào tim tôi, nó cứ hiển hiện trước mắt mỗi khi tôi nghĩ đến. Hình ảnh người chết, bị thương la liệt trên đường, đứa bé bơ vơ hoảng loạn bên xác người mẹ đã chết trên vũng máu cứ đeo đẳng tôi hoài. Những ngày tháng sống ở trại tạm cư Đà Nẵng tình cờ tôi có đọc được một bài thơ của tác giả Nguyễn Khắc Linh Vũ đăng trên báo Chiến Sỹ Cộng Hòa, bài thơ thật cảm động tôi đã chép vào nhật ký của mình. Bài thơ có tên:

 CHO EM BÉ MIỀN TRUNG

 Em bé miền Trung ơi!

 Chiều buông nắng tắt

 Em về đâu bom đạn ngập trời rơi.

 Em về đâu giữa những lớp xác người

 Bên những đống sắt mang tên từ phương trời xa lạ.

 Em bé miền Trung ơi!

 Gió lùa lên thật lạnh

 Em về đâu mà mà ánh mắt ngu ngơ

 Đạn dưới chân đi sao em mãi chần chờ

 Hay em thấy đằng kia chiếc cầu đã gãy?!

 Em bé miền Trung ơi!

 Em về đâu? Về đâu? Bốn bề rực cháy

 Cháy từ La Vang, Thạch Hãn, Nhan Biều

 Cháy trên Hồ Đắc Hanh, cháy về “Dãy phố buồn thiu”

 Sao em không khóc mà ngước nhìn ngơ ngác

 Em bé miền Trung ơi! 

 Nắng vàng kia đã tắt

 Bên xác mẹ nằm nhuộm máu cong queo

 Bên xác xe tăng mang tên từ phương trời xa lạ.

 Đêm hãi hùng…

 Trên đất chết…

 Em về đâu? Về đâu? Em bé miền Trung?!

          (Nguyễn Khắc Linh Vũ)

Tôi không quen  biết tác giả Nguyễn Khắc Linh Vũ, không biết anh có chứng kiến cảnh tượng thảm khốc trên “Đại Lộ Kinh Hoàng” ngày ấy không mà sao thơ anh như người trong cuộc, đau khổ, xót xa, tội nghiệp biết bao nhiêu cho thân phận những người dân vô tội, những em bé ngơ ngác bên xác mẹ nằm chết cong queo khi hoàng hôn buông xuống trên “Đại Lộ Kinh Hoàng”, một hình ảnh đau thương của cuộc chiến tranh tàn khốc trên quê hương. Cám ơn anh Nguyễn Khắc Linh Vũ đã chia sẻ nỗi khổ, niềm đau của người dân Quảng Trị thuở loạn ly, thơ anh tôi đã trân trọng cất giữ trong nhật ký đã bốn mươi năm nay đọc lại vẫn thấy cảm xúc dâng trào, xót xa, ngậm ngùi…

 Năm 1974 tại nơi đây đã tổ chức một lễ đại trai đàn chẩn tế, bạt độ cầu nguyện cho những oan hồn đã ngã xuống trên “Đại lộ Kinh Hoàng” và cũng đã dựng một đài tưởng niệm mang tên “Chiêu Linh đài” có tượng Bồ Tát Địa Tạng tay cầm hạt minh châu, tay cầm thiền trượng đứng cứu vớt những sinh linh vô tội thoát khỏi cảnh giới tối tăm, địa ngục, ngạ quỷ vất vơ vất vưởng để vãng sanh về miền tịnh cảnh. Không ai biết chắc hiệu quả của sự cầu nguyện như thế nào nhưng tôi nghĩ một lễ đại trai đàn hoành tráng được tổ chức với sự nhất tâm cầu nguyện của hàng ngàn người như thế, một đài tưởng niệm được dựng lên cũng phần nào làm ấm lòng những linh hồn vô tội đã ngã xuống trên đoạn đường này!

