Thứ Tư, 8 tháng 7, 2026

Thơ : NHỚ SÀI GÒN !- Hong Khuu.

 



NHỚ SÀI GÒN !

Từ dạo ra đi thương nhớ Sài Gòn

Nắng nơi ấy biết có còn rực rỡ

Trời có xanh như đã từng một thuở

Mưa có buồn trên phố nhỏ ngày xưa


Có còn không tiếng gà gáy ban trưa

Chiều hò hẹn có chợt mưa chợt nắng

Đêm trở giấc còn tiếng rao lanh lảnh

Tiếng chân khua trong thanh vắng dội về


Giờ Sài Gòn còn nồng nã bụi xe?

Khu ổ chuột đêm nằm nghe mì gõ

Bùi Thị Xuân quán xôi chè còn đó

Bến Bạch Đằng lộng gió lúc chiều rơi


Có còn không thương xá Tax một thời

Để hoài niệm mãi khung trời xưa cũ

Một mảnh vỡ đời trôi trong quá khứ

Mỗi đêm về thành nỗi nhớ không nguôi


Lúc nằm yên khi động đậy đâm chồi

Cho quay quắt một kiếp người viễn xứ

Nhấp vị cà phê đắng dòng tâm sự

Ta không về đành mang nợ người thôi


Xa thật rồi ...nhớ lắm Sài Gòn ơi!

Ngàn con chữ chẳng đủ lời diễn tả

Bước lưu lạc dắt ta qua muôn ngả

Men theo đời là tất cả nhớ thương


Có thể nào đi ngược đoạn sông buồn

Gánh thương nhớ qua mưa nguồn chớp bể

Đào ký ức tìm lại thời hoa lệ

Trăm năm về hoang phế với thời gian


Cũng đành cam cho số kiếp đa mang

Để mộng mị đổ tràn đêm hoài cổ

Sài Gòn đó một khoảng đời tuổi nhỏ

Đi bao xa cũng thương nhớ Sài Gòn

HONG KHUU. 

(Garland, 17/09/2025)

Qua rồi : CƠM KÝ TÚC XÁ - Hong Khuu.

 



CƠM KÝ TÚC XÁ

Hồi đó… lại "hồi đó"! Nghe riết muốn đập bàn, mà hễ mở miệng là nó chui ra trước. Chắc già thiệt rồi. Tuổi già kéo tới sầm sập như cơn giông tháng Bảy, biến thời gian thành ông già hàng xóm khó tánh, ngày nào cũng chống cây gậy tre gõ cộc cộc vô đầu tui mà càm ràm: "Ê, quay lại coi. Coi cái thời thanh xuân dữ dằn của mầy kìa!" Còn tương lai thì đứng tuốt tận chân trời, mỏng lét như làn sương trên sông Vàm Cỏ Đông, nhìn thấy vậy chớ với hoài không tới, cũng chẳng còn hứa hẹn được bao nhiêu. Thành thử, hễ lòng chùng xuống là tui lại lôi mấy chuyện cũ ra nhai như bò nhai cỏ khô. Nghe tưởng ngán, mà thiệt tình… ghiền dữ lắm. Người ngoài nghe chắc ngấy tới ót, còn với tui, mấy tuồng tích cũ kỹ ấy lúc nào cũng xanh rờn như đọt mồng tơi sau mưa, cứ ngọ nguậy hoài trong xó nhớ.

Vừa hé miệng là ký ức mở cửa cái rụp, kéo tay tui leo lên chiếc xe đò chạy bằng nỗi nhớ. Không cần xăng, không cần vé, chỉ cần trái tim còn biết nhớ là xe chịu nổ máy. Chiếc xe cà tàng lóc cóc ngược dòng năm tháng, bánh xe kêu két két như than thở vì già, băng qua những mùa mưa đã tạnh, những mùa nắng đã xa, rồi dừng ngay cái ngày hôm qua còn thơm mùi khói bếp, còn ấm hơi người, còn văng vẳng tiếng ai cười phía sau lưng. Thiệt ra, muốn về tuổi thơ đâu cần mua vé. Tui đi bằng câu chuyện, đi bằng nỗi nhớ, đi bằng những điều tưởng đã quên mà chưa bao giờ chịu mất. Trên con đường đó, tui gặp đủ kiểu người. Người bể nát như cái chén sành rớt xuống sân gạch. Người trầy trụa như trái xoài bị gió quật. Nhưng kỳ lạ lắm, trong đống mảnh vỡ của số phận, lúc nào cũng còn sót lại vài mảnh sáng, đủ để mình cúi xuống nhặt lên, lau sạch bụi đời rồi cất kỹ làm vốn liếng mang theo tới cuối cuộc đời.

