LỜI THỀ HIPPOCRATES
Niên khóa 1969-1970, tôi học lớp 5 tại Trường Tiểu học Nguyễn Du, Biên Hòa.
Nhà tôi ở trên đường Trịnh Hoài Đức, không xa trường lắm, nên hằng ngày tôi đều đi bộ đến trường. Trên đường đi học, tôi thường đi ngang qua Bệnh viện Bác sĩ Phạm Hữu Chí. Sát bên bệnh viện là một tòa nhà hai tầng, phía trên có tấm bảng lớn ghi tên: Trường Tá viên Điều dưỡng Biên Hòa. Đây là nơi đào tạo điều dưỡng cho Bệnh viện Phạm Hữu Chí và các nơi khác trong tỉnh.
Một ngày nọ, sau khi tan buổi học sáng, tôi đi bộ về nhà. Khi đi ngang cổng Trường Tá viên Điều dưỡng, tôi thấy rất đông người đứng ngoài hành lang, dõi mắt nhìn về phía hội trường. Vì tò mò, tôi ôm cặp đi vào hành lang và nhìn vào bên trong.
Tôi rất ngạc nhiên khi thấy các cô chú học viên của trường mặc đồng phục áo blouse trắng, đội nón trắng. Mỗi người cầm trên tay một cây đèn cầy trắng đang cháy, đứng nghiêm trang hướng về một vị bác sĩ và đồng thanh đọc những lời gì đó mà lúc ấy tôi không hiểu.
Về nhà, tôi hỏi mẹ tôi và được bà giải thích: "Đó là các cô chú đang đọc lời thề Hippocrates. Đây là lời thề thiêng liêng của ngành y. Các cô chú ấy là những điều dưỡng đã hoàn tất khóa đào tạo và đọc lời thề trước khi chính thức bước vào nghề. Lời thề Hippocrates nhắc họ về trách nhiệm và đạo đức khi hành nghề sau này. Còn việc các cô chú cầm đèn cầy trên tay là tượng trưng cho ánh sáng của trí tuệ, của kiến thức và lòng từ bi khi chăm sóc bệnh nhân."
Sau này, khi tìm hiểu thêm, tôi được biết Bệnh viện Phạm Hữu Chí là một bệnh viện công lớn của tỉnh Biên Hòa. Đây là nơi bất kỳ bệnh nhân nào cũng có thể được tiếp nhận, chăm sóc và điều trị y tế vô điều kiện, hoàn toàn miễn phí, với cung cách phục vụ niềm nở, tôn trọng và ân cần của các bác sĩ cùng nhân viên y tế. Họ không hề hách dịch, cũng không gợi ý vòi tiền hay quà cáp từ người bệnh.
Có một lần, mẹ đưa tôi vào bệnh viện này để mổ vết thương ở lòng bàn chân do đạp phải gai nhọn. Tôi còn nhớ hôm ấy là phiên trực của bác điều dưỡng tên Hiếu. Bác vui vẻ, ôn tồn an ủi tôi hãy yên tâm, bác sẽ làm nhẹ nhàng, bảo đảm tôi sẽ hết đau và sớm đi lại bình thường. Các cô chú nhân viên cùng làm việc với bác tại phòng ngoại khoa cũng rất ân cần với bệnh nhân.
Tôi để ý, trong bệnh viện không thấy treo bất kỳ khẩu hiệu "Lương y như từ mẫu" nào cả. Nhưng cách phục vụ ân cần, tử tế của nhân viên nơi đây làm cho người bệnh cảm thấy ấm áp và gần gũi như trong gia đình.
Những năm đầu thập niên 1970, bóng dáng chiến tranh đã dần chạm tới Biên Hòa. Tỉnh lỵ nhỏ bé của tôi bị pháo kích triền miên. Một vài lần, tôi theo mẹ vào bệnh viện để khám bệnh. Tôi thấy không ít người dân bị thương tích bởi bom đạn. Phòng cấp cứu lúc nào cũng đông bệnh nhân, các bác sĩ và điều dưỡng luôn tất bật với công việc.
Nhưng khi để ý quan sát, tôi thấy thái độ của họ rất ân cần. Họ dùng lời nói dịu dàng, nhỏ nhẹ để an ủi và giải thích cho bệnh nhân. Tuyệt nhiên không có tình trạng thờ ơ, hách dịch hay gắt gỏng với người bệnh.
