Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

Tản mạn : TỰ BẠCH - Nguyen Thyanh.

 



TỰ BẠCH. 

27 th8 - 2026.

Tôi thường viết truyện cực ngắn về những thành phần thấp cổ bé miệng nhất của xã hội. Vì sao vậy? 

Vì giống như khi nhìn vào một bình nước trong, ta phải nhìn vào đáy bình mới biết nước có thật sự sạch không. Nếu nước sạch, sẽ không có cặn. Cũng vậy, khi soi những mảnh đời tận đáy xã hội ta sẽ biết xã hội đó như thế nào.

Những mảnh đời tận đáy xã hội giống như lớp cặn lắng đáy bình: nơi mà mọi bất công, mọi lỗ hổng của thể chế, của lòng người đều dồn về đó và hiện hình rõ nhất. "Đáy xã hội” chính là thước đo trung thực nhất.

Một xã hội cũng giống như một cơ thể. Khi khỏe mạnh, ta hiếm khi để ý đến bàn chân, nhưng khi đau, chính ngón chân út bị dằm đâm lại khiến cả người mất ngủ. Người giàu, người có quyền có rất nhiều lớp áo che chắn: tiền bạc, quan hệ, truyền thông, pháp lý. Họ ngã vẫn có đệm đỡ. Còn người nghèo, người yếu thế thì không. 

Thế nên, muốn biết một chính sách y tế có nhân đạo không, đừng hỏi giám đốc bệnh viện tư. Hãy đến phòng cấp cứu 3 giờ sáng, nhìn người mẹ bán vé số ôm đứa con sốt co giật mà trong túi chỉ có 40 nghìn đồng được đối xử thế nào.

 Muốn biết luật pháp có công bằng không, đừng nghe đọc diễn văn. Hãy ngồi ở phiên tòa xử vụ trộm ổ bánh mì. Muốn biết giáo dục có khai phóng không, đừng đến xem trường quốc tế. Hãy ghé các lớp học tình thương dưới gầm cầu.

Đáy bình không biết nói dối. Nước trong đến mấy, nếu dưới đáy có cặn bùn, rong rêu, thì cả cái bình ấy vẫn chưa sạch. 

Xã hội cũng vậy. GDP có thể tăng, nhà cao tầng có thể mọc như nấm, nhưng nếu vẫn còn những đứa trẻ ngủ gầm cầu, những cụ già nhặt ve chai bị xe tông không ai nhận, thì sự phồn vinh đó chưa thật sự trọn vẹn.

Có một câu nói nổi tiếng của Adam Smith trong tác phẩm 'Của cải của các quốc gia' (The Wealth of Nations) mà tôi rất tâm đắc :

"Không một xã hội nào có thể thực sự thịnh vượng và hạnh phúc, nếu phần lớn các thành viên trong xã hội đó nghèo khổ và khốn cùng."

Nguyen Thyanh.

Cuộc sống : TỚI LÚC SẼ BIẾT - St trên FB.

 



TỚI LÚC SẼ BIẾT. 

(Chuyện không biết Chơn- Giả, tui copy từ bạn FB Phương Nam, đọc mà cứ rươm rướm nước mắt vì cái tình người ở Việt Nam vào thế kỷ 21 in hằn vật chất vô cảm này. Mời quý bà con...)

***

Bảng nội quy dán ngay cửa dãy trọ, in khổ bự, ép nhựa đàng hoàng. Văn phong của cô thì miễn bàn. Điều một: "Tiền trọ đóng trước mùng năm. Mùng sáu cô nhắc bằng cái mặt." Điều bốn: "Karaoke sau chín giờ: mời qua chỗ khác hát. Chỗ khác là đâu cũng được, miễn không phải đây." Điều sáu: "Nước là tiền. Tắm kiểu nhà giàu thì đóng tiền kiểu nhà giàu." Điều chín: "Dắt bạn về phải báo. Không phải cô cấm - cô ghi sổ, lỡ mất đồ còn biết hỏi ai."

Mười sáu điều như vậy, đọc vừa sợ vừa muốn vỗ tay. Nhưng huyền thoại nằm ở chỗ: bảng ghi rõ "NỘI QUY (17 ĐIỀU)", mà đếm tới đếm lui chỉ có mười sáu. Chỗ điều mười bảy là một khoảng trống, vết keo còn hằn, như từng có mà bị ai xé mất. Hỏi cô, cô trả lời đúng bốn chữ: "Tới lúc thì biết." Thế là bao nhiêu thế hệ sinh viên tự chế 7749 giả thuyết. Thằng Phát tin đó là danh sách tử thần: phạm đủ mười sáu điều thì kích hoạt điều mười bảy. Con Nhi thì đoán: "Điều mười bảy chắc là cấm hỏi về điều mười bảy."

Nói cho công bằng, cô Năm khó nhưng khó đều, không thiên vị ai. Và giữa thời buổi trọ Sài Gòn chỗ nào cũng rục rịch lên giá, dãy của cô vẫn đứng im ở một triệu hai - mức giá mà tụi bạn tui nghe xong tưởng tui xuyên không từ năm 2015 về. Muốn vô ở phải xếp hàng chờ, mà thứ tự chờ thì cô xếp theo tiêu chí gì, chưa ai giải mã nổi.

Phòng số 4 cuối dãy là anh Toàn - dev ra trường ba năm, làm công ty nhỏ bên kia đường, đi bộ mười phút. Anh hiền khô, tối tối leo rank Liên Minh tới Cao Thủ, còn ngoài đời thì ba năm không leo đi đâu hết: vẫn phòng một triệu hai, vẫn cơm cô Sáu, vẫn dép tổ ong. Tài sản lớn nhất đời anh là dàn PC đèn RGB sáu chục triệu, nằm chễm chệ giữa căn phòng mười hai mét vuông. Tụi tui hay qua ké máy, nghe anh giảng đạo: "Ở đây quen rồi tụi em. Công ty lớn rủ hoài mà qua quận 1 chi cho xa, kẹt xe thấy ghê."

Rồi từ đầu năm ngoái, tự nhiên cô Năm trở mặt với đúng một mình anh Toàn. Đầu tiên tăng tiền phòng thêm ba trăm. Vài tháng sau thêm năm trăm. Qua năm nay thêm một cục nữa. Cả xóm không ai bị động tới một đồng, riêng phòng số 4 giá leo như coin. Chưa hết: cô bắt anh dời xe khỏi chỗ đậu quen, nhắc anh chuyện rác chuyện điện - những lỗi mà xưa giờ cô lơ. Tới tháng sáu là cú chốt: cô đưa anh tờ giấy hẹn cuối tháng bảy trả phòng, lý do gọn lỏn: "Hết hợp đồng, cô không ký tiếp." Xong cô treo luôn cái bảng trước cửa: "PHÒNG SỐ 4 SẮP TRỐNG - ƯU TIÊN NĂM NHẤT." Người còn chưa dọn, bảng đã treo. Lạnh chưa.

Xóm trọ chấn động, group chat nổ banh. Thằng Phát - bà con biết tánh nó rồi - đêm đó thả liền ba giả thuyết: một, cô lấy phòng cho cháu; hai, cô sắp bán dãy trọ cho cò đất, bằng chứng là tuần trước có hai người lạ tới đo đạc chụp hình; ba, anh Toàn phạm phải điều mười bảy. Con Nhi nghe tới đâu gạch tới đó, nhưng riêng vụ đo đạc thì chính nó cũng không cãi được. Còn tui kẹt cứng ở giữa: sau cái vụ nhóm Zalo hồi trước, tui biết thừa cô Năm là người thế nào, mà chuyện đó tui đâu có kể ai được. Thành ra tui chỉ dám nói yếu xìu: "Tao thấy cô hông phải người vậy đâu." Phát quạt lại liền: "Mày bênh vì phòng mày chưa bị tăng giá chớ gì."

Nó nói trúng tim đen. Tui im.

Sáng chủ nhật cuối tháng bảy, cả xóm ra phụ anh Toàn dọn nhà, không khí y như đưa tang. Con Nhi đi sau thùng đồ, mặt buồn thiu. Thằng Phát khiêng cái case RGB bằng hai tay như khiêng quan tài, vậy mà miệng vẫn cà khịa được: "Anh ơi, qua chỗ mới nhớ để nó quay mặt về hẻm cũ nghen." Anh Toàn cười mà mắt đỏ hoe.

Đúng lúc đó cô Năm kêu: "Toàn, vô cô biểu. Trí, bây bưng giùm cô thùng nước ngọt vô luôn."

Tui bưng thùng nước theo sau, và đó là lần đầu tiên tui bước vô nhà cô Năm. Vừa qua cửa tui khựng lại: nguyên một mảng tường phòng khách dán kín hình. Mấy chục tấm, tấm cũ ố vàng, tấm mới còn bóng, dưới mỗi tấm ghi tay tên với năm. Tấm nào cũng cùng một kiểu: một đứa trẻ măng ôm thùng đồ đứng trước dãy trọ, mặt vừa mếu vừa cười. Có tấm chụp một anh ốm nhom ôm thùng sách, hai cánh tay trắng trơn chưa dính miếng mực xăm nào - nhìn quen dữ thần mà lúc đó tui nghĩ hoài không ra.

Cạnh mảng hình là một tờ giấy học sinh viết tay, chữ nghiêng nghiêng, ghi đủ mười bảy điều nội quy. Bản gốc. Tui kịp đọc dòng cuối cùng trước khi cô quay ra.

Điều mười bảy: "Lớn rồi thì đi."

Cô Năm đưa anh Toàn một cái phong bì dày, giọng tỉnh rụi như đọc chỉ số điện:

Mười bốn triệu bảy. Tiền tăng giá của con hơn năm nay, cô giữ đủ từng đồng. Chớ để bây giữ, bây nạp game hết. Cầm đi, đặt cọc chỗ mới.

Anh Toàn đứng như tượng sáp. Hồi lâu mới lắp bắp: "Sao... cô hông nói con?" Cô Năm nhún vai:

Nói trước thì bây ỷ lại. Với lại con giấu cô được cái gì. Con ký hợp đồng bên quận 1 từ tháng trước rồi mà giấu cả xóm, tính ở lì thêm. Bà Bảy nghe con đứng đầu hẻm gọi điện, kể cô nghe hết trơn.

Ra là vậy. Hai người "đo đạc" tuần trước là thợ, tới coi phòng số 4 để sơn lại, lắp thêm cái cửa sổ - cho đứa năm nhất sắp dọn vô, con nhỏ mới trúng tuyển sớm vô trường tui, nhà tuốt dưới miền Tây, đang cần cái giá một triệu hai hơn bất kỳ ai trong xóm. Còn mọi cú tăng giá, bắt bẻ, treo bảng ròng rã hơn năm trời - là cô Năm lùa một thằng rank Cao Thủ trong game ra khỏi cái rank Đồng ngoài đời, từng nấc một, tới khi ảnh hết đường lùi.

Anh Toàn ôm cô Năm. Cô đẩy ra liền: "Thôi thôi, đi lẹ, chiều người ta dọn vô rồi." Mà bàn tay cô vỗ vỗ lưng ảnh, chậm rãi, cái kiểu vỗ y chang má tui.

Trước khi ảnh nổ máy xe, cô Năm móc điện thoại ra: "Khoan. Ôm thùng đồ, đứng vô trước cửa, cô chụp tấm hình." Anh Toàn ôm thùng đồ đứng vô, mặt vừa mếu vừa cười - y chang mấy chục tấm trên tường. Tui đoán tuần sau, mảng tường đó sẽ có thêm một tấm mới, ghi tay: Toàn, 2026.

Tối đó tui lân la hỏi: "Cô ơi, chừng nào tới lượt con bị tăng giá?" Cô Năm nhìn tui từ đầu tới chân một lượt, rồi nói:

Lo học đi. Tới lượt con, cô đuổi hông sót một ngày đâu.

Nghe câu đó, tự nhiên tui thấy được an ủi mới ghê. Cả Sài Gòn sinh viên sợ nhất hai chữ tăng giá. Riêng xóm trọ hẻm 404 tụi tui ngầm hiểu ngược: cô Năm còn chưa đụng tới tiền phòng của mình, nghĩa là trong mắt cô, mình còn cần được che.

Chiều hôm đó, con nhỏ năm nhất ốm nhom vác cái balo bự hơn người dọn vô phòng số 4. Cô Năm đứng chống nạnh trước cửa, đọc nội quy cho nó nghe từ điều một tới điều mười sáu. Con nhỏ rụt rè: "Cô ơi, bảng ghi mười bảy điều mà cô?"

Cô Năm xoay lưng đi vô, buông đúng một câu:

"Tới lúc con sẽ biết."...

Sưu tầm trên FB 

.

Truyện năm Bính Ngọ : CON NGỰA "HỒNG TÂM" - H.V.H

 



CON NGỰA “HỒNG TÂM” ( phần 1 )

Ngày ấy, ở một vương quốc nằm giữa những đồng bằng xanh ngát và những dãy núi trùng điệp, có một vị vua trị vì đã nhiều năm.

Nhà vua vốn là người cẩn trọng, ít nói nhưng sáng suốt. Trong những năm cuối đời, sức khỏe của Người ngày một yếu. Biết mình chẳng còn sống được bao lâu, nhà vua cho gọi các đại thần thân tín vào cung, căn dặn từng việc lớn nhỏ của triều đình, đặc biệt là chuyện truyền ngôi cho vị thế tử còn đang ở tuổi thiếu niên.

Ngoài giang sơn, ngai vàng và kho báu của hoàng gia, nhà vua còn có một thứ mà Người đặc biệt yêu quý.

Đó là một con ngựa non.

Bộ lông nó có màu trắng hồng nhạt, ngay giữa cái ngực rộng nở nang có một vệt hình trái tim hồng rất rõ. Đôi mắt nó trong veo, lanh lợi; bốn chân khỏe khoắn thon dài,tất cả đã cho thấy dáng vóc của một chiến mã sau này. Nhà vua đặt tên cho nó là Hồng Tâm.

Người thường bảo các quan:

“Ngựa này còn non, nhưng tâm tính rất khác thường. Nó thông minh, gan dạ và có nghĩa.”

Chẳng ai hiểu vì sao nhà vua lại nói một con ngựa có “nghĩa”.

Nhưng nhà vua chỉ cười.

Rồi một ngày, tiếng chuông, tiếng trống báo tang vang  dài khắp kinh thành.

Vua cha băng hà.

Cả hoàng cung như chìm trong màu tang trắng.

Theo di chiếu, vị thế tử lên ngôi.

Tân vương còn quá trẻ. Khuôn mặt vẫn còn nét ngây thơ của tuổi thiếu niên, nhưng trên người đã khoác long bào thay tiên đế gánh vác sơn hà. Từ ngày bước lên ngai vàng, tân vương mới hiểu rằng ngồi trên ngai cao chưa chắc đã là người có quyền lực nhất.

Triều đình bắt đầu chia thành nhiều phe.