Nhớ tới đó là ruột gan cồn cào. Nhớ cái thời sinh viên nghèo rớt mồng tơi, đi học mang theo cả bầu trời ước mơ, còn cái bụng thì rỗng tuếch, đánh trống còn đều hơn đội nghi thức. Trưa trưa, tiếng kẻng tan trường vừa boong một cái là mấy cái bao tử đồng loạt biểu tình, réo còn xôm hơn đám con nít thấy mẹ xách bịch bánh đi chợ về.

Bữa cơm ký túc xá nằm khiêm tốn trong cái dĩa nhôm móp méo, đen thui như cái đít nồi nội kho cá ở quê. Món chính thì quanh năm suốt tháng là tà hủ. Ăn riết tưởng mình đang tu khổ hạnh để sớm thành chánh quả. Hoạ hoằn lắm mới có một bữa cơm có thịt vào ngày học sinh, sinh viên mùng Chín tháng Giêng. Tin đó lan nhanh hơn gió. Đứa nào cũng ôm phiếu ăn chạy như sợ chậm một bước là con heo đổi ý. Thịt thì quý như vàng, ai cũng ráng dành lại bữa sau. Mà hồi đó làm gì có tủ lạnh. Mấy miếng thịt cứ thản nhiên nằm chung với không khí. Vậy mà lạ nghen, tui với đám bạn chung phòng hổng đứa nào bị Tào Tháo rượt. Không biết nhờ hên, nhờ bao tử gan lì, hay nhờ tuổi trẻ lúc đó nghèo tới mức vi trùng cũng thấy... tội nghiệp.

Lên căng tin, đứa nào cũng phải thủ sẵn cây muỗng. Quên đem theo thì chỉ còn nước luyện tuyệt kỹ "ngón diệu thủ". Đám con gái vừa ăn vừa lom khom đãi thóc, lựa từng hột cơm lẫn sạn, y chang Lọ Lem lựa đậu cho dì ghẻ. Chỉ khác là Lọ Lem còn có chim sẻ phụ, còn tụi tui chỉ có mấy cái bụng đói meo mốc mỏ làm cổ động viên. Mấy ông con trai thì khỏi nói. Thóc, sạn, cơm... vít đại. Lỡ cắn trúng cục sạn nghe "cốp" một cái cũng tỉnh bơ, coi như hôm đó... bổ sung thêm chất khoáng. Đói thì đói, chớ óc hài hước tuyệt đối không chịu suy dinh dưỡng. Người ta tức cảnh sinh tình, còn tụi tui tức mình sinh nói bậy. 

Rồi "kiệt tác" truyền miệng ra đời, bẻ cong bài Thu Điếu của cụ Nguyễn Khuyến thành bản trường ca của cái bao tử:

Tô canh lạnh lẽo nước trong veo

Chiếc lá mồng tơi bé tẻo teo

Cơm nhai với sạn nghe rào rạo

Vít sạn thóc ra, đánh cái vèo!

Giờ nghĩ lại vẫn thấy mắc cười. Đám sinh viên ngày đó chưa kịp học hết cái khổ đã học xong cách cười với cái khổ. Không phải vì đời dễ, mà vì nếu không cười thì nước mắt chắc cũng đủ nấu thêm nồi canh mồng tơi.

Nhưng cười đâu có nghĩa là đời chịu thương mình.

Thi đậu đại học đã trầy da tróc vảy. Học cho xong còn trầy vi tróc vảy hơn. Đến lúc ôm tấm bằng đi xin việc mới biết đó mới là cửa ải cuối cùng. Tui đây, đường đường cử nhân, tay nâng cái bằng đại học còn thơm mùi mực, lòng ôm đầy mộng tưởng. Sau bao ngày gõ cửa khắp nơi, cuối cùng cũng được nhận vô làm... nhân viên vệ sinh của một khách sạn năm sao.

Ờ, vậy đó.

Đời nhiều khi khoái chơi chữ lắm. Đang bay thì kéo xuống. Đang cười thì chọt cho khóc. Đang mơ thì lay cho tỉnh. Ngày đầu tiên cầm cây lau nhà đi giữa đại sảnh sáng choang, tui thấy cái bóng mình phản chiếu trên nền gạch còn rõ hơn cả tấm bằng cất trong ngăn tủ. Cây lau quét bụi dưới sàn, mà cũng quét luôn chút tự ái non nớt còn sót lại của tuổi trẻ. Hôm đó, tui mới hiểu: mình học để làm người, còn đời dạy mình làm lại. Tấm bằng đâu có vô dụng, chỉ là nó chưa gặp đúng cánh cửa dành cho mình.