Tôi dừng xe lại bên đường trước “Chiêu Linh đài” không có một nén nhang để đốt lên tôi đành cúi đầu mặc niệm tưởng nhớ những đồng bào đã nằm xuống nơi đây. Bốn mươi năm về trước tôi và quý vị cùng đồng hành trên con đường này, cùng trải qua những giây phút kinh hoàng bom rơi, đạn lạc nhưng may mắn cho tôi đã thoát chết còn quý vị thì vĩnh viễn nằm lại nơi đây. Ngày xưa khi cùng quý vị vượt qua đoạn đường máu lửa này tôi chỉ là một cậu con trai mới lớn đang chuẩn bị thi Tú Tài, sau bốn mươi năm tôi trở lại nơi đây thì tôi đã là một người như chợ chiều xế bóng! Cảnh xưa như những thước phim quay chậm lại hiện về với cảnh tượng kinh hoàng có cả âm thanh gào rú của bom đạn, tiếng kêu la thất thanh của người bị trúng đạn và tôi tưởng chừng như có em bé lem luốc đứng nhìn ngơ ngác bên xác mẹ nằm trên vũng máu, nước mắt tôi lại ứa ra…

 Nắng chiều hoang hoải, những tia nắng cuối ngày nhuốm màu vàng vọt, không gian buồn ảm đạm. những cọng bông cỏ tranh trắng xóa phất phơ trong gió chiều, tiếng lá bạch đàn xào xạc, những cây xương rồng gai góc cắm trên những cồn cát chạy dài. Tất cả tạo nên một khung cảnh đìu hiu của vùng đất chết.

 Ngoài kia là quốc lộ 1 với những chuyến xe ngược xuôi vào Nam ra Bắc. Cuộc sống vẫn âm thầm tiếp nối, dòng đời vẫn âm thầm trôi chảy nhưng… nói như Héraclite“Không ai tắm hai lần trong cùng một dòng sông”./.

                 Nguyễn Ngọc Luật

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026

Nhạc : MƯA CHIỀU CƯ XÁ - Trần Thế Châu.

( Bài hát của bạn học thời sinh viên HVQGNN SÀI GÒN Tuy có nhờ A.I nhưng lời nhạc và giai điệu vẫn là chọn lựa của "tác giả"... )

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2026

Chuyện lạ : BIẾN BÒ THÀNH... - Sưu tầm trên mạng.

 



BIẾN BÒ THÀNH NGỰA VẰN. 

 Nghe Mà Muốn Xỉu: Bôi Sơn Lên Bò Thành Ngựa Vằn Để Đuổi Muỗi! 

Đây là một trong những nghiên cứu khoa học về chăn nuôi bò  đáng kinh ngạc nhất mà bạn từng nghe. Năm 2019, một nhóm nhà khoa học Nhật Bản đã quyết định thử một điều vô cùng bất ngờ: sơn những con bò thành ngựa vằn 

Mục đích không phải để cho đẹp, mà là để nghiên cứu: tìm hiểu xem da của ngựa vằn tự nhiên đã làm cách nào để xua đuổi côn trùng.

Cách làm: Các nhà khoa học dùng sơn nước đơn giản  để vẽ các sọc trắng đen lên thân những con bò.

Kết quả bất ngờ: Số lượng muỗi và ruồi hút máu đốt bò sọc giảm hơn 50% so với những con bò bình thường . Thậm chí, những con bò chỉ được sơn màu đen không hề có hiệu quả bảo vệ tương tự. Điều này cho thấy sức mạnh bảo vệ nằm ở sự tương phản thị giác giữa hai màu đen và trắng .

Tác động lên hành vi: Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy các cử động tự vệ thông thường của bò (như lắc đầu, quất đuôi...) giảm khoảng 20%. Đây là dấu hiệu cho thấy chúng đã bình tĩnh và bớt căng thẳng hơn 

 Bí mật khoa học

Các sọc vằn đã làm rối loạn thị giác của ruồi muỗi. Những loại côn trùng này dựa vào chuyển động và sự phản chiếu ánh sáng để ước tính khoảng cách và hạ cánh. Khi nhìn thấy một hoa văn tương phản cao như sọc vằn, nhận thức của chúng bị nhiễu loạn: chúng không thể xác định quỹ đạo bay một cách chính xác nữa, và kết quả là không thể đậu lên con vật .

 Giải thưởng quốc tế

Nghiên cứu sáng tạo này đã giành được Giải thưởng Ig Nobel 2025 ở hạng mục sinh học — một giải thưởng tôn vinh những nghiên cứu vừa vui nhộn vừa có giá trị khoa học thực tiễn 

Thí nghiệm này mở ra một ý tưởng mang tính cách mạng: bảo vệ gia súc khỏi côn trùng mà không cần dùng đến bất kỳ loại thuốc trừ sâu hóa học nào .

SƯU TẦM.