Người này tìm cách đưa phe mình vào những chức quan trọng. Người nọ ngấm ngầm kéo bè kết cánh. Những cuộc gặp gỡ kín đáo diễn ra trong phủ các đại thần. Những lời đồn đại lan từ chợ đến quán trà, từ hành lang cung điện đến tận những ngôi làng xa xôi.

Ai cũng nói mình vì xã tắc.

Ai cũng nói mình một lòng trung quân.

Nhưng phía sau những lời ấy, mỗi người đều có một toan tính riêng.

Có người muốn giữ quyền lực của phe mình.

Có người muốn đưa họ hàng vào triều.

Có người muốn nhà vua trẻ chỉ làm một vị vua trên danh nghĩa, còn việc triều chính phải do họ quyết định.

Trong lúc ấy, tân vương lại có một niềm vui rất giản dị.

Người thích Hồng Tâm.

Mỗi buổi chiều, sau khi giải quyết công việc triều đình, nhà vua thường cho gọi người coi sóc ngựa đưa Hồng Tâm vào cấm thành.

Có hôm, Người tự tay vuốt bờm nó.

Có hôm lại lấy một quả táo đưa tận miệng.

Hồng Tâm cũng rất quý chủ. Hễ nghe tiếng bước chân nhà vua là nó hí lên, giậm chân và ngoảnh đầu tìm kiếm.

Một hôm, nhà vua cho dẫn Hồng Tâm vào vườn Thượng Uyển.

Đó là khu vườn đẹp nhất trong hoàng cung. Những cây cổ thụ trăm tuổi bonsai được chăm sóc cắt tỉa cẩn thận, hoa quý được đưa từ các vùng xa về trồng. Có hồ sen, có cầu đá, có những lối đi lát đá quanh co dưới những hàng cây xanh mát.

Hồng Tâm bước vào.

Nó nhìn bên này.ngó bên kia.Rồi…một đóa hoa mẫu đơn vừa nở bị nó ngoạm mất.

Nhà vua bật cười.

“Ngươi thật là!”

Hồng Tâm nhai ngon lành, chẳng hề có vẻ biết mình vừa phạm tội.

Nhưng tai họa thật sự xảy ra khi Hồng Tâm phát hiện một luống cây quý mới trồng.

Nó bước tới.Ngửi ngửi… .

Rồi bất ngờ dùng móng trước cào xuống đất.

Một cây bị bật gốc. Rồi… hai cây.

Người làm vườn đứng gần đó tái mét mặt.

“Bệ hạ...!”

Nhà vua cười lớn:

“Thôi, thôi! Nó còn nhỏ. Trẫm bảo người trồng lại là được.”

Người làm vườn cúi đầu:

“Bẩm… xin tuân lệnh”

Nhưng chưa hết.

Một buổi khác, khi nhà vua đang đứng bên hồ sen, Hồng Tâm chạy tới bên Người. Không biết sao nó giơ một chân trước lên, vô tình chạm ngay vào vạt long bào.

Một vết bẩn hiện rõ trên long bào màu vàng.

Mấy thái giám đứng gần đó sợ đến mức không dám thở.

Nhà vua nhìn xuống.

Rồi nhìn Hồng Tâm.

Hồng Tâm cũng nhìn Người.

Hai bên nhìn nhau một lúc. Nhà vua bật cười.

“Ngươi muốn làm phản hay sao mà dám chạm lên long bào của Trẫm?”

Hồng Tâm hí lên một tiếng.

Nhà vua lại mỉm cười khi nhìn thấy một con sâu ngái xanh lè đang nằm lăn lóc trên bãi cỏ phía dưới vạt áo!! 

Những chuyện ấy chẳng bao lâu đã đến tai các đại thần.

Và lần này, một số người không cười.

Một nhóm quan lại vốn đang tìm cách tạo ảnh hưởng trong triều lập tức có cớ. Họ họp kín.

Một viên quan nói:

“Việc này không thể xem thường!”

Người khác phụ họa:

“Đúng! Long bào là biểu tượng thiên tử. Một con vật mà dám giẫm lên long bào thì còn coi phép nước ra gì?”

Một viên quan vốn đã có hiềm khích với phe của nhà vua trẻ nói:

“Đây chính là dấu hiệu của việc cung đình không còn tôn nghiêm!”

Thế là một bản tấu được soạn.

Tên của nó rất đẹp:

“Trung Quân Ái Quốc Sớ.”

Trong đó có đoạn viết rằng: Hồng Tâm đã ăn hoa quý, phá cây quý, lại còn xúc phạm,giày xéo (!?) lên long bào của thiên tử. Nếu không nghiêm trị, phép nước sẽ không nghiêm , kỷ cương sẽ bị xem thường.

Họ đề nghị… bắt giữ con ngựa và cả quan quân phụ trách coi sóc ngựa để trị tội! 

Thậm chí có người còn đề nghị “xử theo quốc pháp” thật nặng để làm gương.

Ngày hôm sau, bản tấu được dâng lên điện.

Nhà vua ngồi trên ngai, đọc từng dòng.

Đọc xong, Người im lặng.

Cả điện rồng im phăng phắc.

Một viên đại thần bước ra:

“Tâu bệ hạ, thần thiết nghĩ việc này liên quan đến uy nghiêm của hoàng gia. Không thể vì một con vật mà bỏ qua phép nước.”

Nhà vua nhìn ông ta.

“Ái khanh nói đúng. Có những sự việc như vậy "

Vị quan mừng thầm.

Nhưng nhà vua nói tiếp:

“Long bào của Trẫm có dơ bẩn chút  thì giặt được. Cây bị Hồng Tâm dẫm thì trồng lại được. Hoa bị nó ăn thì lứa sau lại nở.”

Người ngừng một lát rồi hỏi:

“Nhưng Trẫm muốn hỏi các khanh một chuyện.”

Không ai dám lên tiếng.

“Trong thiên hạ này, có ai nhân danh ‘Trung Quân Ái Quốc’ để tranh giành chức tước, quyền lực và phe cánh hay không ?”

Cả điện im phăng phắc.

Nhà vua đặt bản tấu xuống.

“Chuyện của Hồng Tâm, Trẫm không truy cứu.”

Một viên quan vội nói:

“Nhưng bệ hạ...”

Nhà vua khoát tay.

“Đủ rồi.”

Rồi Người đứng dậy.

“Các khanh hãy lo việc nước, lo cho dân đen hãy còn khốn khó ngoài kia… . Đừng đem chuyện một con ngựa ăn vài đóa hoa mà làm thành đại sự. Nhất là nó đã chỉ dùng chân trước để hất một con sâu ngái trên vạt long bào… “

Nhà vua bước khỏi điện.

Ngoài sân, Hồng Tâm đang được người hầu dắt đi ngang qua.

Vừa thấy nhà vua, nó lập tức hí vang.

Nhà vua đến gần mỉm cười, đưa tay vuốt đầu nó.

“Đi nào, Hồng Tâm.”

Con ngựa ngoan ngoãn bước theo.

Nhưng phía sau những cánh cửa điện đang khép lại, có những ánh mắt vẫn dõi theo.

Một vài người cúi đầu.

Một vài người nghiến răng.

Và có người khẽ nói:

“Con ngựa ấy... rồi sẽ còn gây chuyện.”

Không ai biết rằng, từ giây phút ấy, Hồng Tâm đã vô tình trở thành một quân cờ trong cuộc tranh giành quyền lực của triều đình.

Còn vị vua trẻ vẫn chưa biết rằng phía trước mình không chỉ có chuyện những đóa hoa trong vườn Thượng Uyển...

Mà còn có những cơn giông bão ngầm đang âm thầm vần vũ… .( còn tiếp phần 2 ).

H.V.H (9 - 2026)



Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

Cuộc sống : CHUYỆN MỘT TÔ PHỞ - St trên mạng.

 


CHUYỆN MỘT TÔ PHỞ. 

Là một giáo viên, mình thật sự bất ngờ với cách dạy con biết ứng xử của của các bậc phụ huynh thời bây giờ.

Chuyện là sáng hôm qua, khoảng 8h sáng mình đang ăn phở ở một quán quen gần nhà. Thì có một người đàn ông khoảng chừng 45 tuổi bước vào và gọi một bát phở tái gầu (người mình khoanh dấu đỏ). 

Chuyện sẽ chẳng có gì, nếu như khi ăn xong người đàn ông đấy chịu trả tiền rồi đi về. Nhưng không. Sau khi cắm cúi ăn một lúc, ông đấy đứng dậy kêu :"Ôi xời! Gầu thì vừa dai, vừa hôi. Nước phở thì nhạt toẹt. Ăn chẳng ra gì", sau đó ném đũa, đứng dậy tính đi về. Chị chủ thấy thế chắc cũng nóng mắt, tay cầm cái muôi múc nước phở, chạy ra chỉ thẳng vào mặt người đàn ông, bảo :

- "Ông ăn hết cả bát phở của người ta rồi, giờ ông nói thế để tính bùng mà được à. Trả tiền. Rồi đi đâu thì đi." 

Ông khách vẫn chẳng cho vào tai, lại nói: 

- "Phở nhà bà ăn chẳng ra gì, tôi không hài lòng, tôi không thanh toán!" 

 Nói xong ông đấy lại định bụng dời đi. Nhưng bị chị chủ giữ lại. Khách trong quán thấy cảnh này, người thì hiếu kì ngồi xem, còn mình và một số người khác thì khuyên ông khách. Nhưng lại bị lão đấy lườm cho rồi quát "Im mồm, việc của mấy ông bà à?"  Thấy lão đấy có vẻ không được bình thường, mà cũng sợ ảnh hưởng đến mình, nên mọi người lại thôi. Trong đầu nghĩ bảo :"Chị chủ hôm nay đen rồi. Gặp ông thần đến phá đám."

 Nhưng khi hai bên vấn đang dằng co rất cao trào, thì có một giọng nói trẻ con vang lên 

- "Bác ơi. Bác cứ về đi, lát nữa bố cháu gửi tiền cho."

Thế là mọi ánh mắt đều đổ về hướng của cậu bé (bạn nhỏ trong ảnh), một bạn học sinh tầm khoảng lớp 3, lớp 4  , nhưng không phải học sinh trường mình. 

 Thấy con trai nói thế, người bố cũng nhìn bà chủ gật đầu, để thể hiện rằng đồng ý, và để cho người đàn ông kia ra về. Lúc đi vào, chị chủ mới hỏi bạn nhỏ kia là :

- "Sao cháu lại bắt bố phải trả tiền cho cái loại ấy?" 

- "Tại cháu thấy cô với bác ấy cứ dằng co nhau ở trước quán, vừa ảnh hưởng đến người muốn đến quán ăn, vừa làm mọi người đang ăn trong này cũng chẳng còn thấy ngon nữa. Với cả một bát phở nhà mình cháu thấy cũng rẻ, thôi thì bố cháu mua thêm 1 bát, vừa là để ủng hộ cô, giúp cô vơi đi sự giận dữ để đón những người khách sau, vừa là để cả hai bố con được tận hưởng bát phở trên bàn này trọn vẹn hơn." Bạn học sinh đáp.

 Nghe xong câu trả lời, mình bất ngờ toàn tập. Trước tiên là vì sự dũng cảm của bạn nhỏ, khi mà người lớn đều đang im lặng, thì bạn ấy lại lên tiếng. Tiếp theo, là cách tư duy, phân tích và ứng xử khi gặp phải vấn đề, rất chuẩn chỉ và hợp lý. 

Mình rất ấn tượng với bạn học sinh này, nên lúc về, mình có lại bắt chuyện với bố bạn ấy, để hỏi xem bạn ấy học ở trường nào, và bí quyết dạy con của gia đình là gì mà bạn ấy lại giỏi đến thế. 

 Hỏi ra thì mới biết, bạn ấy là học sinh lớp 3 ở trên Hà Nội, được buổi cuối tuần về quê chơi với ông bà. 

Bài và ảnh sưu tầm trên mạng.

Chân tình : ĐÔI GUỐC DƯỚI HIÊN NHÀ - Tim Nguyễn.

 



ĐÔI GUỐC DƯỚI HIÊN NHÀ

Tôi lớn lên ở một cù lao nhỏ ven sông Hậu. Ở đó người ta không tính ngày tháng bằng tờ lịch treo tường, mà tính bằng con nước, con trăng. Nước lớn thì đi đồng, nước ròng thì vá lưới. Đời người cũng trôi lặng như nước, ít ai đi xa khỏi cái bờ kinh của mình.

Nhà tôi nghèo. Nghèo bền vững.

Má tôi mất sớm. Tía tôi mất khi tôi vừa biết vác lúa. Căn nhà lá tía để lại xiêu một bên sau mỗi mùa gió chướng. Mấy công ruộng ít ỏi, đất phèn làm không đủ ăn, trước khi mất tía tôi phải đem cầm cố cho người ta để có tiền thang thuốc cho má. 

Trên mấy công đất đó bây giờ có hai nấm mồ đất của tía má tôi, cỏ mọc lút đầu mỗi mùa mưa. Tôi ở lại giữ đất, mà đất cũng không còn là của mình.

Tôi không học nhiều. Chữ nghĩa đủ đọc tờ báo cũ người ta gói rau, đủ viết tên mình không sai. Quanh năm ai kêu gì làm nấy. Tía tôi trước khi nhắm mắt có dặn một câu, tôi nhớ cả đời: "Nghèo thì nghèo, con đừng để người ta coi thường cái lòng của mình." Tôi giữ câu đó như giữ cái nóc nhà.

Tôi chưa từng dám nghĩ đến chuyện vợ con đàng hoàng. Đàn ông như tôi, không ruộng, không chữ, không người thương, chỉ có sức thì mong gì hơn một bữa cơm đủ no.

Năm tôi hai mươi bốn tuổi, ông Hội đồng Phước ở làng bên cho người gọi tôi.

Nhà ông là căn nhà ngói lớn nhất vùng. Cột căm xe, sân gạch tàu. Ruộng của ông cò bay mỏi cánh. Tôi từng vác lúa cho ông nhiều mùa, chỉ dám đứng ngoài sân.

Ông ngồi trên bộ ván gõ, rót cho tôi chung trà. Rồi ông nói chuyện cô Hai. Cô Hai là con một  của ông, đẹp và có học nhất vùng. Cô được lên tỉnh học trường đầm, biết đọc sách, chữ viết tròn trịa. Trai trong vùng ai cũng ngó mà không ai dám trèo cao.

Ông không vòng vo. Ông nói cô Hai có thai với anh bạn trai trên tỉnh, nay đã bỏ cô. Ông không trách ai một lời. Chỉ nói ông là người cha, ông không muốn con gái mình phải cúi đầu ngoài chợ, không muốn đứa nhỏ sinh ra đã mang tiếng không cha.

Ông muốn tôi cưới cô Hai, và ông nói thiệt hết.

Ông chỉ cần một người đứng tên làm chồng che mắt thế gian. Một năm. Cho người đời thấy đó là một cuộc hôn nhân đàng hoàng, chứ không phải một người con gái chửa oan. Sau một năm, khi mọi chuyện lắng xuống, tôi có thể rời đi. Coi như tôi bỏ vợ đi theo người khác vậy mà. 