Giờ ngồi kể lại, tui không còn thấy tủi nữa, chỉ thấy thương. Thương cái con nhỏ ngày xưa vừa đói, vừa mệt, vừa té đau mà vẫn ráng đứng dậy, phủi quần rồi đi tiếp. Thương những bữa cơm nhiều sạn hơn thịt, nhiều tiếng cười hơn nước mắt. Và thương cái cuộc đời lạ lùng, lúc tưởng mất là đang được, lúc tưởng thua là đang học, lúc tưởng đi lạc thì hóa ra lại tìm thấy chính mình.

Bởi vậy, tui kể hoài kể mãi không phải để khoe mình từng khổ, mà để nhắc lòng rằng ai rồi cũng có một thời phải lượm từng mảnh đời bể nát mà vá lại thành cuộc sống. Điều kỳ diệu không nằm ở chỗ mình chưa từng vỡ, mà là sau bao nhiêu lần nứt toác, mình vẫn còn đủ sức ngồi đây, cười một cái rồi kể tiếp.

Còn bà con thì sao? Trong đời, có cú đau nào từng quật mình té muốn gãy sống lưng, để bây giờ mỗi lần nhắc lại, miệng cười trước... rồi mắt mới kịp cay sau?

HONG KHUU.

Tản mạn : HÀO SẢNG MIỀN NAM - Lữ Minh Trí.

 


HÀO SẢNG MIỀN NAM 

(... Tôi chả thấy dân Nam hào sảng gì cả, có được cho, được nhận gì bao giờ đâu ! )

Khi đọc những dòng bình luận về sự hào sảng ở trong Nam, tôi khá buồn và nghĩ có lẽ bạn đang nhìn sai thước đo.

Bạn đang nhầm giữa hào phóng và hào sảng. 

Có những thứ không thể “thấy”, “nhận” theo kiểu thông thường. Nhiều khi phải sống cùng, đi qua vài chuyện, rồi mới cảm được.

Khí chất hào sảng Nam Bộ không chỉ ở tiền.

Ở Sài Gòn, ở miền Tây, nhiều khi nó là không khí.

Một ngày nọ, tôi ngồi ở Starbucks trên đường Nguyễn Thị Minh Khai. Nếu bạn chưa biết thì ở chỗ đó, quán không nhận tiền mặt. Có một cụ lớn tuổi đứng loay hoay muốn mua chút đồ, nhìn có vẻ là mua quà cho con cháu. Cụ lựa rất lâu, trầm ngâm tới lui, cuối cùng cũng ưng được hai món.

Tới lúc thanh toán mới kẹt. Cụ chỉ có tiền mặt, mà quán không nhận tiền mặt. Tôi thấy vậy nên bước tới, nói để cháu quẹt thẻ giúp, cụ đưa lại tiền mặt cho cháu là được.

Chuyện nhỏ thôi, không có gì đáng kể. Nhưng lúc đó, tự nhiên trong tôi bật lên rất nhiều chuyện cũ, như có ai khều nhẹ vô một cái ngăn ký ức đã lâu không mở.

Hồi nhỏ, tôi từng đi học trên những con đường đất sét ở một vùng quê nghèo. Mùa mưa, nước ngập tới đầu gối. Sáng đi rất sớm, chiều về nếu ba mẹ không đón được thì hai chị em cứ đi bộ mấy cây số về nhà. Trên đường thấy cô chú nào chạy ngang, tôi lại học lỏm một câu cửa miệng:

Cô ơi, chú ơi, cho con có giang (quá giang) về nhà.

Đa phần người ta đã chạy huốt qua (chạy lố) rồi mới dừng lại, quay đầu nhìn lại rồi kêu: Lên xe đi con.

Có khi họ chở một đoạn. Có khi không tiện thì thôi. Nhưng chỉ cần một người dừng lại, đoạn đường sình lầy hôm đó tự nhiên ngắn hơn rất nhiều.

Năm tôi mới lớp 3, mẹ tôi bị tật đãng trí đã lâu. Có hôm đưa hai đứa con đi học xong, mẹ quên mất chuyện phải đón. Hai đứa nhỏ cứ đinh ninh rằng mẹ sẽ lấy xe đạp ra rước, nên ngồi đợi miệt mài.