Ngày ấy, Bệnh viện Phạm Hữu Chí cũng có nhiều bác sĩ và điều dưỡng người Úc đến cùng điều trị, chăm sóc bệnh nhân. Họ cũng rất tận tụy với người bệnh. Một lần, tôi trực tiếp chứng kiến một cô điều dưỡng người Úc thay băng cho một ông cụ bị phỏng nặng, toàn thân co rút, vết thương lở loét. Ông cụ la hét đau đớn. Cô điều dưỡng ấy vẫn dịu dàng an ủi và chăm sóc ông tận tình, chu đáo như người thân.
Sau năm 1975, tôi quen biết một anh điều dưỡng làm việc trong phòng cấp cứu của một bệnh viện lớn tại Biên Hòa. Được biết, anh cũng là cựu học viên Trường Tá viên Điều dưỡng của Bệnh viện Phạm Hữu Chí.
Những năm đầu thập niên 1980, cả nước gặp nhiều khó khăn do bị quốc tế cấm vận. Thuốc men, trang thiết bị và dụng cụ y tế thiếu thốn trầm trọng. Tuy nhiên, số lượng bệnh nhân hằng ngày vẫn không hề suy giảm. Trong điều kiện thiếu thốn mọi thứ, anh bạn tôi cùng các đồng nghiệp luôn trăn trở tìm cách tận dụng và cải tiến những dụng cụ y tế sẵn có để phục vụ bệnh nhân tốt nhất.
Ngày ấy, kim chích không dùng một lần như hiện nay, mà được đun sôi hoặc hấp tiệt trùng để tái sử dụng nhiều lần. Khi có những giây phút rảnh hiếm hoi trong phiên trực, anh chăm chỉ mài số kim chích cũ cho sắc hơn, để bệnh nhân bớt đau đớn khi tiêm thuốc.
Ngoài giờ làm việc, anh nghiên cứu tài liệu và rảo quanh các chợ trời tìm phụ tùng, với hy vọng sửa chữa, phục hồi chiếc máy hút đàm bị hư. Vì thiếu chiếc máy này, nhiều bệnh nhân cấp cứu đã không qua khỏi cơn nguy kịch khi cần máy trợ giúp.
Có lần, một bệnh nhân bị phỏng nặng hai chân. Vết thương đã hoại tử và bốc mùi hôi thối. Nhiều nhân viên buồn nôn và bỏ cuộc khi phải chăm sóc bệnh nhân này. Trước tình hình ấy, anh cùng một cô điều dưỡng trẻ đã không ngại khó khăn, kiên nhẫn bóc tách, loại bỏ từng phần thịt bị hoại tử, bôi thuốc và băng bó vết thương cho bệnh nhân. Một thời gian sau, vết thương của người bệnh khô da và lành hẳn.
Có người hỏi anh: "Bộ anh chị không sợ hôi thối và gớm ghiếc khi trực tiếp chăm sóc vết thương kinh khủng như vậy sao?"
Anh vui vẻ trả lời: "Có sợ chứ, nhưng phải cố gắng thôi. Nếu mình sợ, hoặc tỏ ra gớm ghiếc, xa lánh, rồi làm sơ sài, thì sẽ làm cho người bệnh thêm buồn tủi, có khi còn nguy hiểm đến tính mạng. Họ đã đau đớn về thân xác lắm rồi, đâu thể đành lòng để họ bị tổn thương thêm về tinh thần nữa."
Đối với một vài người làm trong ngành y mà tôi từng biết, họ luôn xem người bệnh như người thân. Họ hết lòng chăm sóc bệnh nhân bằng tinh thần trách nhiệm, lòng trắc ẩn và sự chia sẻ không điều kiện, như lời họ đã từng hứa khi đọc lời thề Hippocrates trước khi chính thức dấn thân vào nghề nghiệp cao quý cứu người này.
Thỉnh thoảng, trong thực tế đời thường, tôi vẫn thấy không hiếm sự hiện diện của những thiên thần áo trắng như vậy. Họ có mặt để xoa dịu nỗi đau đớn vì tật bệnh của những bệnh nhân khốn khổ.
Nhờ có lời thề Hippocrates, đạo đức nghề nghiệp trong ngành y, tình người và lòng nhân ái đâu đó vẫn còn hiện hữu, vẫn còn tỏa sáng, chứ không hề mai một đi.
Bài của HIEP PHAN gửi chuyenxua đăng






