Để trả công, ông sẽ chuộc lại mấy công đất cha tôi đã cầm cố, trả lại cho tôi để có chỗ thờ tía má, dựng lại cái nhà. Ông sẽ không để tôi thiệt.

Tôi ngồi im rất lâu. Chung trà nguội ngắt. Tôi hiểu ông. Ông không mua tôi. Ông chỉ đang tìm một lối đi ít đau nhất cho con gái mình. Ông không muốn hỏi trai cùng làng nên tìm đến tôi và biết ba tôi bị xiết ruộng, cần phải chuộc lại.

Đêm đó tôi ra bến sông ngồi. Trăng non chiếu lăng tăng trên mặt nước. Tôi nghĩ đến hai nấm mồ của tía má tôi đang nằm trong đất người ta, cỏ mọc không ai nhang khói. Tôi nghĩ đến đời mình vốn đã không có gì để mất, không người yêu. Nếu sự có mặt của tôi giúp một người con gái giữ được chút bình yên, giúp một đứa trẻ sau này đi học không bị chúng bạn chọc ghẹo, thì cũng đáng.

Tôi nhận lời.

Đám cưới nhỏ, lặng lẽ. Tôi mặc bộ đồ mới duy nhất cô Hai mua cho, cô mặc áo dài màu bông hường. Cô cúi đầu suốt buổi lễ, lặng lẽ nhìn tôi trong chua xót cho cả hai.

Về nhà vợ, tôi ở tạm căn nhà sau, cách buồng cô cái sân phơi lúa. Chiếc rương gỗ tạp tía đóng, tôi để nguyên dưới gầm giường. Trên vách tôi chỉ treo hai bộ đồ. Tôi nghĩ mình đến như người khách, thì lúc đi cũng nhẹ.

Cô Hai cũng vậy. Cô đối với tôi lịch sự. Cơm nước có bà Năm, người giúp việc khi cô còn nhỏ. Chúng tôi như hai người khách trọ chung một nhà rộng, đi nhẹ, nói khẽ để khỏi phiền nhau.

Tôi đi làm từ khi gà chưa gáy. Tôi ra đồng của ông Hội đồng, làm như ruộng của mình. Tôi thấy bờ mẫu nào sạc thì đắp lại, thấy lu nước cạn thì gánh đầy. Không ai mượn, không ai biểu. Tôi nghĩ mình đã nhận lời làm chồng một năm thì phải làm cho trọn.

Cô Hai lúc đầu nhìn tôi như người giúp việc đồng án.. Cô không coi thường ra mặt. Con nhà gia giáo nên không trịch thượng như những người khác. Cô chỉ xa. Một cái xa rất lịch sự, rất sạch sẽ của người có văn hóa. Trong mắt cô, tôi là một phương án êm thấm mà cha cô đã chọn. Cô mang ơn tôi, nhưng ơn thì không phải là thương.

Nhưng mưa dầm thấm đất.

Điều làm cô để ý đến tôi đầu tiên không phải chuyện gì lớn. Một sáng, cô thấy đôi guốc mộc của cô hôm qua còn dính bùn vứt ở góc sân, sáng nay đã được ai đó rửa sạch, đặt ngay ngắn bên thềm. Chiều, cô thấy lu nước sau hè lúc nào cũng đầy. Cái hàng rào tre trước sân bị gió quật nghiêng, qua một đêm đã được dựng lại. Cô biết những chuyện làm đó từ tôi.

Rồi cô bệnh, một trận cảm sau mấy ngày dầm mưa. Cô nằm trong buồng, sốt hầm hập. Cô nghĩ tôi đã ra đồng. Đến khi tỉnh dậy, trên trán là chiếc khăn ướt vừa được thay. Bên cạnh cô, tôi ngồi ngủ gục trên ghế tre, tay còn cầm cái quạt mo cau.

Tối đó cô khóc. Lần đầu tiên sau khi người đàn ông trên tỉnh rời đi, cô khóc không phải vì tủi, mà vì có một người lo cho mình theo một cách rất quê, rất thật.

Từ đó, cô bắt đầu nhìn tôi bằng một con mắt khác. Cô thấy tôi ăn cơm lúc nào cũng vành chén sạch, không bỏ một hột. 

Không bao giờ ngồi vào mâm trước. Có khách đến chơi, tôi tự động bưng chén ra sau hè. 

Cô lớn lên giữa những người đàn ông biết nói lời hoa mỹ. Lần đầu cô gặp một người đàn ông ít học nhưng lòng không nhỏ nhen, nghèo nhưng không tự ti như tôi.

Và rồi cô bắt đầu lo cho tôi, cũng bằng những việc nhỏ. Thấy tôi đi cày về đau lưng, cô đem xuống phòng tôi cái gối mây kê lưng ngủ cho êm. Thấy áo tôi rách ở vai, cô không nói, trưa vắng lấy kim chỉ tự tay vá lại. Biết tôi ăn không được mắm quá mặn, cô dặn má Năm kho riêng cho tôi một tộ lạt hơn.

Tôi không gọi đó là thương nhưng hình như có mùi hương yêu đang phảng phất quanh tôi. 

Mỗi chiều, khi nghe tiếng chân tôi lội bì bõm dưới ao sau nhà, cô lại tự động đứng dậy, đi ra hiên sau nhìn tôi. Nhìn bâng quơ vậy thôi, chứ không phải chờ. Cái nhìn trìu mến của người đã phải lòng.

Chúng tôi thương nhau như phù sa bồi bờ. Không ai thấy nó bồi mỗi ngày, chỉ đến khi bãi đất đầy mới biết mình không thể rời được nữa. Nhưng ai cũng còn giữ kẽ vì cái ranh giới vô hình còn giới hạn.

Chỉ có một nơi tôi cho phép mình không giữ kẽ, là với thằng bé.

Nó ra đời vào một đêm mưa. Tôi đứng ngoài buồng nấu nước, chạy đi gọi bà mụ, tay chân lóng ngóng. Khi bà mụ trao nó cho tôi ẩm lần đầu, tay tôi run đến nỗi sợ làm rớt nó.

Từ ngày đó, tôi biết thế nào là có một gia đình để đi về. Buổi trưa đi đồng nắng rát, chỉ cần nghĩ đến chiều về thấy thằng nhỏ là tôi hết mệt.

Nhưng tôi vẫn giữ lòng mình lại bằng ba sợi dây vô hình:

Sợi dây thứ nhất là lời hứa. Một năm. Ông Hội đồng đã giữ lời, đã cho người chuộc lại mấy công đất nơi đó có mồ mả tía má tôi. Mấy năm nay cỏ mọc lút đầu mả, tôi chưa dám về thắp một nén nhang cho đàng hoàng vì đất còn trong tay người ta. Nay đất về rồi, tôi phải cố giữ bằng bất cứ giá nào. Đó là gốc của tôi.

Sợi dây thứ hai là nỗi sợ của người ít học. Cô Hai có học, biết nhiều chuyện ngoài kia. Tôi chỉ biết con nước, bờ ruộng. Có những lúc cô nói, tôi hiểu bằng tim chứ không hiểu bằng chữ. Tôi sợ cái thương hôm nay của cô chỉ là cái ơn, là sự cảm động của một năm gần gũi. 

Sợi dây thứ ba là ông Hội đồng thương con nên mới phải làm vậy, chứ nhà ông mấy đời sống trong nề nếp, gia phong nên không bao giờ chịu cho cuộc hôn nhân thật vì tôi là thằng không cha không mẹ, chữ nghĩa không có. Cái giai cấp đó nó không phải muốn bỏ là bỏ được. Nó in sâu trong xã hội rồi. 

Rồi một năm cũng qua. Một buổi chiều, ông Hội đồng gọi tôi ra sân. Ông nói mọi chuyện đã qua, người làng cũng đã quên. Ông nói tôi đã giữ trọn lời hứa, ông mang ơn tôi. Từ nay tôi có thể trở về cuộc đời của mình.

Sáng hôm ấy, tôi đứng trong căn phòng phía sau, nhìn chiếc rương gỗ nhỏ đã theo tôi đến đây từ ngày đầu tiên. Tôi xếp vào đó vài bộ quần áo như ngày mới đến, còn bộ đồ cưới tôi để lại. Chỉ có vậy. Một năm sống trong căn nhà này, vậy mà đến lúc ra đi, tôi mới thấy mình có quá nhiều thứ phải bỏ lại.

Tôi bước ra sân. Cô Hai đã đứng dưới mái hiên. “Anh Hai... đi thiệt sao?”

Tôi cúi đầu. “Dạ.” Một tiếng dạ ngắn ngủi, nhưng nghe như một lời đoạn tuyệt.

Cô im lặng. Gió thổi qua sân, làm tà áo bà ba cô khẽ lay. Một lúc lâu, cô mới nói rằng cô biết ngày này rồi cũng sẽ tới. Ngày tôi đến đây, cả hai đều nghĩ chỉ cần một năm. Một năm rồi tôi sẽ về với mảnh đất của tía má, còn cô sẽ trở lại cuộc đời của mình.

Nhưng không ai ngờ một năm lại đủ để hai người xa lạ trở thành người thân thuộc.

Cô nói cô đã quen tiếng chân tôi ngoài sân mỗi sáng. Quen buổi chiều đứng dưới mái hiên nhìn tôi từ ngoài đồng trở về. Quen một người âm thầm sửa lại hàng rào, vá mái nhà, rửa đôi guốc cho cô. Quen có một người không nói lời ngọt ngào nhưng lúc nào cũng ở đó khi cô cần.

Cô nhìn tôi, nước mắt chảy xuống. “Em quen có anh trong nhà rồi.” Tôi quay mặt đi vì mắt mình cũng đã đỏ.

Cô bước xuống bậc thềm, đi chậm đến trước mặt tôi. Hai bàn tay cô nắm chặt vào nhau. Cô muốn nói thêm điều gì đó, nhưng rồi chỉ lắc đầu. Có lẽ những lời cần nói đều đã nằm trong ánh mắt.

Rồi bất ngờ, cô bước tới ôm lấy tôi.

Đó là lần đầu tiên cô ôm tôi như bao người đàn bà ôm người mình thương. Không phải vì danh nghĩa vợ chồng. Không phải vì lòng biết ơn. Mà vì cô sợ tôi bước đi rồi sẽ không bao giờ trở lại, cô sẽ mất tôi mãi mãi.

Tôi ngượng ngùng vòng tay ôm lấy cô. Lần đầu tiên được ôm “vợ” của mình. Bờ vai cô run lên. Tôi nghe rõ tiếng tim đập mạnh của cô và cả của tôi, lần đầu tiên chúng bên nhau thật gần… Hơi ấm và mùi đàn bà làm tôi ngây ngất tâm hồn và thể xác.

Tôi muốn khóc. Tôi muốn nói rằng tôi không đi nữa. Muốn ở lại. Muốn làm chồng thật. Muốn mặn nồng trong tình chồng nghĩa vợ. Muốn chiều đi đồng về vẫn thấy cô đứng dưới mái hiên đợi tôi. Tối đến nghe tiếng thằng Tý cười trong nhà.

Cô buông tôi ra, hai bàn tay vẫn còn giữ lấy tay áo tôi. “Anh Hai... ở lại với em.” Câu nói ấy nhẹ thôi, nhưng làm lòng tôi đau hơn tất cả.

Cô nói cô sẽ xin ông cho anh làm rể thật. Cô nói ruộng đất nhà mình còn nhiều. Cô nói tôi cứ ở lại làm ruộng, nuôi thằng Tý rồi chúng tôi sống với nhau như một gia đình thật sự. Cô không cần tôi mang ơn ai nữa. Cô chỉ cần tôi đừng đi.

Tôi nghe mà lòng mềm xuống. Nhưng trong đầu tôi lại hiện lên hai nấm mồ của tía má. Tôi nhớ lời tía trước lúc mất. Tôi nhớ những năm tháng mảnh đất của dòng họ nằm trong tay người khác. Nay đất đã trở về, tôi không thể quay lưng. Phải cố giữ bằng mọi giá.

Tôi khẽ nói: “Cô Hai, tôi thương cô thiệt lòng. Tôi thương thằng Tý như con ruột. Nếu được sống cho riêng mình, tôi muốn ở lại lắm. Nhưng tôi còn lời hứa với tía má. Đất đã có rồi, tôi phải về.”

Cô đứng im. Nước mắt cứ rơi, nhưng cô không khóc thành tiếng nữa. Có lẽ cô hiểu rằng tôi không rời đi vì hết thương. Nhưng vì bổn phận. Tôi đưa tay nắm lấy bàn tay cô. Tôi giữ thật lâu, như muốn ghi nhớ hơi ấm cuối cùng. “Cảm ơn cô Hai. Mong cô mạnh khỏe và hạnh phúc sau này.”

Vác chiếc rương lên vai. Đi được vài bước, tôi dừng lại nhưng không dám quay đầu. Tôi biết chỉ cần nhìn thấy cô đứng đó, nhìn thấy đôi mắt cô đỏ hoe, tôi sẽ không còn đủ sức bước tiếp.

Phía sau, tôi nghe một tiếng nấc bật lên.  Một tiếng nói khẽ: “ Mong anh trở lại với mẹ con em”. 

Tôi cắn chặt môi bước tiếp, qua hàng rào tre, xuống con đường đất dẫn về bến sông. Nắng đã lên cao hơn, nhưng lòng tôi lạnh ngắt.

Sau lưng tôi là căn nhà từng xa lạ, nhưng đến lúc rời xa lại trở thành nơi tôi thương nhất. Đôi guốc mộc của cô vẫn nằm dưới hiên, ngay ngắn như mọi ngày. Chỉ khác một điều sẽ không còn người đàn ông mỗi chiều đi đồng về, lặng lẽ cúi xuống rửa sạch.

Tôi mang theo chiếc rương trở về với đất của tía má. Còn trái tim mình, tôi biết đã để lại nơi đó.

Một cuộc chia tay không có ai phản bội ai, không có ai hết yêu ai. Chỉ có hai người thật lòng thương nhau… nhưng cuối cùng vẫn phải bước về hai phía của cuộc đời.

TIM NGUYỄN. 

London, 12/08/2026

Một thời : MỘT BUỔI SÁNG... - St trên FB.

 


MỘT BUỔI SÁNG Ở CÀ PHÊ DINH ĐIỀN..PLEIKU 

Người ta nhớ Dinh Điền bởi một ly cà phê mà đến bây giờ, không ai dám nói mình đã hiểu hết..

..Quán nằm khiêm nhường giữa phố núi.

Một căn nhà gỗ, một tầng trệt, một tầng lầu. Không bảng hiệu lộng lẫy. Không bàn ghế cầu kỳ. Mùa mưa nghe mùi gỗ cũ quyện với hương cà phê. Mùa nắng, nắng len qua ô cửa, đậu trên những chiếc bàn đã nhẵn bóng vì năm tháng.

Tháng Ba năm 1975, gia đình chủ quán rời Pleiku. Ngôi nhà ấy rồi cũng qua nhiều lần đổi chủ.