Tới tối khuya, ba tôi đi làm về hỏi: Con đâu em?

Cả nhà mới tá hỏa, hai đứa nhỏ vẫn còn ở trường.

Lúc đó trường đang xây mới mấy dãy phòng. Mấy chú thợ hồ thấy hai đứa nhỏ ngồi đợi tội quá, mới lôi vô căn tin, kêu bà chủ nấu cho hai gói mì con tôm. Các chú định trả tiền, mà bà chủ căn tin cũng không lấy, nói coi như cho con cháu trong nhà ăn.

Hai gói mì con tôm hồi đó, tính bằng tiền thì không đáng bao nhiêu. Nhưng với hai đứa nhỏ ngồi trong một cái trường vắng, chờ hoài không thấy ai tới đón, nó lớn hơn rất nhiều so với giá tiền của nó.

Nó làm mình nhớ hoài.

Tôi hay ăn cơm Má Tư ở Trần Cao Vân. 

Tôi gọi má, gọi tía, vì thật sự không khác gì ăn cơm nhà. Nhiều người đi cùng tôi chắc sẽ thắc mắc, sao đi ăn quán mà gọi thân như vậy. Nhưng nếu họ ngồi đó đủ lâu, ăn vài bữa, nghe vài câu chuyện, họ sẽ hiểu.

Có lần tôi ăn cơm gặp mưa, má Tư nói:

Đi vô trong xếp mấy cái ghế lại nằm ngủ trưa tí đi con. Mưa đầu mùa đi mắc mưa là bịnh nha con.

Vậy là tôi ăn cơm xong, vô trong quán xếp ghế nằm ngủ quên luôn tới chiều. Quán mát, trời mưa lả tả, mà tôi thì mất ngủ kinh niên, gặp bữa ngủ được là ngủ sâu. Buồn ngủ gặp chiếu manh.

Nghe rất khó tin, nhưng với tôi lại rất bình thường. Có những chỗ ở Sài Gòn không chỉ bán cho mình một dĩa cơm. Nó cho mình một chỗ để ngồi xuống, nghỉ ngơi, thấy mình không phải người khách lạ.

Ở Sài Gòn, chuyện ăn cơm, uống cà phê xong phát hiện có ai đó đã trả tiền giùm mà mình không biết là ai, cũng không phải chuyện lạ. Tôi từng gặp nhiều lần, và nhiều khi chính tôi cũng làm vậy. Không phải để ai mang ơn. Nhiều khi chỉ thấy hạp thì làm, thấy người ta vui thì mình vui thôi.

Có lần tôi đi ăn bún riêu ngoài Hồ Con Rùa, gần đó có một nhóm anh em thợ xây dựng đang sửa công trình. Trong nhóm có một anh dẫn theo đứa con trai nhỏ đi phụ, nhìn rất tội. Ăn xong, mấy anh gọi tính tiền thì quán nói bàn kia đã thanh toán hết rồi, có để lại lời nhắn: Trả tiền cho thằng cháu nội.

Anh có con nhỏ ngơ ngác hỏi:

Ủa, tui có quen ai đâu mà được tính tiền giùm, thằng cháu nội nào vậy? thằng con tui hả? Ba tui đi bán muối lâu rồi.

Rồi cả nhóm cười khà khà, kiểu cười rất miền Nam. Vui vì cái sự dễ thương ngang hông đó.

Người trả tiền chắc cũng đi mất rồi. Không để lại tên, không cần ai mang ơn. Chỉ có cái câu “thằng cháu nội” ở lại, nghe vừa mắc cười, vừa thương, vừa rất Nam Bộ.

Miền Tây còn rõ hơn nữa. Bạn lỡ đường, ghé đại một nhà xin miếng nước, xin nghỉ nhờ một lát, nhiều khi người ta không hỏi bạn là ai trước, mà hỏi bạn ăn cơm chưa. Cái bụng người miền Tây nhiều khi vậy đó, rộng như cái sân trước nhà, có gì dọn nấy, không giàu cũng không để khách đứng ngoài mưa.

Người xưa nói người Gia Định trọng nghĩa khinh tài. Hồi nhỏ đọc mấy chữ đó tôi thấy xa lắm, tưởng là chuyện trong sách. Lớn lên mới hiểu, có những câu không phải tự nhiên mà sống lâu. Nó sống được vì vẫn còn nằm trong cách người ta đưa cái ly nước, dọn thêm chén cơm, quay đầu xe giữa đường, nấu hai gói mì cho hai đứa nhỏ ngồi đợi mẹ.

