Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

Hồi ức : VỀ LẠI CON ĐƯỜNG XƯA MÁU LỬA - Nguyễn Ngọc Luật.

 



(CÓ NHỮNG NGÀY KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

Người ta thường nói hãy quên đi quá khứ để sống an nhiên trong hiện tại. Xét chung chung thì ta thấy khá đúng, vì nếu một người cứ bị ám ảnh bởi quá khứ và luôn đắm chìm trong quá khứ thì người đó sẽ đánh mất cuộc sống hiện tại.

Thế nhưng một sự kiện trong quá khứ mà chính nó đã làm đảo lộn số phận của hàng triệu người, của cả một gia đình và quan trọng nhất là nó làm thay đổi số phận của chính mình thì dù bao nhiêu năm tháng đi qua nhưng cũng khó mà quên đi được!

Tôi muốn nhắc lại những ngày tháng Tư định mệnh, nó không phải là ngày 30/4/75 mà nó là những ngày 26,27,28,29,30/4/72. Những ngày đau thương đối với dân Quảng Trị, cũng là những ngày tạo nên một tên đường đi vào lịch sử: ĐẠI LỘ KINH HOÀNG của một: MÙA HÈ ĐỎ LỬA. 

Bài bút ký này tôi viết khá lâu và đã đăng lại nhiều lần, nhưng cứ mỗi lần tháng Tư, quá khứ đau thương lại ùa về và  tôi lại muốn đăng thêm lần nữa, như là hoài niệm về ký ức đau buồn của một thời tuổi trẻ, bài bút ký có tên) :


VỀ LẠI CON ĐƯỜNG XƯA MÁU LỬA. 


Sau năm 1975 theo cuộc thế nổi trôi, dòng đời phiêu bạt, bỏ quê hương để đi biền biệt, tôi lênh đênh trôi dạt về tận miền Đông Nam Bộ làm thân kẻ xa xứ. Dòng sông tuổi thơ, mảnh vườn có hoa cải vàng mùa xuân, có hương hoa sầu đông thoang thoảng trong đêm trường lạnh giá, có mái tranh nghèo ấp ủ những năm tháng hoa niên, có cánh đồng lúa xanh rờn lộng gió, có cánh diều tuổi thơ bay cao trên nền trời xanh ngắt…Tất cả chỉ còn là ký ức mù sương, tất cả chỉ còn là kỷ niệm nhạt nhòa trong tâm trí. Gần hết cuộc đời tôi sống tha hương giửa đất phương Nam hai mùa mưa nắng. Có những trưa hè oi ả nơi xứ người chợt nhớ da diết tiếng kẻo kẹt võng đưa, tiếng ru à ơi ngọt ngào của mẹ, tiếng chim rồng rộc ríu ra ríu rít trên đọt tre già nơi lũy tre sau vườn. Có những đêm đông bình yên, ấm cúng ở đất phương Nam mà nhớ những ngày đông tháng giá gió rít từng cơn, mưa rơi rã rít trên mái tranh nghèo một thời xa lắc…Những âm thanh, hình  ảnh của quá khứ hầu như đã chất đầy trong tiềm thức có dịp là bùng phát mãnh liệt khiến lòng tôi cảm thấy ray rứt không yên. Tôi tự nhủ với lòng phải về thôi, dòng sông quê, con đường làng rợp bóng tre xanh nơi chôn dấu biết bao nhiêu kỷ niệm một thời thơ ấu đang chờ đợi bước chân tôi về.

Mùa hè năm nay thầy trò trường Nguyễn Hoàng tổ chức họp mặt kỷ niệm sáu mươi năm thành lập trường, thế là bạn bè từ quê nhà liên tục réo gọi, tình quê thôi thúc. Lại thấy đường đời của mình cũng đã xế bóng, cơ hội về quê không nhiều nên mặc dù nợ áo cơm luôn đeo đẳng không rời, tôi vẫn sắp xếp một chuyến về. Tôi xem chuyến về này như là một chuyến hành hương về đất Tổ, thế nên từ phương Nam tôi quyết định xuống xe tại Huế và ghé nhà đứa con gái đang sinh sống tại đây mượn chiếc xe máy để về quê.