Bây giờ, người ta đi ngang chỉ thấy một nhà nghỉ.

Nếu không có ai nhắc, sẽ chẳng mấy người biết nơi ấy từng có một quán cà phê mà chỉ cần nhắc tên, cả một thế hệ Pleiku lại mỉm cười.

Điều lạ nhất ở Dinh Điền không nằm ở căn nhà.

Mà ở người đàn bà đứng sau quầy.

Thời ấy, nhiều quán cà phê giữ chân khách bằng những cô gái trẻ, bằng tiếng cười, bằng nét duyên của người phục vụ.

Dinh Điền không có điều đó. Quán chỉ có một người mẹ lặng lẽ.

Bà pha cà phê.

Bà bưng từng ly.

Bà tính tiền.

Bà quán xuyến mọi việc từ lúc trời còn tối cho đến khi phố lên đèn.

Khách đến vì cà phê.

Ở lại vì sự tử tế.

Những người từng uống cà phê ở Dinh Điền thường kể rất ít về cách pha.

Họ chỉ nhớ vị.

Một vị đậm đến mức đầu lưỡi còn giữ mãi.

Một ly nhỏ mà đủ làm tỉnh cả buổi sáng.

Có người bảo, hôm nào không uống là thấy thiếu một điều gì đó, giống như ra khỏi nhà mà quên mang theo chiếc đồng hồ vẫn đeo mỗi ngày.

Điều kỳ lạ là càng nhiều người uống, bí quyết của Dinh Điền càng trở nên bí ẩn.

Ông Côn, người sau này gắn bó với một quán cà phê nổi tiếng khác của Pleiku, từng nhiều lần ngồi ở Dinh Điền.

Không chỉ để uống.

Ông còn muốn tìm hiểu.

Ông nhìn cách bà chủ rang cà phê.

Nhìn cách bà nấu.

Nhìn cách bà rót.

Ông thử đoán.

Rồi..

Lại thôi.

Có lúc ông nghĩ vị sánh đặc ấy được tạo nên từ nước thắng đường.

Có lúc lại nghi là nước dừa kho. Nhưng tất cả chỉ dừng ở sự phỏng đoán.

Cho đến hôm nay, bí quyết ấy vẫn theo gia đình bà chủ rời khỏi Pleiku.

Không ai biết câu trả lời.

Và cũng không còn ai để hỏi.

Có lẽ vì vậy mà Dinh Điền vẫn còn ở lại trong ký ức nhiều người.

Không phải như một quán cà phê.

Mà như một điều chưa bao giờ được giải đáp.

Có lần, tôi nhìn rất lâu một tấm ảnh cũ chụp trước quán.

Trong ảnh, chẳng có điều gì đặc biệt. Vài chiếc xe dựng trước cửa.

Mấy người khách ngồi im.

Một ô cửa gỗ mở hé.

Tôi bỗng nghĩ, điều quý nhất của bức ảnh ấy không phải là những gì còn nhìn thấy.

Mà là những gì đã đi mất.

Mùi cà phê thì không thể chụp.

Hơi nóng bốc lên từ chiếc ly cũng không thể giữ lại.

Giọng nói của bà chủ quán càng không.

..

Thời gian đã mang theo tất cả.

Chỉ để lại một cái tên..Dinh Điền.

Mỗi lần ai đó nhắc đến, trong ký ức của một người Pleiku cũ, hình như vẫn có một buổi sớm rất lạnh..Có một người đàn bà lặng lẽ đứng bên chiếc bếp.

..Và có một ly cà phê đang chờ nguội.

( Ảnh trên : Quán cà phê Dinh Điền 1970-1971. Ảnh Nguyễn Quang Hiền sưu tầm )

St trên FB. 

Hương xưa : ĐỐ VUI ĐỂ HỌC - Phạm Công Luận.

 


ĐỐ VUI ĐỂ HỌC.

Giữa thập niên 1960, trên Đài truyền hình Sài Gòn có chương trình Đố vui để học được học sinh đô thị xem nhiều và rất say mê, đến giờ, nhiều người ở lứa tuổi trên dưới 60 vẫn hào hứng khi được nghe nhắc lại chương trình này.

Chương trình này bắt đầu phát năm 1966, do Trung tâm Học Liệu thuộc Bộ Giáo dục (miền Nam) thực hiện. Những người tham gia điều hành chương trình là: các thầy cô dạy trung học như Đinh Ngọc Mô (dạy Pháp văn, có biệt tài về kịch nghệ), Lê Thanh Hoàng Dân (Phó giám đốc Trường Quốc gia Sư phạm), Cao Thanh Tùng (dạy Việt văn), Huỳnh Kim Quế (đã qua một khóa huấn luyện về vô tuyến truyền hình tại Đài Loan) và các ông bà Nguyễn Văn Đồng, Huỳnh Độ, Nguyễn Tú Anh, Đặng Ngọc Hương, Dương Thủy Ngân.

Chương trình được mô phỏng tiết mục truyền hình của Mỹ Quiz Show và tiết mục Quitte ou double của Pháp, vừa có tính giải trí, vừa có tính giáo dục, tạo tinh thần thi đua học tập của học sinh, tập cho các em bình tĩnh, phản ứng nhanh, ăn nói mạnh dạn và lưu loát trước công chúng, khuyến khích các em ưu tú, tạo tinh thần học hỏi cho học sinh nói chung.

Ở giải cá nhân, học sinh nam hay nữ các lứa tuổi từ trung học trở xuống đều có thể ghi tên dự thi, có chứng minh bằng thẻ học sinh hay căn cước. Ban tổ chức ưu tiên cho học sinh các tỉnh xa, nhất là khi thí sinh được ban giám hiệu trường tiến cử đi thi. Mỗi thí sinh sẽ trả lời 9 câu hỏi từ dễ đến khó, thời gian cho mỗi câu là 30 giây. Tiền thưởng tăng từ thấp đến cao, từ câu đầu đến câu cuối, bắt đầu từ 5 đồng, sau đó gấp đôi ở câu sau cho đến khi trả lời cả 9 câu là 1.280 đồng.

Phần thi đồng đội là cuộc thi giữa hai trường khác nhau, cùng trình độ. Ví dụ đội của Trường cộng đồng Phú Vinh ở Vĩnh Bình (nay là Trà Vinh) với Trường cộng đồng Đồ Chiểu ở Gia Định. Mỗi đội gồm 3 thí sinh, có đội trưởng chịu trách nhiệm giới thiệu các bạn trong đội mình. Câu đố trong cuộc thi có 20 câu, mỗi câu 5 điểm nếu đáp trúng. Đáp được nửa câu hay một phần thì số điểm sẽ được ban giám khảo định. Câu hỏi vừa được đưa ra, đội nào bấm chuông trước được trả lời nhưng nếu sai, đội sau sẽ được trả lời. Nếu các thí sinh hai bên đều đáp chỉ gần đúng câu hỏi, ban giám khảo sẽ quyết định số điểm. Sau 20 câu, cộng điểm để xem ai thắng. Người chiến thắng được thưởng 13.000 đồng tính chung tiền mặt và tặng phẩm. Nhưng đội thua cũng được tặng 2.000 đồng.

Có mấy chi tiết về chương trình mà học sinh lúc đó rất thích là: Các giám khảo khi giải thích câu hỏi hay thí sinh trình bày câu trả lời thì dùng bút lông viết lên bảng giấy to, hết giấy sẽ xé trang đó để viết tiếp ở trang sau. Lúc đó trường học toàn dùng phấn viết trên bảng. Nhìn chương trình, thấy giấy khổ lớn rất đắt tiền mà viết lên, xé liên tục nên mọi người xuýt xoa tiếc của. Đã vậy, bút lông lúc đó cũng được xem là loại tối tân! Đâu dễ mua và xài sang như kiểu Mỹ!

Khi công bố giải thưởng, đám học trò mê sách thèm lắm. Có tên nhà hảo tâm được xướng lên thường xuyên, là Giáo sư Lê Thanh Hoàng Dân, thì hầu như chương trình nào cũng có tặng sách. Trong số phần thưởng có nhãn hiệu trà Đỗ Hữu. Đây là hình thức "xã hội hóa giáo dục", được khéo léo lồng ghép với quảng cáo thương hiệu, cũng là nét đẹp và dấu ấn khó phai của truyền hình giáo dục ngày trước.

Giọng điều khiển chương trình của Giáo sư Cao Thanh Tùng, một vị thầy đeo kính trắng có chiếc cằm vuông, rất được ưa thích vì thầy dẫn chương trình rất sinh động, tính từ khi phát chương trình đầu tháng 7.1966 đến đầu năm 1969, Đố vui để học phát được 79 chương trình cá nhân và 29 chương trình đồng đội, mỗi tuần một chương trình. Có khoảng 1.000 thí sinh dự thi, phần lớn là học sinh tiểu học. Cứ 100 thí sinh thì có 10 thí sinh đáp trúng tất cả 9 câu hỏi.


 PHẠM CÔNG LUẬN. 

Liên kết Trang web : https://saigonxua.org/

Liên kết Facebook : https://www.facebook.com/oldsaigon75

Cuộc sống : CHUYỆN MÙA VU LAN - St trên mạng.

 



CHUYỆN MÙA VU LAN. 

- Alo. Anh hai hả? Anh đang ở đâu vậy?

- Anh Hai đang ở công ty,,có gì không cô út?

- Chiều về sớm tranh thủ qua nhà em đón Mẹ về nhà anh chị nhé

- Ủa, còn ba ngày nữa Mẹ mới qua nhà anh mà? Sao đón sớm vậy?

-Em biết, nhưng mai vợ chồng em đi du lịch với  bạn bè cả tuần mới về. Anh hai đón mẹ về nhà anh dùm em sớm vài hôm, tháng sau em bù lại cho

- Thôi được rồi, để anh về bàn với bà xã rồi tính sau

Nghe cuộc nói chuyện của cô con gái, bà Tư buông tiếng thở dài não ruột. Bà đứng lên lửng thững bước chậm chậm ra sân. Bà Tư cầm cái chổi lên quét quanh sân mà lòng ngổn ngang bao nỗi niềm. Bà Tư nhớ lại ...

Chồng chết sớm để lại cho bà Tư hai đứa con còn thơ dại. Lúc đó thằng Hai vừa mới chập chững biết đi những bước đầu tiên, con Út thì đang còn nằm nôi. Biết bao nhiêu khổ cực dồn hết lên đôi vai của bà, một sớm hai sương bà tảo tần lo cho hai đứa con khôn lớn. Buông cái này là bà chụp cái kia, làm và chỉ biết làm, miễn sao có tiền nuôi con là được

Khi hai con khôn lớn. Con Út muốn se sua với bạn thỏ thẻ với bà "Mẹ ơi con muốn mua áo mới", thằng Hai " mẹ ơi, cho con tiền mua chiếc xe đạp". Bà vui vẻ " Uhm. Để đó mẹ lo". Cứ thế, thằng Hai con Út trưởng thành chỉ biết ăn và học trong vòng tay của Mẹ đến khi ra trưởng và lập gia đình riêng. Cả hai đứa đều thành danh trong xã hội. Lúc hai đứa con còn nhỏ, tuy nghèo nhưng rộn rã tiếng cười. Bà Tư buông tiếng thở dài, bà tiếc nuối cái thời gian mẹ con đầm ấm đã qua.....

Tiếng chuông gọi cửa làm bà Tư giật mình. Bà đi vội ra mở cửa, con dâu ào vào, thằng Hai theo sau. Con dâu lên tiếng

- Cô Út có nhà không hả Mẹ?

Bà vừa đóng cửa lại vừa trả lời

- Nó ở trên lầu đó. Cơm nước gì chưa mà bây qua đây

Cô con dâu không trả lời, đi vội vào trong nhà. Cô Út nghe ồn ào dưới nhà liền chạy xuống. Chị dâu liền hỏi

- Cô Út làm gì mà tui gọi cháy máy không chịu nghe

- Em ở trong phòng xếp mấy bộ đồ để mai đi

- Cô đi rồi mẹ tính sao?

Cô Út hơi khó chịu

- Thì em có gọi cho anh Hai nhờ đón Mẹ về bên anh chị vài hôm rồi mà

Cô con dâu gắt..!!!

- Không được. Mai cuối tuần vợ chông tui cũng có việc đi tỉnh phát quà từ thiện hai ngày mới về. Cô Út xem tính sao thì tính.

Cô con Út lớn tiếng

- Anh Chị làm gì mà khó khăn vậy. Đi phát quà từ thiện thôi mà có cần phải gấp như vậy không. Chị lúc nào việc nhỏ cũng làm lên cho nghiêm trọng. Chờ em về rồi hãy đi !

Cô con dâu cũng không vừa

- Vậy sao cô không ở nhà đi để hôm nào đến phiên Mẹ qua tui rồi cô đi du lịch.

Bà Tư sợ mấy đứa con nhìn thấy nên quay mặt đi nơi khác để lau vội giọt nước mắt đang trào ra vì kìm lại không được. Chờ cho cục đắng nghẹn ở cổ trôi xuống. Bà Tư vui vẻ cười ha hả nói

- Chuyện nhỏ mà sao tụi bây ầm ĩ thế. Được rồi để đó Mẹ lo

Thằng Hai chen ngang

- Mẹ lo cách nào?

Bà Tư chậm rãi nói

- Lâu quá Mẹ không về quê, sẵn dịp vợ chồng con Út đi du lịch mươi hôm, vợ chồng thằng Hai cũng bận. Luôn tiện này Mẹ cũng muốn về Quê ở chơi với dì Năm bây vài hôm

Bà Tư nói xong, mấy đứa con đều nhất trí cao cách giải quyết của bà. Con Út lên tiếng

- Vậy thì mai anh Hai cho tài xế qua chở Mẹ ra bến xe

Bà Tư lại vui vẻ cười to để cho mấy đứa con yên tâm

- Cứ để đó Mẹ lo. Mai mẹ nhờ chú Ba xe ôm đầu ngõ chở mẹ ra bến xe được rồi.

Đêm hôm đó bà Tư suy nghĩ nhiều lắm. Tháng này ở nhà con Út thì tháng sau ở nhà thằng Hai. Bà Tư cảm thấy mình làm vướng bận cho con cái, vì mình mà hai anh em cãi nhau về chuyện ăn ở của bà. Làm Mẹ, bà không đành lòng nhìn cảnh như vậy.

*****

Tuần sau

- alo cô Út hả? Cô về chưa

- Còn 2 hôm nữa em mới về. Có gì không anh Hai

- Hôm nay anh nóng ruột quá nên gọi cho dì Năm hỏi thăm Mẹ, thì dì Năm nói là không có thấy Mẹ về nhà dì Năm.

Thế là cô Út và anh Hai cãi nhau ầm ĩ. Người này đỗ lỗi cho người kia. Cô Út đành phải bỏ cuộc du lịch bay về cùng anh Hai đi tìm Mẹ khắp nơi nhưng vô vọng...