Còn ai hỏi hào sảng, khảng khái có từ khi nào, chắc phải hỏi cụ Nguyễn Đình Chiểu, người sinh ra ở đất Gia Định. Cú phán của cụ trong Lục Vân Tiên, tới giờ đọc lại vẫn nghe như một tiếng chân bước thẳng vô chuyện bất bình:

Vân Tiên ghé lại bên đàng,

Bẻ cây làm gậy nhắm làng xông vô.

Không cần nhiều lời. Thấy chuyện không đành lòng thì ghé lại. Có cây thì bẻ cây, có tay thì đưa tay, có một bữa cơm thì mời ăn một bữa cơm.

Cái hào sảng đó không nằm ở chỗ người ta có dư bao nhiêu để cho, bao ai ăn uống. Nó nằm ở chỗ, trong khoảnh khắc thấy người khác bị kẹt, người ta không nỡ để mặc.

Nó cũng khác với câu “lá lành đùm lá rách”.

Lá lành đùm lá rách là một đạo lý đẹp, nhưng trong đó vẫn có hình ảnh người còn lành che cho người đang rách, người có điều kiện hơn đỡ người khó hơn.

Còn hào sảng miền Nam nhiều khi không đặt ai ở trên, ai ở dưới. Nó không cần người kia phải khổ tận cùng mới giúp, cũng không cần người giúp phải dư dả gì. Thấy người ta kẹt thì gỡ giùm một chút, thấy thương thì làm, thấy hợp bụng thì đãi, làm xong cười khà khà rồi thôi.

Người được giúp không thấy mình bị ban ơn, người giúp cũng không thấy mình đang làm chuyện tốt chuyện lớn lao.

Cái hay nằm ở chỗ đó.

Trong người tôi là những ký ức của một đứa nhỏ từng được rất nhiều người lạ chìa tay ra. Một đứa nhỏ từng đứng bên đường sình lầy xin quá giang, từng ngồi trong trường vắng tanh ăn hai gói mì con tôm, từng ở những quán cơm mà chủ quán xem mình như con cái, từng thấy có người trả tiền bữa ăn rồi đi mất, không để lại cái tên nào cho mình mang ơn.

Thành ra sau này, khi thấy ai đó đang kẹt, tôi hay bị một cái quán tính rất lạ: đưa tay ra trước rồi tính sau.

Có lẽ hào sảng miền Nam là vậy.

Nó không ồn ào như một bài học đạo đức, cũng không sang trọng như một lời tuyên bố về lòng tốt. Nó giống hơi nước trong một căn bếp đang nấu cơm, không ai chỉ vô đó để khoe, nhưng bước vô là thấy ấm.

Hào phóng là rộng tay. Hào sảng là rộng lòng, rộng bụng, rộng cái khí chất của con người.

Vậy nên tiền bạc, vật chất chưa bao giờ là thước đo đúng nghĩa cho hai chữ hào sảng.

Hào sảng miền Nam, rốt cuộc, không phải là mình có bao nhiêu tiền, có cho ai cái gì không.

Mà là tới lúc người khác bị kẹt, chuyện đưa tay ra

mình thấy nó như chuyện tất yếu, như cần không khí để thở.

Bài này tôi chỉ viết từ một góc nhìn hẹp câu chuyện thật của một người Sài Gòn.

Tôi cũng có một người anh, cũng là người thầy, giai Hà Nội. Mỗi lần tôi ra ngoài ấy, hễ nói thuê hotel ở là bị mắng liền: “Ra nhà anh mà ở, mày dở hơi à?” 😊 

Rồi có cu em cũng dân Hà Nội, biết tôi thích uống nước “đẹp”, nó đem từ tận ngoài đó vào biếu một hũ sấu ngâm. Tôi hỏi: “Bộ trong đây không có hả?” 

Nó nói: “Làm sao ngon bằng em đem tận gốc vô biếu anh được.” 

Nên tôi nghĩ cái tình, cái nghĩa, cái sự rộng lòng thì vùng nào cũng có. Bài này chỉ là một lát cắt nhỏ về cái không khí tôi đang sống và cảm nhận ở Sài Gòn.

Những bình luận thô tục và thiếu chiều sâu, trải nghiệm hẹp nhưng thích quy chụp rộng sẽ được mời đi. Nhìn một góc rất hẹp vui lòng đừng nói lớn 👍

LỮ MINH TRÍ (FB)