*********

Năm năm sau

Tại một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô cách xa thành phố ,có một ngôi mộ lẻ loi ở sau chùa. Trên tấm bia có ghi

Phần mộ bà Nguyễn Thị Tư

Pháp danh. . .

Mất ngày. . . Tháng. . . Năm

Không rõ nhân thân

Mọi người trong làng kể lại. Cách đây năm năm, có một bà cụ từ đâu đến xin ở trong ngôi chùa nhỏ này. Từ đó ngôi chùa trở nên sạch sẽ nhờ bàn tay chăm chỉ của bà cụ. Sớm tối bà cụ tụng kinh gõ mõ. Bà cụ hiền lành phúc hậu nên được dân làng yêu quý, họ đem đến cho cụ mớ rau, khoai củ và những cây nhà lá vườn. Cứ thế, bà cụ sống nhờ vào lòng yêu thương của dân làng. Mọi người ở đây ai cũng nhìn thấy được cụ bà có một nỗi niềm gì đó mà không tỏ cùng ai. Vì nét mặt cụ luôn toát lên một nỗi buồn phảng phất cho đến tận lúc bà ra đi mãi mãi... .


CHA MẸ NUÔI CON BIỂN, HỒ LAI LÁNG

CON NUÔI CHA MẸ TÍNH THÁNG, KỂ NGÀY

ĐỌC XONG MÀ SUY NGẪM ! BÁO HIẾU MẸ, CHA !!!


St

Đời sống : GÁI NGOAN NỬA MÙA - Hong Khuu.

 



GÁI NGOAN NỬA MÙA. 

(Viết theo lời kể của chị bạn)

Kể ra tui cũng thuộc dạng gái ngoan - nhưng là gái ngoan nửa mùa, kiểu trái ổi bị nắng hun một bên, bên kia vẫn ráng giữ màu xanh cho có vẻ đoan trang. Nhìn thì tưởng hiền khô, chứ bên trong cũng có chút gió thổi qua, cũng biết cười, biết thương, biết lỡ bước vài lần cho thiên hạ khỏi nói mình chưa từng nếm mùi nhân gian.

Người ta hay nói ở đời có bốn món ăn chơi gọi là tứ đổ tường: rượu chè, cờ bạc, trai gái, hút xách. Tui xin khai thiệt, rượu chè thì tui biết nguyên cặp, còn ba món kia mỗi thứ chỉ dám xí một nửa, như thể ông trời chia phần vừa đủ để tui có chút chuyện kể mà không bị xếp vô danh sách "hư toàn tập".

Mà nói cho công bằng, rượu cũng có năm bảy kiểu. Có người uống vì buồn, có người uống vì vui, có người uống để quên sự đời. Còn tui uống đúng một ly trong đời - ly rượu giao bôi ngày cưới. Cùng một ngụm rượu đi xuống cổ họng, nhưng uống sai lúc người ta gọi là sa ngã, uống đúng ngày người ta lại gọi là nên duyên. Cùng một bài làm mà gặp hai người chấm khác nhau là điểm số đổi liền. Có khi số phận con người cũng giống ly rượu kia, không nằm ở thứ mình cầm trên tay, mà nằm ở câu chuyện phía sau nó.

Cha mẹ mất sớm, họ hàng ai cũng có cuộc sống riêng để lo, tui với thằng em trai giống như hai cây cỏ mọc bên vệ đường, không ai ngày ngày tưới nước, cũng chẳng ai đứng đó che dù khi trời nắng gắt. Hai chị em đành tự làm chỗ dựa cho nhau mà lớn lên.

Rồi giữa chốn đông người, tui gặp ảnh. Ảnh cũng mồ côi, cũng thiếu một mái nhà tinh thần giống tui. Hai đứa như hai chiếc lá bị gió cuốn đi mỗi hướng, vậy mà cuối cùng lại vô tình rơi xuống cùng một góc sân. Hai tâm hồn từng thiếu thốn gặp nhau, thôi thì dựng tạm một căn nhà bằng thương yêu mà trú, chẳng cần lệnh song thân - mà thiệt tình muốn xin cũng chẳng biết xin ai. Hai đứa lúc đó nghĩ đơn giản lắm: cha mẹ không còn, nhưng trái tim vẫn còn đập đều, vậy thì mình thương nhau thôi.

Đám cưới thời bao cấp nghèo mà ấm như nồi canh rau tập tàng ngày mưa. Không nhà hàng máy lạnh, không sân khấu đèn màu, không xe hoa chạy vòng vòng cho thiên hạ đứng coi. Cưới ngay tại nhà, căn nhà nhỏ xíu hôm đó tự nhiên rộng ra lạ thường vì chứa đầy tiếng cười, tiếng gọi nhau, tiếng chân chạy tới chạy lui của bà con hàng xóm. Nhà chật mà khách đông nên phải chia ca, người này vừa đặt đũa xuống là người kia vô ngồi, dọn bàn nhanh như chạy giặc, chậm một chút là khách đến sau không còn chỗ mà ngồi chớ đừng nói chi chỗ đứng.

Nhưng nghèo cũng có cái dễ thương của nghèo. Không tiền mua hoa thì lấy tàu dừa làm cổng, không trang trí sang trọng thì lấy bàn tay bạn bè làm đẹp cho ngày vui. Áo cưới đi thuê, xe hoa không có, xác pháo đỏ cũng không. Nhưng có một thứ tiền bạc không mua được - những người hàng xóm, bạn bè sẵn lòng bỏ công sức ra giúp mình trong ngày quan trọng nhất của một kiếp người.

Mấy đứa bạn gái xúm lại đi kiếm tàu dừa về dựng cổng cưới, rồi cả đám ngồi cặm cụi cắt chữ dán lên tường: "Bình Châu Hạnh Phúc Muôn Năm." Làm xong, đứa nào cũng nhìn thành quả với ánh mắt tự hào, cứ như vừa xây xong cung điện tình yêu. Ai dè bác tổ trưởng dân phố đi ngang, đứng nhìn một hồi rồi phán một câu tỉnh bơ: "Đám cưới thì chúc hạnh phúc trăm năm chứ đâu phải hội nghị mà cái gì cũng muôn năm." Cả đám im re, ngẫm lại thấy bác nói cũng có lý. Thế là lật đật sửa chữ "muôn" thành "trăm", khổ nỗi giấy đỏ hết sạch, chỉ còn giấy bạc. Thời đó đâu có chuyện muốn màu gì bấm điện thoại một cái là ra, có gì xài nấy. Chữ "trăm" đành cắt bằng giấy bạc, dán chìm vào giữa hàng chữ đỏ, đứng gần thì thấy rõ, mà lùi ra xa một chút, cái màu bạc lạc lõng ấy cứ như tan biến đi đâu mất, để lại một khoảng trống lửng lơ giữa dòng chữ "Bình Châu Hạnh Phúc ... Năm". Nghĩ kỹ lại thấy nó hay - cái khoảng trống nhìn từ xa ấy, đâu phải để bỏ mãi, mà là để dành sẵn cho cô dâu chú rể tự mình điền vào, năm này qua năm khác, bằng chính những tháng ngày họ sống với nhau.

Cưới xong, căn nhà chỉ còn hai vợ chồng với thằng em trai đang học lớp 12. Và đây mới là đoạn khiến tui nghĩ mấy người cùng thời nghe xong chắc cười khúc khích. Hồi đó thanh niên tụi tui đâu có internet, đâu có điện thoại thông minh, đâu có Google hỏi gì cũng ra. Muốn biết chuyện trai gái chỉ có nghe người này kể người kia, mấy cuốn sách chuyền tay, mấy câu chuyện nói nhỏ dưới mái hiên. Trong kho tàng "kiến thức bí mật" của tuổi mới lớn ngày ấy, có một cái tên mà hễ ai nghe tới cũng làm bộ ho một tiếng, nhìn trời nhìn đất, giả bộ như chưa từng biết - Cô Giáo Thảo. Tui hồi đó cũng nghe thiên hạ nói qua, nhưng thiệt tình lúc đó tui đã có quá nhiều thứ phải lo rồi, nào cơm áo, tiền bạc, nuôi em, tính chuyện tương lai, chưa kịp nghiên cứu sách vở thì đã phải bươn chải đủ bề. Tui nghĩ bụng, người ta học Cô Giáo Thảo bằng mấy trang giấy truyền tay, còn tui học chuyện yêu thương bằng chính cuộc sống. Ở đó không có ai giảng bài, không có đáp án cuối sách, chỉ có hai người tự học cách hiểu nhau.

Đêm tân hôn, hai đứa hồi hộp như học sinh chờ phát đề thi. Bao nhiêu năm giữ gìn, cuối cùng cũng tới ngày được bước vào một môn học mà không ai dạy trong sách giáo khoa.  Chiến bào được khoát lên.  Ai dè, ngay lúc hai đứa đang chuẩn bị "vào bài", thằng em trai ngồi học ở nhà trước bỗng hét lớn: "Anh chị làm gì mà rầm rầm hoài vậy? Đừng làm ảnh hưởng việc học của em!"

Trời đất ơi. Hai đứa tui lúc đó giống y chang học sinh đang làm bài kiểm tra, tự nhiên giám thị đi ngang hỏi làm tới đâu rồi, muốn trả lời cũng không biết trả lời sao. Tui nhỏ giọng phân trần: "Căn nhà này cách âm không được tốt..." Thằng nhỏ đáp liền, tỉnh queo: "Chứ còn gì nữa! Anh chị nói gì ngoài đây em nghe hết!" Ảnh trố mắt: "Tường nhà em xây bằng giấy hả?" Nó đốp lại không chút do dự: "Không, nhưng mười căn nhà chung một cái loa thông báo luôn đó!" Nói xong còn gõ cửa: "Nhỏ tiếng chút! Em đi học bài đây!"

Hai vợ chồng nhìn nhau, trong đầu cùng hiện lên một câu hỏi lớn hơn cả đề thi đại học: vậy rồi làm sao học tiếp môn này? Ảnh lặng lẽ đứng dậy dọn mấy cái ly rượu bị đổ, không giận không trách, nhưng cái vẻ mặt thất vọng nhìn mà thương. Đêm đó hai đứa nằm quay mặt ra hai phía, mỗi người âm thầm giải một bài toán khó - làm sao thương nhau khi căn nhà không có lấy một chút riêng tư, làm sao giữ lửa khi bên ngoài luôn có một vị khán giả bất đắc dĩ. Cuối cùng tụi tui nghiệm ra, chuyện vợ chồng cũng phải biết coi hoàn cảnh, tìm phương pháp, chờ đúng thời điểm, chứ không phải cứ muốn là được. Cái khó nó bó cái lòng. Bài giải của tụi tui lúc đó chỉ có hai chữ: chờ thời.

Rồi mùa hè năm đó, thằng em thi đậu đại học, lên đường đi học, ra trường, rồi đi xa theo phân công nhiệm sở. Căn nhà nhỏ ngày nào từng vang tiếng than "anh chị làm gì mà ồn quá", cuối cùng cũng trở lại yên tĩnh, chỉ còn hai vợ chồng, không còn ai gõ cửa, không còn ai làm giám khảo bất đắc dĩ. Thằng em ngày xưa giờ cũng có gia đình riêng, chắc nhiều năm sau nó mới hiểu được cái đêm đó anh chị nó không phải ồn ào vì thiếu ý thức, chỉ là hai con người từng cô đơn quá lâu, cuối cùng cũng tìm được nhau.

Có những chuyện lúc xảy ra chỉ muốn kiếm cái lỗ chui xuống vì mắc cỡ, vậy mà vài chục năm sau nhớ lại, nó lại thành một viên kẹo ký ức, ngậm vô thấy vừa ngọt vừa cay vừa mắc cười. Tuổi trẻ của tụi tui không có nhiều thứ, không nhà đẹp, không tiền nhiều, không cuộc sống tiện nghi. Nhưng có một thứ mà thời nào cũng quý - có một người bên cạnh để cùng mình đi qua những ngày thiếu thốn, rồi vài chục năm sau vẫn còn ngồi cười với nhau về những chuyện từng làm mình đỏ mặt.

Hạnh phúc là sau bao nhiêu năm, vẫn có người ngồi cạnh mình mà nói: "Nhớ cái hồi đó không?"

Còn bạn thì sao? Có kỷ niệm nào ngày xưa từng muốn giấu nhẹm xuống đất, vậy mà thời gian phủ lên một lớp bụi vàng, để rồi mỗi lần nhớ lại chỉ biết vừa mắc cỡ vừa cười một mình không?

HỒNG KHUU.

Thơ : TÌM LẠI CHÚT HƯƠNG XƯA - hathuthuy.

 



TÌM LẠI CHÚT HƯƠNG XƯA

Gần nửa trăm năm trở về chốn cũ 

Một thời giáo viên gói lại nơi này 

Mái trường làng xưa tranh tre vách lá 

Thương học trò chân đất bước đường xa

Thầy cô cũng quen dần trong gian khó 

Trang giáo án nghiêng trăng gầy rừng núi 

Tiếng thác ầm ì vọng giữa đồi xa

Giờ tất cả... Đã trôi vào dĩ vãng 

Phố thị rộn ràng điện sáng lung linh

Đường rộng mở ,Hồ Trị An bát ngát

Cỏ mật xanh tươi chan chứa nắng vàng 

Mây trên trời ngừng trôi cùng vọng tưởng 

Hương mùa xưa... Thuở cô giáo xa nhà.

hathuthuy



PHÁO TẾT NGÀY XƯA. 

Đêm Lễ Độc Lập, pháo bông nổ rần rần, sáng rực một góc trời. Người ta reo hò, giơ điện thoại quay lia lịa sợ lỡ mất khoảnh khắc đẹp, còn tui đứng đó chẳng thèm ngửa cổ lên ngó. Tiếng nổ ấy không bay lên mây mà cắm thẳng vô ngực, rồi từ trong đó nó lôi tuột tui về lại những đêm giao thừa xa lắc. Pháo bông bây giờ đẹp thiệt, màu mè lộng lẫy đủ kiểu, nhưng cái ký ức tuổi trẻ đâu có nhớ bằng mắt - nó nhớ bằng mũi hít mùi khói, bằng cái tai nghe tiếng nổ giòn, bằng con tim thót lại mỗi bận giật mình. Chỉ cần một tiếng đùng lảng vảng đâu đó là mùi khói pháo năm cũ lại kéo về, khiến chân tự động chạy về nhà, ngồi gõ lại mấy dòng này, hổng đợi tới Tết mới nhớ.

Hổng biết bây giờ đời đổi thay kiểu gì chớ hồi đó, cứ tới mùa Giáng Sinh là Sài Gòn đông nghẹt, đông tới mức tưởng cả thành phố hẹn nhau cùng một giờ để bước ra đường. Mà nói thiệt, hồi đó Giáng Sinh đâu còn là chuyện riêng của đạo nào - nó là cái cớ để người ta diện bộ đồ đẹp nhứt trong tủ, xịt chút dầu thơm mua ở chợ, chải tóc láng o, rồi chen nhau đi ngắm thiên hạ, vậy thôi. Mới chạng vạng là mấy con đường dẫn vô nhà thờ Đức Bà đã bị chặn thanh chắn ngang xương. Muốn vô hả? Xỏ dép mà đi bộ. Ngộ cái, càng cấm xe người ta càng ùn ùn kéo tới, đông cỡ nào cũng có chỗ chen.

Tui hồi đó mười lăm mười sáu. Cái tuổi nghe "đi hông?" là gật cái rụp, chưa biết đi đâu cũng ừ trước đã. Mười bốn đứa con gái ở chợ Chiều hú nhau một tiếng là đứa nào đứa nấy lôi ra bộ đồ được cưng nhứt - có đứa áo còn thơm mùi hồ vải, có đứa mang đôi dép nhựa trắng cả năm chỉ dám xỏ đúng ba lần. Cả bầy lóc cóc qua chợ Thị Nghè, lượn ngang Sở Thú, quẹo Nguyễn Bỉnh Khiêm, rồi tiến thẳng đại lộ 30 Tháng 4 về hướng nhà thờ Đức Bà. Đi thì nói cười rân trời mà mắt đứa nào cũng bận liếc thiên hạ, thấy trai đẹp đi qua thì giả đò ngó lơ, ai dè tim đập thình thịch muốn rớt ra ngoài.

Vui thì vui vậy, chớ hồi đó có cái để sợ. Pháo.

Nói tới pháo là nói tới quốc nạn thiệt sự chớ chẳng phải nói cho vui. Nó nổ bất tử, hổng thèm báo trước. Mấy thằng choai choai thì y như đang chờ có dịp, cứ lựa mấy cô gái mà quăng pháo cho đã. Nổ cái đùng ngay bên hông, tà áo nám một vệt đen, da rát buốt, hồn muốn văng ra khỏi xác, còn tụi nó thì đứng cười hô hố như mới lập chiến công cứu nước. Ghét thì ghét đó mà nghĩ lại cũng mắc cười, đúng cái tuổi ăn chưa no lo chưa tới.

Mà nói người ta hoài kỳ quá, hồi nhỏ tui đâu có hiền hơn ai. Tết nào ba tui cũng mua sẵn bốn nồi pháo dài cả thước Tây, tốn không ít tiền, má cằn nhằn tiếc tiền mua bánh trái, mà ba cứ cười xòa, coi như ba đâu có mua pháo, ba mua cái không khí xuân cho cả nhà. Một nồi giao thừa, ba nồi chia đều ba ngày Tết. Giao thừa mà thiếu tiếng pháo thì coi như chưa tới giao thừa. Cả xóm thay phiên đốt, nhà này vừa dứt nhà kia nổi liền, điếc cả tai mà lòng cứ rộn lên kỳ cục. Dưới bến, tàu kéo còi u... u... dài, còn má thì lầm rầm khấn vái, ba lom khom châm nồi pháo đầu tiên. Sáng mùng Một ra ngõ, đất đỏ au xác pháo, mùi khói còn vương trong áo mấy ngày liền.

Tui cũng ham, ai nói không ham là xạo. Nghe đâu đốt pháo là chạy tới, đợi nổ xong nhào vô lượm mấy trái lép đem về đốt lại, riết rồi tưởng mình gan lắm. Cho tới một bữa, châm lửa chưa kịp quăng thì nó bùm ngay trong tay. Lửa nháng, tay tê dại, phồng rộp, rướm máu, đau tới mức khóc mà chẳng kịp biết mình khóc hồi nào. Từ đó thấy pháo là né, né lẹ hơn né chủ nợ cuối năm.

Rồi 1 tháng 1 năm 1995, pháo bị cấm hẳn. Giao thừa từ đó im ru, đám cưới cũng hết cảnh xác pháo hồng rải lối đưa dâu. Bình yên hơn thiệt, cái đó ai cũng công nhận. Nhưng mà bình yên riết rồi cũng thấy thiêu thiếu cái gì đó, kiểu như nhà bớt ồn thì ngủ ngon hơn, mà đôi khi nửa đêm giật mình tỉnh giấc lại thấy trống trải là lạ.

Sau ngày đó  giao thừa với tui chỉ còn nén nhang, chút vàng mã, với tiếng còi tàu Tân Cảng vẫn u... u... vọng vào đêm như hồi xưa, có điều người nghe nó bây giờ như già hơn . Muối giờ tối là tui leo lên giường ngủ khì, kệ đồng hồ tự lật sang năm mới. Không phải hết thương Tết đâu, mà tới tuổi này mới ngộ ra thêm một tuổi cũng là bớt một đoạn đời, thôi ngủ cho khỏe, tính sau.

Có lần bạn hỏi tui rốt cuộc là nhớ tiếng pháo hay nhớ cái Tết nghèo ngày đó. Thiệt tình tui đâu có thèm nhớ tiếng nổ đôm đốp làm gì, cái tui nhớ là cái thời nghe pháo nổ là biết ba còn đó, đám bạn quỷ sứ còn đó, và tui thì vẫn còn là con nhỏ mười sáu tuổi, đầu óc trống trơn chỉ toàn háo hức với dại khờ. Tiếng pháo ngoài đường tắt lâu rồi, nhưng cái thứ âm thanh đó nó chuyển chỗ ở, giờ nằm lì trong lồng ngực, thỉnh thoảng lại nổ lên một cái, chẳng cần xin phép ai.

Bạn giữ được cái gì của Tết xưa tới giờ, hay cũng ngủ khì qua giao thừa như tui rồi?

HONG KHUU.

Vui chút :SO SÁNH.

 


SO SÁNH... 

Có cặp vợ chồng người Bắc cắm trại gần lều của cặp vợ chồng người Nam ..

Bà vợ Bắc nghe bà Nam mắng chồng: 

" Tối ngày địt , địt, địt ….Đứng địt , , ngồi địt , nằm địt và giờ lại còn vừa đi vừa địt nữa ...Mệt với ông quá đi .!!."...

Nghe bà Nam nói thế , bà Bắc quay sang chồng và mai mỉa :

" Đấy , ông thấy chồng người ta chưa ???..Suốt ngày đứng , ngồi , nằm đều địt và thậm chí vừa đi vừa địt nữa ...Còn ông ,chỉ mỗi chuyện địt nằm cũng không xong.””

Bị vợ mắng te tát , ông chồng Bắc gãi đầu và nói : 

" Gì thì cũng cố làm được ,nhưng vừa đi vừa địt thì tôi chịu thôi ...Không làm được đâu" 

SƯU TẦM TRÊN FB. 

Thiên nhiên : HÃY GIỮ MÀU XANH.

 




HÃY GIỮ MÀU XANH. 

Năm 2017, một con cá voi ở Na Uy đã cố gắng bơi vào bờ, quyết tâm tìm cái chết. 

Dù các chuyên gia đã cố gắng giúp đỡ thế nào cũng vô ích. Sau khi nó chết, các chuyên gia mổ bụng nó ra, cảnh tượng trước mắt khiến tất cả mọi người đều sững sờ.

Lúc đó là giữa trưa, mặt trời chiếu rực rỡ lên toàn bộ bãi biển. Du khách đều đi tìm nơi tránh nóng. Lúc này, một con cá voi điên cuồng mắc cạn về phía bãi biển.

Nhiều du khách nhìn thấy cảnh tượng này đều kinh ngạc, nhao nhao gọi. Dưới sự chứng kiến của mọi người, con cá voi nhanh chóng mắc cạn trên bãi biển. Lúc này là lúc mặt trời gay gắt nhất, nếu không kịp thời đưa cá voi trở lại biển, thì rất có thể nó sẽ phải đối mặt với cái chết.

Du khách trên bờ rất lo lắng cho sự an nguy của cá voi. Khi cá voi sắp mắc cạn, đã có người kịp thời thông báo cho cảnh sát. Cảnh sát cùng các chuyên gia bảo vệ động vật đã đến. Lúc này, xung quanh cá voi có một đám đông lớn, không ngừng tưới nước lên lớp da khô của nó.

Mọi người muốn dùng sức mạnh của đám đông để đưa nó trở lại biển, nhưng dù mọi người có đẩy thế nào, cá voi vẫn không nhúc nhích. Rõ ràng là nó dường như không muốn trở lại biển, nhưng mọi người đương nhiên đã bỏ qua điểm này, dù sao thì làm sao có sinh vật nào lại không muốn sống.

Thấy sức người không thể cứu được nó, mọi người liền vận chuyển máy móc hạng nặng đến. Nhờ sức mạnh của máy móc, mọi người nhanh chóng đưa cá voi trở lại biển. Ngay khi tất cả mọi người đều thở phào nhẹ nhõm, đột nhiên xảy ra một cảnh tượng khiến tất cả những người có mặt đều cảm thấy khó tin.

Con cá voi vừa được đưa trở lại biển lại từ từ bơi về phía bờ biển. Ban đầu mọi người nghĩ nó muốn cảm ơn, nhưng khi cá voi lại mắc cạn trên bãi biển, mọi người đột nhiên có chút hoảng loạn.

Nhưng để cá voi có thể sống sót, mọi người lại hợp sức đưa nó trở lại biển, nhưng lần này cũng vẫn như lần trước, cá voi lại quay trở lại bãi biển.

Điều này khiến những người cứu hộ không khỏi suy nghĩ, tại sao lại xảy ra tình huống này? Nếu chỉ là một lần mắc cạn, thì vẫn có thể định nghĩa là tai nạn, nhưng bây giờ liên tục mắc cạn, khả năng duy nhất là bản thân cá voi không muốn sống nữa.

Sau khi đưa ra kết luận này, những người cứu hộ vô cùng đau buồn. Dù họ có tìm mọi cách cứu giúp một trăm lần, chỉ cần cá voi không có ý chí cầu sinh, thì sau khi họ rời đi nó vẫn sẽ chết.

Đám đông vây quanh trên bờ dường như cũng cảm nhận được ý muốn tìm cái chết của nó. Trong chốc lát, tất cả mọi người đều chìm trong đau buồn. Lúc này, mọi người đều đau buồn cho con cá voi sắp chết. Có người không hiểu, có người đau lòng, cũng có người hy vọng vẫn có thể cố gắng thêm một chút.

Nhưng đã quá muộn rồi, lúc này con cá voi nằm trên bãi biển nóng bỏng thoi thóp. Chỉ trong hai ba giờ ngắn ngủi, lượng nước trên bề mặt cá voi đã hoàn toàn bốc hơi. Lúc này, tất cả mọi người đều chìm trong đau buồn, tất cả mọi người cùng chứng kiến một sinh mệnh mạnh mẽ cứ thế mà lụi tàn.

Nếu xác cá voi cứ mắc cạn trên bãi biển, một khi xảy ra phản ứng hóa học rất có thể sẽ dẫn đến nổ. Để tránh nguy cơ tiềm ẩn này xảy ra, nhân viên quyết định mổ xẻ và vận chuyển xác cá voi đi.

Vì kích thước của cá voi quá lớn, mọi người chỉ cần mổ bụng cá voi thôi đã mất vài giờ rồi. Khi mọi người mổ bụng cá voi, tất cả mọi người đều sốc.

Ai cũng biết cá voi thích ăn cá nhỏ và các sinh vật biển khác, nhưng trong bụng con cá voi này không những không thấy cá nhỏ, mà toàn là túi nhựa và chai lọ.

Trong chốc lát, tất cả mọi người đều im lặng. Những thứ này không thể tiêu hóa trong bụng là một điều đau đớn đến nhường nào. Những người có mặt cuối cùng cũng hiểu tại sao cá voi lại liên tục tìm cái chết, có lẽ cái chết đối với nó lại là một sự giải thoát.

Hy vọng mọi người đều có thể hình thành thói quen vứt rác vào thùng rác, đừng phá hoại môi trường trái đất xinh đẹp của chúng ta, hy vọng mỗi người đều có thể yêu quý ngôi nhà của chúng ta, bảo vệ động vật.

St TRÊN FB. 

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2026

Tản văn : MÙA TỰU TRƯỜNG - Hoài Hương.

 



 MÙA TỰU TRƯỜNG .

Mùa hạ chói chang đã lùi lại phía sau, nhường chỗ cho những cơn gió thu man mát tràn về trên đất Mỹ. Mùa khai trường (Back to School) lại đến. Nhìn những chiếc xe buýt vàng rộn rã đón học sinh trên phố, lòng một người lữ khách đã đi qua gần hai phần ba đời dâu bể chợt chùng xuống. Cái se lạnh chớm thu phương xa dường như chẳng thể làm ấm nổi khoảng trống hun hút trong tim.

Ký ức như thước phim chậm, vượt qua đại dương mênh mông, vượt qua hơn ba mươi năm bôn ba xứ người để đưa tôi trở về với những ngày tựu trường tháng Tám, tháng Chín năm xưa dưới mái trường Thủ Khoa Nghĩa - Châu Đốc.

Nhớ những năm học Đệ Nhất Cấp, sau một mùa hè thảnh thơi, ngày tựu trường là dịp vui nhất đời học trò. Lớp học thơm phức mùi vôi mới, ngào ngạt mùi mực tím và rộn rã tiếng cười sau kỳ nghỉ dài. Chúng tôi chuyền tay nhau cuốn Lưu Bút Ngày Xanh, nắn nót ghi vài hàng kỷ niệm, dán vội tấm ảnh chân dung nhỏ gói ghém bao ước mơ trong ngần chưa nhuốm bụi trần.

Thế nhưng, ngày vui ngắn chẳng tày tay. Bước lên Đệ Nhị, mùa tựu trường không còn là cảm giác nôn nao gặp lại bạn bè, mà thay vào đó là gánh nặng của kỳ thi Tú Tài Một đầy định mệnh. Áp lực nghiệt ngã "Rớt Tú Tài anh đi Trung Sĩ" đè nặng lên vai những cậu học trò mười bảy tuổi. Tôi còn nhớ những năm cuối trung học, khi cầm trên tay cuốn sách “Đường Vào Đại Học”, tôi từng biết trường Đại Học Cần Thơ tuyển thi giáo sư cấp tốc đệ nhất cấp, chương trình học ba tháng rồi ra dạy, sau đó tiếp tục hoàn tất vào mỗi mùa hè. Ngày ấy, tôi háo hức ghi danh nhưng trong thâm tâm lại chưa muốn dừng lại ở việc đi dạy nên đã bỏ lỡ. Để rồi mãi sau này, mỗi lần nhớ lại, lòng tôi vẫn dâng lên một niềm nuối tiếc khôn nguôi.

Để chuẩn bị cho những kỳ thi sinh tử, tôi cùng bạn chí cốt từng đùm túm sách vở lên núi Sam ôn luyện. Những ngày tá túc nơi góc chùa tĩnh lặng, sáng chiều nghe tiếng chuông ngân giữa mây giăng mờ ảo, chúng tôi vừa miệt mài kinh sử, vừa thì thầm chia sẻ những ước mơ ngô nghê của tuổi trẻ.

Vượt qua Tú Tài Một, con đường rộng mở hơn với Tú Tài Hai và cánh cửa Đại học. Thế nhưng, giảng đường thời chiến chưa bao giờ là tháp ngà bình yên. Lệnh Tổng Động Viên năm 1972 ập đến như cơn lốc thời cuộc, cuốn phăng bao ước mơ thanh xuân, buộc chúng tôi phải gác lại bút nghiên để bước vào đời quân ngũ.

Sau bao biến cố, cuộc đời đẩy đưa chúng tôi lạc lỏng đến xứ sở cờ hoa. Nhịp sống sinh viên ở Mỹ thực tế và hối hả với vòng xoáy vừa làm vừa học. Mùa tựu trường nơi đây không có tiếng trống khai trường rộn rã hay tà áo trắng tung bay, mà chỉ là chuỗi ngày cuống quít giữa ca làm và giờ lên lớp. Sự bận rộn ấy cuốn riết đến mức ngày tốt nghiệp, nhiều người thậm chí chẳng thể thu xếp thời gian đến trường nhận bằng, đành ngậm ngùi chờ bưu điện gửi về tận nhà.

Đã mấy mươi năm trôi qua, mái tóc xanh ngày nào giờ đã nhuốm màu sương gió. Mỗi lần thu sang, nhìn nắng vàng nhạt chiếu qua kẽ lá, hình ảnh ngôi trường Thủ Khoa Nghĩa xưa lại hiện lên vẹn nguyên, trong trẻo như dòng nước sông Hậu mùa bồi đắp phù sa. Nơi ấy, những thầy cô tâm huyết đã chắp cánh cho chúng tôi bước qua những ngưỡng cửa lớn của cuộc đời.

Thời gian trôi đi không ngoảnh lại, bạn bè mỗi người một ngả, tan tác như lá thu bay. Giờ đây, đứng ở phía bên kia dốc cuộc đời, ngoảnh nhìn lại, mọi thăng trầm xưa cũ chỉ còn như một giấc mơ dài sau cái chớp mắt.

Ngôi trường cũ dẫu trải qua bao dâu bể vẫn trầm ngâm đứng đó... chỉ có bóng dáng người xưa là mãi mãi biền biệt nơi chân trời. Thôi thì, xin gom hết những thương nhớ một thời gửi vào gió thu, trả lại cho ký ức một khoảng trời xanh trong vắt của những ngày đã qua.

HOÀI HƯƠNG (FB) 

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2026

Cuộc đời : TUI UỐNG NHẦM THUỐC !- Hong Khuu.

 



TUI UỐNG NHẦM THUỐC!

Có bữa ngồi coi phim tình cảm, tự nhiên tim nhói một cái, y như ai lỡ tay đụng trúng vết sẹo cũ mà mình cứ tưởng nó lành lâu rồi. Kỳ thiệt, không biết uống nhầm thuốc gì mà càng già tui càng khoái ngắm trai thanh gái lịch yêu nhau. Thấy tụi nó nắm tay, cãi lộn, rồi quay lại ôm nhau một cái, tự nhiên thấy mình như đứng ngoài cửa sổ nhìn vô một căn nhà sáng đèn, ấm rân, còn mình thì đứng ngoài sân, tay ôm cái áo khoác cũ, miệng cười mà lòng hơi chát.

Coi riết rồi mới thấy, mấy chuyện tình trên phim có cái bất công dễ thương lắm. Lúc nào cũng có một đứa sinh ra đã nằm sẵn ở vạch đích, rung đùi giỡn chơi với trái tim người ta. Còn đứa kia phải lội trầy da tróc vảy đủ chín mươi chín bước, vừa thương vừa buồn vừa chai lì, đi tới lúc tưởng sắp quỵ. Vậy mà bên kia chỉ cần nhấc cái mông lên, bước có một bước ngắn tày gang tới đỡ nhẹ một cái, là coi như ăn trọn điểm, game over. Vô lý vậy đó, mà tui coi, tui cũng rớt nước mắt rồi cười huề.

Thấy tụi nó dung dăng dung dẻ dưới nắng, tự nhiên trong lòng có một cô gái nào đó chạy ngang qua, tóc xanh, mắt sáng, chân đủ khỏe để chạy theo một người mà không cần hỏi coi đầu gối mình chịu nổi hay không. Tiếc là cái tuổi xế chiều đã gói tui lại gọn lỏn thành một mụ già cau có, hom hem, hết xí quách để đòi nhập cuộc liêu trai. Cái ngõ thanh xuân đó, tui đi vòng vo cả đời, vậy mà đứng ở xó xỉnh nào ngó lại cũng thấy nó đứng từ xa vẫy tay. Muốn chạy lại lắm, muốn nhận mặt cho thỏa, ngặt nỗi cánh tay mình có dài cách mấy cũng không thể thò qua một đoạn mấy chục năm để kéo nó lại gần cho đỡ nhớ mong. Thôi thì ngồi ngoài rìa làm khán giả, cười cười, thở dài một cái cho có lệ.

Tuổi trẻ của tui, nói cho ngay, cũng có chút màu hồng, nhưng mỏng như lớp phấn trên mặt cô dâu ngày cưới. Có một anh lính hai mươi sáu tuổi, tình trong như đã mặt ngoài còn e, tụi tui nghiêm túc với nhau dù chưa từng gặp mặt. Anh đi khi tuổi đời còn quá trẻ, tụi tui chẳng kịp có cơ hội đi xa hơn nữa. Vậy mà hình ảnh của anh cứ theo tui tới bây giờ, thấp thoáng đâu đó trong mấy trang thơ, trang truyện tui viết. Phần đời còn lại chỉ là một bản nhạc buồn thiu: một người đi với một người, một người đi với nụ cười hắt hiu. Không có ai đưa đón, không có giận hờn để được dỗ dành, cũng chẳng ai nhìn thấy tui buồn mà hỏi một câu "sao vậy". Buồn thì tự chui vô cái vỏ của mình, gặm cho hết cục buồn rồi mới chịu chui ra, miệng lẩm nhẩm "Em về điểm phấn tô son lại, hẹn với nhân gian tiếng đợi chờ".

Ừ thì thua keo này ta bày keo khác, có chí thì nên, phải không. Rốt cuộc mũi tên tình yêu của tui cũng tới, mà tới từ tuốt nửa vòng trái đất. Nói thiệt, tui đâu có trúng tên bao giờ. Toàn là tự mình chạy tới, lượm mũi tên lên, tự ghim vô ngực mình một nhát nhè nhẹ, rỉ chút máu cho có vẻ giống người ta, chớ không thiên hạ lại tưởng mình thuộc giống máu lạnh thì kỳ.

Sáu mươi tuổi đời, ngẫm lại chưa từng có nổi một lần nắm tay ai đi giữa phố mà lòng khỏi ngó trước ngó sau. Yêu thì chậm mà cưới thì vội. Cái cẩm nang sống "bán rẻ còn hơn ngồi không, lấy chồng hơn ở giá" đem về cho tui một mái nhà đủ che nắng che mưa, tiện thể che luôn mấy trận chiến tranh lạnh giữa hai nửa tâm hồn chẳng bao giờ chịu khớp nhau trọn vẹn. Cũng giống một cuộc liên hôn của hai kẻ cô đơn vậy đó. Băng tua nhanh quá, chẳng kịp cho mình cái diễm phúc yêu theo tuần tự, để rồi những thứ dồn ứ lại từ năm nào, giờ cuối đường mới chịu lộ mặt, đòi một chỗ đứng. Tui chỉ biết cười trừ.

Giờ thì đành tìm lại cảm giác của mình qua chuyện của người ta, chớ tuổi này rồi còn tiêu chuẩn gì mà đòi đóng phim nữa. Nhiều khi coi mà cười như điên, rồi tiện thể nhớ qua chuyện đời. Nhớ bác Ba của tui, mới mười lăm tuổi đầu đã bị người lớn tóm đi hỏi vợ, cũng vì ở quê cần thêm người ra đồng cày cuốc, đời lúc đó tính chuyện trăm năm đơn giản như tính công cấy. Ngày đi hỏi vợ, bác Ba hoảng quá đào hôn, cả nhà phải tổng động viên đi truy nã, cuối cùng tóm được nghi phạm đang co ro trong chuồng gà. Bác gái lớn hơn hai tuổi, nghe đâu hồi đó "được gái" lắm, ai cũng tưởng cưới về chỉ để có cặp nhảy dây cho vui nhà. Vậy mà mới tháng sau đã thấy ôm cái bụng lú lù.

Rồi lại nhớ cái bữa trước khi vô phòng tân hôn, tui còn làm trồng làm tréo, nhất định bắt ông chồng phải bế kiểu công chúa, tự ẵm tui bước qua thềm cửa chớ không cho đi bộ. Hồi đó mình hạc xương mai là thế, mà ổng cũng phải è cổ, hì hục lắm mới bế nổi tui lên tới giường. Bây giờ lâu lâu nổi hứng bày đặt nũng nịu: "Anh ơi, ẵm em đi ngủ đi." Ổng quay qua liếc tui một cái lạnh như mùa đông cực Bắc, nhún vai, rồi thản nhiên quay lưng bước đi, không quên thảy lại một câu xanh rờn: "Voi con bé bỏng, anh có lòng mà không có sức."

Câu nói rớt xuống đất cái bịch. Tui đứng đó một chút, rồi bật cười. Cười cái kiểu vừa buồn vừa thương, kiểu cười của bà già sáu mươi đứng cạnh người mình nắm tay đã mấy chục năm, mà nhiều khi vẫn còn ngờ ngợ không biết đây có phải cái mình từng mơ hồi con gái hay không.

Mà thôi. Cái ngõ thanh xuân đó vẫn đứng nguyên chỗ cũ, chỉ có người đứng ngó nó là già đi thôi.

Giá mà được quay lại một lần, chắc tui cũng chẳng đòi hỏi gì nhiều. Chỉ cần một người chịu bước tới trước, dù chỉ một bước ngắn tày gang - để tui khỏi phải một mình lội hết chín mươi chín bước còn lại.

11/08/2026

HONG KHUU (FB) 

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2026

Phương xa: UỐNG SỮA NGƯỜI - St trên FB.

 



UỐNG SỮA NGƯỜI. 

Năm 1943, một phi công Mỹ rơi từ bầu trời xuống một trong những khu rừng nguy hiểm nhất trên trái đất.

Trong ba mươi mốt ngày, Fred Hargesheimer lang thang một mình qua rừng mưa nhiệt đới của đảo New Britain sau khi chiếc máy bay trinh sát đang bốc cháy của anh bị bắn hạ trên vùng lãnh thổ do quân Nhật kiểm soát trong Thế chiến thứ Hai.

Anh khi ấy hai mươi bảy tuổi.

Đói khát.

Mê sảng.

Chỉ còn thoi thóp.

Anh sống sót nhờ rễ cây và nước suối, di chuyển trong rừng vào ban đêm để tránh các toán tuần tra Nhật Bản đang lục soát hòn đảo.

Đến ngày thứ ba mươi hai, khi những tiếng nói cuối cùng vang lên từ trong cây cối, Fred tin rằng mình sắp chết.

Anh nghĩ quân Nhật đã tìm ra mình.

Nhưng không phải. Đó là một nhóm người bộ tộc Nakanai.

Người dân làng đã cõng người phi công Mỹ yếu ớt trở về làng ven biển và giấu anh khỏi lực lượng Nhật Bản, dù biết rõ hậu quả nếu bị phát hiện.

Quân Nhật đang treo thưởng cho việc bắt sống các phi công Đồng minh.

Họ cũng hành quyết bất kỳ ai giúp đỡ những người đó.

Thế nhưng dân làng vẫn giấu Fred.

Anh ốm yếu đến mức hầu như không thể nuốt được thức ăn đặc.

Rồi một người mẹ đang nuôi con bằng sữa tên Ida bước vào túp lều nơi anh nằm.

Bà quay lại với một cái chén đựng sữa của chính mình và tự tay cho anh uống trong mười ngày để giữ anh sống, trong khi vẫn nuôi đứa con nhỏ của mình.

Fred không bao giờ quên tên bà.

Mỗi khi toán tuần tra Nhật tiến gần làng, có người sẽ thổi nhẹ vào một cái vỏ ốc biển giấu gần đó.

Tiếng đó nghĩa là Fred chỉ còn vài giây để biến mất.

Và nếu anh chạy ngang bãi cát mà vẫn mang giày, những đứa trẻ trong làng sẽ đi theo phía sau, cầm những chiếc chổi nhỏ làm từ lá cọ — quét sạch dấu chân của anh trước khi lính Nhật đến.

Nếu bị phát hiện, cả ngôi làng có lẽ đã bị tàn sát.

Không ai phản bội anh.

Những đứa trẻ không thể phát âm được “Freddie”, nên chúng gọi anh là “Mastah Preddi”.

Ông chủ Freddie.

Anh sống cùng họ trong bảy tháng.

Rồi vào tháng Hai năm 1944, các biệt kích Úc cuối cùng cũng đến được ngôi làng và dùng radio gọi một tàu ngầm Mỹ đến đón anh rời đảo.

Trong một đêm không trăng, Fred chèo thuyền độc mộc ra phía tàu ngầm trong khi dân làng đứng nhìn từ bờ.

Một số người mẹ được kể lại là đã cố đưa con mình cho anh mang về Mỹ.

Fred sống sót qua chiến tranh và trở về Minnesota, nơi anh kết hôn, nuôi dạy con cái và xây dựng một cuộc sống bình thường.

Nhưng anh không bao giờ quên được những người đã cứu mình.

Đặc biệt là Ida.

Đặc biệt là những đứa trẻ với chiếc chổi nhỏ.

Suốt nhiều năm, một suy nghĩ luôn day dứt anh:

“Làm sao tôi có thể đền đáp được họ?”

Vì vậy năm 1960, Fred một mình trở lại New Britain.

Khi thuyền anh cập bãi biển, dân làng xếp hàng dọc bờ cát chờ đón anh dưới ánh trăng.

Rồi họ bắt đầu hát bài hát tiếng Anh duy nhất mà họ biết:

“God Save the Queen.”

Fred bước xuống cát và khóc.

Anh gặp lại Ida.

Anh gặp người con trai mà bà đã nuôi bằng sữa trong khi cũng nuôi anh bằng chính sữa của mình trong chiến tranh.

Và sau khi trở về nhà, anh quyết định rằng lời cảm ơn thôi chưa đủ.

Một nhà truyền giáo sau đó cho anh biết ngôi làng đang rất cần một ngôi trường.

Vậy là một người bán hàng trung niên ở Minnesota bắt đầu đi gõ cửa từng nhà trong quê hương mình, gây quỹ qua các nhóm nhà thờ và những khoản quyên góp nhỏ.

Đến năm 1963, Fred trở lại New Britain và giúp xây ngôi trường kiên cố đầu tiên của làng.

Nhiều năm sau, anh và vợ Dorothy chuyển đến sống luôn tại đó trong bốn năm — rời bỏ nước Mỹ hoàn toàn để dạy học cho trẻ em dưới chân một ngọn núi lửa, cách quê nhà mười hai ngàn dặm.

Trong vài thập kỷ tiếp theo, Fred tiếp tục trở lại hòn đảo hết lần này đến lần khác.

Anh giúp xây trường học.

Thư viện.

Một phòng khám y tế.

Năm 2000, người Nakanai chính thức tôn anh làm tù trưởng bộ tộc và trao cho anh danh hiệu “Suara Auru”.

Tù trưởng Chiến binh.

Rồi năm 2006, ở tuổi chín mươi, Fred thực hiện chuyến đi cuối cùng vào rừng.

Xác máy bay bị rơi năm 1943 cuối cùng cũng được tìm thấy.

Dân làng cõng người phi công già yếu trên vai xuyên qua rừng mưa nhiệt đới để anh được nhìn thấy nó lần cuối.

Cánh máy bay gãy từng một lần thả một người Mỹ trẻ đói khát vào cuộc đời họ vẫn còn nằm đó dưới những tán cây.

Fred Hargesheimer qua đời năm 2010 ở tuổi chín mươi tư.

Những ngôi trường và phòng khám anh giúp xây dựng vẫn còn hoạt động đến ngày nay.

Và khi người ta hỏi vì sao ông dành gần bảy mươi năm để đền đáp một ngôi làng mà ông lẽ ra có thể quên đi sau chiến tranh, Fred luôn trả lời bằng cùng một câu:

“Những người này đã cứu mạng tôi. Làm sao tôi có thể đền đáp được?”

Ông dành phần đời còn lại để cố gắng làm điều đó.

ST TRÊN FB. 

Vui chút : SỐ ĐIỆN THOẠI -St trên FB.

 

SỐ ĐIỆN THOẠI 


Cuộc sống : CHUYỆN TỬ TẾ - Hiep Phan.

 



CHUYỆN TỬ TẾ

Tiệm sửa xe Hòa Bình nằm trên đường Quốc lộ 1, gần quán cháo lòng Huỳnh Của, ngay con dốc dẫn lên Trường TH Ngô Quyền_Biên Hòa (BH). Suốt những năm tháng cắp sách đến trường, ngày nào tôi cũng đi ngang qua nơi ấy.  

Đó chỉ là một tiệm sửa xe đạp, xe gắn máy cũ kỹ, chẳng có gì nổi bật giữa vô số tiệm sửa xe khác ở BH.

Điều còn ở lại trong ký ức tôi về tiệm nầy không phải là tấm bảng hiệu đã bạc màu, mà là một chiếc bơm xe lặng lẽ đặt trước cửa tiệm.

Chiếc bơm ấy dành cho tất cả mọi người. Không ai trông coi. Không ai thu tiền.

Chỉ cần bánh xe bị mềm, bất cứ ai, nhất là những đứa học trò, đều có thể dừng lại, tự lấy ra bơm đầy hơi, rồi tiếp tục đạp xe đi hết đoạn dốc còn lại để đến trường.

Nhiều năm sau, mỗi khi nhớ về tiệm Hòa Bình, điều hiện lên trong ký ức tôi vẫn là chiếc bơm ấy. Có những sư tử tế bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt như vậy, đến mức người ta dễ dàng đi ngang mà không nhận ra.

Sau năm 1975, cuộc sống còn nhiều thiếu thốn. Xe đạp là tài sản quý của nhiều gia đình, và cũng là phương tiện gắn bó với tuổi học trò của chúng tôi.

Tôi trở thành khách quen của tiệm từ những ngày ấy. Khi thì vá xe, lúc chỉnh niềng, thay sên, sửa thắng... Những hư hỏng từ chiếc xe cũ của tôi đều từng đi qua bàn tay người thợ nơi đây, với mức tiền công lúc nào cũng phải chăng.

Chủ tiệm là ông Hai. Mọi người gọi ông như vậy.

Không ai nhớ ông đã gắn bó với nghề từ bao giờ. Khi tôi biết ông, râu tóc ông đã bạc phơ, lưng đã còng và đôi bàn tay thì hằn kín dấu vết của thời gian. Tuổi cao khiến ông chỉ còn đảm nhận những việc nhẹ như vá xe, rút căm, chỉnh niềng… Những công việc nặng hơn, được giao lại cho người con trai.

Ông nói rất ít. Nhưng mỗi chiếc xe rời khỏi tiệm đều được ông gửi kèm theo một chút quan tâm. Khách của ông phần lớn là học sinh. Sau khi vá xong chiếc ruột xe, ông ít khi trao xe ngay. Ông thường kiểm tra lại thắng, ghi-đông, yên xe, pedal, dây sên... Chỗ nào lỏng thì siết lại, chỗ nào lệch thì chỉnh ngay. Ông chưa bao giờ tính thêm tiền. Có lẽ ông nghĩ rằng, nếu chỉ mất thêm ít phút để một đứa trẻ đến trường an toàn, thì vài phút ấy giá trị hơn bất kỳ đồng tiền công nào.

Một ngày đầu thập niên 1980s, khi đến tiệm để sửa chiếc xe đạp, tôi tình cờ chứng kiến một câu chuyện mà đến nay vẫn không hề quên.

Một em học trò dắt chiếc xe đạp đến để vá bánh trước. Quan sát kỹ, ông Hai thấy chiếc vỏ đã mòn đến rách tươm, phải lót thêm vài miếng cao su đệm bên trong. Đi như vậy không an toàn và rất dễ nổ bánh giữa đường.

Vào cái thời bao cấp đầy truân chuyên ấy, thay một chiếc vỏ xe mới là điều vượt quá khả năng của nhiều gia đình.

Ông nhẹ nhàng hỏi chuyện. Biết hoàn cảnh của em rất khó khăn, ông nói:

"Cháu đi chiếc vỏ này nguy hiểm lắm. Để ông tìm cho cháu cái khác."

Rồi ông chậm rãi đứng dậy, lui cui bước vào căn nhà phía sau, lục lọi một hồi rồi tìm được một chiếc vỏ xe cũ còn tạm dùng được, thay cho cháu và căn dặn:

“Chiếc vỏ xe này còn dùng tạm được một thời gian. Sau này nếu mòn nữa thì cứ mang đến đây. Ông sẽ tìm đổi cho cái khác. Đừng ngại. Ông không lấy tiền đâu. Chỉ cần cháu đi cho an toàn.”

Em học trò nhỏ lí nhí cảm ơn. Ông chỉ cười. Một nụ cười hiền như chính con người ông.

Có lẽ em học trò hôm ấy không biết rằng mình vừa nhận được một món quà còn lớn hơn rất nhiều một chiếc vỏ xe cũ. Đó là lòng tốt.

Nhiều năm đã trôi qua, hình ảnh người thợ già lặng lẽ bên những chiếc xe đạp vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức tôi. Ông không giảng giải về lòng nhân ái, cũng không nói những điều cao siêu. Ông chỉ sống tử tế, ngày này qua ngày khác, bằng chính đôi bàn tay đã chai sần vì năm tháng của mình.

Mỗi khi nhớ về ông Hai của tiệm sửa xe Hoà Bình, tôi lại nghiệm ra một điều.

Có những người cả đời không làm việc lớn lao. Họ chỉ lặng lẽ đặt một chiếc bơm miễn phí trước cửa, vá một chiếc ruột xe, chỉnh lại cây căm, thay giúp ai đó một chiếc vỏ xe cũ...

Nhưng chính những điều tưởng chừng như nhỏ nhặt ấy đã âm thầm gìn giữ niềm tin giữa con người với con người. Để những đứa học trò nhỏ năm nào khi lớn lên, vẫn tin rằng lòng tốt là điều có thật và không phải là điều hiếm gặp. Chỉ là nó thường chọn cách hiện hữu một cách âm thầm và lặng lẽ.

Giờ đây ông Hai cũng đã đi xa. Năm tháng rồi sẽ xóa mờ những con đường, những mái nhà, cả những tiệm sửa xe cũ.

Chỉ có điều tử tế là không bao giờ cũ. Nó lặng lẽ sống mãi trong ký ức của những người từng được nó chạm tới.

 HIEP PHAN.

 


Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

Hồi ức : CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ - Xuân Lan.

 




CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ ! 

Năm 1968 đoàn hát tại Quảng Ngãi ! Khán giả rất yêu mến chúng tôi nên đêm nào cũng đông ! Tôi được hát các vai đào nhì và kiêm luôn ca màn phụ diễn tân nhạc ! 

Câu chuyện bắt đầu từ một cô bé khoảng 12 tuổi ! Mình ko nhớ tên nó chỉ gọi là con NHỎ ẴM EM ! Nhỏ hay ẵm em lẩn quẩn vào rạp hát và đôi khi vô hậu trường chơi … Ko ai nói gì vì nhỏ cũng dễ thương vui vẻ ! Nhiều khi mình nhờ công việc lặt vặt nhỏ cũng giúp ! 

Một bữa NHỎ ẴM EM lại gần mình nói nhỏ … Chị ơi anh của em muốn làm quen với chị … ảnh mến mộ chị ca nhạc ảnh muốn mời chị sáng mai uống nước 

Tôi ngập ngừng .. thôi chị ngại lắm đi uống nước trong đoàn thấy ! Ko được ! 

NHỎ ẲM EM thuyết phục mãi …

Tôi đành nói thôi chị đi với Tuyết ( nhỏ bạn thân) mà đi gần gần ! Qua tiệm Hủ tiếu trước cửa rạp nhe ? 

Nhỏ có vẻ mừng lắm dạ được ! Sáng mai nha chị ! Em về báo tin ảnh biết ! 

Phần mình đi tìm Tuyết ! Tuyết ơi có người mời hai đứa mai qua tiệm Hủ tiếu bên kia đường ăn sáng ! 

Tuyết vui vẻ : Vậy hả ? Nhưng tao đi thì phải dẫn em tao theo á ! 

Tôi trả lời : Em mày đi ko lẽ bỏ em tao ở nhà ? Thôi cho 2 đứa đi luôn ! 

Vậy là buổi hẹn hò của Anh con NHỎ ẴM EM thành ..7 người ! Vì ngoài Tôi và Tuyết  là 4 người , NHỎ ẲM EM là 2 và Anh ấy  nữa là 7 !!!! 

Sáng hôm ấy chúng tôi qua tiệm trước ! Anh chàng bước vào trong bộ quân phục rất chỉnh tề ! NHỎ ẴM EM giới thiệu chị đây là Anh của em .. Tôi  hơi mắc cỡ … dạ chào anh ! 

Anh có vẻ hơi lúng túng và nhút nhát sao  sao ấy ! Các em ăn gì kêu đi ! Anh ngồi xuống đầu bàn khá xa tôi ! 

Tụi nhỏ bắt đầu nhao nhao … 

Tô hoành thánh mì đi ! 

Tui Hủ tiếu khô thập cẩm nghen 

Tui ăn hủ tiếu mì  …. Vv và vv . 

Tôi và Tuyết cũng kêu và bên kia NHỎ ẴM EM cũng ko vừa gì cũng vừa ăn vừa đút cho em ăn 

Ông chủ người Hoa tất bật lo nấu  phục vụ cho kịp !!!! Hình như mọi người đều quan tâm ăn uống và quên mất mục đích buổi gặp gỡ hôm nay 

10 phút sau mấy đứa tôi ăn xong tôi mới phát hiện một sự thật kinh hoàng ! 

Chủ nhân buổi tiệc này đã biến mất ! 

Và một nhân vật nữa ko kém phần quan trọng là NHỎ ẴM EM cũng mất tiêu rồi ! 

Tôi nhìn Tuyết : Vậy là sao ????

Tuyết nói : Tao hỏng biết !! 

Hai đứa em của tôi và Tuyết cùng đứng lên … Thôi tụi em dìa rạp ! ( biến ) 

Tôi hỏi Tuyết : Giờ sao ? 

Tuyết nhún vai  : Dễ thôi , hai đứa mình cưa hai ! Giờ xin ông chủ thiếu lát về rạp hát lấy tiền qua trả ! 

Tôi nói …. Ok vậy cũng được ! À mà sao anh đó chưa ăn mà bỏ đi đâu ? Cái tô còn nguyên kìa ! 

Lúc này Tuyết mới nhìn thấy cuối bàn một tô mì xá xíu còn nguyên chưa ăn tới nó liền bảo tôi … 

Hai đứa cùng chi trả chầu này thì còn tô mì này mình cưa đôi luôn cho đều đúng ko ? 

Đúng rồi ! Hai đứa ăn luôn đi để lại làm gì ! Chia luôn !kkkk

Khi hai đứa tôi vừa cầm đủa đưa vắt mì vô miệng thì …… ngoài sân bước vô là ..

Chàng đã xuất hiện ! Ui là trời !

Tôi đứng hình luôn ! Anh thì vui vẻ kêu ông chủ tính tiền đi ! 

Anh quay qua tôi cười  vả lả … mấy em ăn hết đi anh có việc bận lắm anh phải đi ngay nha ! Chào em ! 

Tôi ko biết cảm giác mình lúc đó ra sao ? Cái gì vừa xảy ra ở đây trong buổi sáng nay ? Mọi việc đưa đẩy câu chuyện hẹn hò đầu tiên của tôi và một cái kết thật kỳ cục ! Mà bây giờ nhớ lại vẫn còn xấu hổ ! 

Tối đêm đó NHỎ ẴM EM lại bồng em xuất hiện ! Nó nói nhỏ bên tai tôi ! Hồi  sáng anh của em đi cầm cái áo !!!!

Trời ! Vậy là sao ?

NGUYỄN THỊ XUÂN LAN ( FB )

Thơ: BÊN BỜ KÝ ỨC CŨ - Hong Khuu.

 



BÊN BỜ KÝ ỨC CŨ

_Tìm Một Chữ Quên_

Ta cúi xuống nhặt mùa xuân rất cũ

Từng cánh vàng héo rũ lối thời gian

Bình minh đây sao nắng đã úa tàn?        

Trên bến vắng con đò ngang vẫn đợi...


Quay nhìn lại lối xưa xa vời vợi

Đoạn không nhau tiếp nối mãi mùa Đông

Ngày trôi qua hư ảo cứ chất chồng

Vùng xưa cũ giờ rêu phong hoang phế


Mảnh tâm tư nông nổi buồn rướm lệ

Ướt đẫm rồi hồ dễ ráo được chăng

Đôi chân trần dù đi ngược ngàn năm 

Không làm ngắn khoảng thời gian đã mất


Lời ta gọi vang rền trên mặt đất

Xé hư không đánh thức cả muôn loài

Không làm sao gọi dậy được một người

Nằm yên giấc mặc cho đời ấm lạnh


Tay run rẩy ly rượu sầu sóng sánh

Uống mềm môi...giữ ảo ảnh đừng trôi

Trên đầu ta nghe sấm nổ vang trời

Như tiễn biệt một người vào xa khuất


Tuổi thanh xuân mang đoá tình hương sắc

Theo chân người đã lịm tắt từ lâu  

Đợi chờ chi dẫu có phải mưa Ngâu

Còn ai đứng ở giữa cầu Ô Thước?

HONG KHUU.

24/06/2026