Đoạn đường Huế-Quảng Trị dài 60km là một con đường ghi nhiều kỷ niệm, ghi dấu thời thơ ấu của tôi, vui có, buồn có, êm đềm cũng có mà kinh hoàng cũng có,  nên có dịp đi lại con đường xưa một mình một ngựa trên chiếc xe máy tà tà ngắm cảnh vật hai bên đường khiến tôi thấy thú vị làm sao! Thời tiết quê nhà tháng sáu nắng nhạt nhưng hơi oi bức, gió chiều nhè nhẹ. Cho dù nhà cửa, phố xá hai bên đường so với ngày xưa đã khang trang hơn nhiều nhưng đã quen với cảnh phố xá tấp nập, xe cộ ngược xuôi chen nhau trên đường của những thành phố phương Nam nên tôi vẫn cảm thấy đường sá xe cộ có phần  thưa thớt, nhịp sống hình như chậm rãi và có phần uể oải, nét đặc thù của các tỉnh nhỏ  miền Trung.

Càng đi ra càng thấy cảnh vật hoang sơ hơn, nhà cửa thưa thớt, tuềnh toàng không dấu được cái nghèo khó đang ngự trị nơi đây. Qua khỏi địa phận tỉnh Thừa Thiên, qua khỏi những  khu nhà tương đối sầm uất, nhộn nhịp là đến vùng hoang hóa với những  cồn cát chạy dài, cây cối khô cằn, còi cọc, ngoại trừ những đám bạch đàn, dương liễu do người trồng và chăm sóc còn lại hầu hết là cây xương rồng, sim, móc và những cây cối mọc hoang dại. Người ta nói dân Quảng Trị thật thà chất phác, thật quá đúng! Thật thà đến nỗi không biết dấu cái nghèo cái khó của xứ sở mình mà đem trình nó ngay trên đường quốc lộ  cho bàn dân thiên hạ biết. Những khách phương xa có dịp đi ngang qua địa phận tỉnh Quảng Trị nhìn thấy cảnh vật hai bên đường chỉ thấy toàn là cát với cát chạy dài ngút mắt đều chép miệng than.

 - Đất đai cằn cổi như thế này không biết người dân Quảng Trị làm gì mà sinh sống!?

Hoặc chí ít họ cũng nghĩ rằng đất đai khô cằn sỏi đá như thế thì dân Quảng Trị nghèo là phải!

Tôi qua khỏi cầu Bến Đá thì trời đã về chiều, thời tiết có phần mát mẻ hơn, nắng chiều nhạt nhòa trùm lên cảnh vật, gió hiu hiu thổi, một miền quê yên ả, thanh bình khá tỉnh lặng. 

  Thế nhưng đi lại trên đoạn đường này những hồi ức xa xưa chợt về, lòng tôi bổng cảm thấy trào dâng một nỗi buồn, một nỗi lo sợ mơ hồ phủ kín tâm hồn. Chao ôi! Đoạn đường này bốn mươi năm về trước vào những ngày tháng Tư của “mùa hè đỏ lửa” tôi cũng như biết bao nhiêu người dân Quảng Trị đã vượt qua với nỗi kinh hoàng cùng cực. Vào những ngày mà bom đạn chiến tranh, chết chóc đã áp sát vào thị xã thì người dân Quảng Trị vội vàng rời bỏ nhà cửa thu dọn của nả để chạy vào Huế lánh nạn, chúng tôi đã chạy qua một quãng  đường ngắn trong lằn đạn pháo từ những làng mạc hai bên đường bắn ra xối xả. Người chết nằm la liệt, người bị thương rên la thảm thiết, người còn sống thì chạy thục mạng về phía Thừa Thiên, sự hoảng loạn, kinh hoàng cùng cực khiến ai cũng lo chạy tháo thân, mặc cho những tiếng kêu cứu của những người bị thương, mặc cho những đứa bé ngơ ngác kêu khóc bên xác mẹ. Sau này khi cuộc sống tạm thời ổn định trong trại tạm cư ở Đà Nẵng những hình ảnh kinh hoàng của con đường đầy máu lửa cứ ám ảnh mãi trong tâm trí. Tôi đã viết trong nhật ký:

“… Trên đường lánh nạn hình ảnh cảnh loạn ly làm tê tái lòng người, từng đoàn người, từng đoàn xe tấp nập di chuyển trên đường quốc lộ 1 đông nghịt dài mấy cây số. Nào người đi bộ, người bồng bế, gồng gánh và đủ thứ xe cộ chen chúc nhau. Xe hàng thì chất đầy của cải và người ta bu kín ngoài bàn đạp, ngồi trên mui, xe máy chở ba, bốn người, xe xích lô chất đầy người với rương hòm, giỏ xách, xe đạp chở hai, ba người ì à ì ạch tiến lên phía trước. Tất cả tạo thành một khối hổn loạn di động trên con đường nhựa nóng bỏng. Đàng sau về phía thị xã và vùng ven là những đụn khói đen cao ngất trời, những tiếng nổ ầm ầm của đại bác, những tràng liên thanh của súng máy nghe vang rền khiến cho lòng người thêm hoảng loạn. Đoàn người đông như kiến cỏ đó khi vào tới khỏi cầu Dài ngang địa phận xã Hải Trường (Đoạn đường dài mấy cây số sau này được đặt một cái tên nghe khủng khiếp: Đại Lộ Kinh Hoàng) thì chựng lại vì tiếng súng ở các xóm ven lộ bắn ra. Rồi thì cảnh náo loạn xảy ra, xe cộ tăng tốc phóng tối đa về phía trước, còn người thì ba chân bốn cẳng chạy bán sống bán chết, họ vất hết gồng gánh, bao bì để chạy. Cảnh tượng thật là hổn loạn, xe cộ chà lên người, người đạp lên người, mạnh ai nấy chạy về phía trước, ai chết nằm đó, ai bị thương kêu la cũng mặc, người ta lo cho mạng sống của mình và bỏ mặc họ cho số phận. Đoạn đường từ Quảng Trị vào Huế chỉ 60km mà chúng tôi đi suốt ngày mới tới, bằng mọi cách đu lên xe nào có thể đu được, xe hàng, xe nhà binh, xe tải…bất kỳ xe nào cũng lên đại, cuối cùng thì chúng tôi cũng vào đến Huế vào lúc 6giờ tối thành phố đã lên đèn…”

Một ngày sau đó thị xã Quảng trị chìm trong lửa đạn và những người dân còn lại vội vàng bồng bế nhau chạy vào Huế. Nhưng quốc lộ 1 đã bị khóa chặt, tại cầu Dài đến cầu Bến Đá bom đạn liên hồi nổ trên đường, người chết trên đường như rạ, một đoàn xe của bệnh viện Quảng Trị chở bệnh nhân lánh nạn đi ngang qua đã bị bắn cháy người trong xe dù người lành hay người bệnh cũng đều bị chết hết. Số người còn kẹt lại phía Quảng trị đã bỏ quốc lộ 1 chạy xuống đường làng theo ngả làng Thanh Hương để vào Thừa Thiên rồi vào Huế (tôi có một người chị chạy theo đường nay mấy ngày sau mới vào tới Huế, tả tơi, rách nát, kiệt sức phải vào nằm bệnh viện).

Nỗi ám ảnh về “Đại Lộ Kinh Hoàng” như một vết dao cắt sâu vào tim tôi, nó cứ hiển hiện trước mắt mỗi khi tôi nghĩ đến. Hình ảnh người chết, bị thương la liệt trên đường, đứa bé bơ vơ hoảng loạn bên xác người mẹ đã chết trên vũng máu cứ đeo đẳng tôi hoài. Những ngày tháng sống ở trại tạm cư Đà Nẵng tình cờ tôi có đọc được một bài thơ của tác giả Nguyễn Khắc Linh Vũ đăng trên báo Chiến Sỹ Cộng Hòa, bài thơ thật cảm động tôi đã chép vào nhật ký của mình. Bài thơ có tên:

 CHO EM BÉ MIỀN TRUNG

 Em bé miền Trung ơi!

 Chiều buông nắng tắt

 Em về đâu bom đạn ngập trời rơi.

 Em về đâu giữa những lớp xác người

 Bên những đống sắt mang tên từ phương trời xa lạ.

 Em bé miền Trung ơi!

 Gió lùa lên thật lạnh

 Em về đâu mà mà ánh mắt ngu ngơ

 Đạn dưới chân đi sao em mãi chần chờ

 Hay em thấy đằng kia chiếc cầu đã gãy?!

 Em bé miền Trung ơi!

 Em về đâu? Về đâu? Bốn bề rực cháy

 Cháy từ La Vang, Thạch Hãn, Nhan Biều

 Cháy trên Hồ Đắc Hanh, cháy về “Dãy phố buồn thiu”

 Sao em không khóc mà ngước nhìn ngơ ngác

 Em bé miền Trung ơi! 

 Nắng vàng kia đã tắt

 Bên xác mẹ nằm nhuộm máu cong queo

 Bên xác xe tăng mang tên từ phương trời xa lạ.

 Đêm hãi hùng…

 Trên đất chết…

 Em về đâu? Về đâu? Em bé miền Trung?!

          (Nguyễn Khắc Linh Vũ)

Tôi không quen  biết tác giả Nguyễn Khắc Linh Vũ, không biết anh có chứng kiến cảnh tượng thảm khốc trên “Đại Lộ Kinh Hoàng” ngày ấy không mà sao thơ anh như người trong cuộc, đau khổ, xót xa, tội nghiệp biết bao nhiêu cho thân phận những người dân vô tội, những em bé ngơ ngác bên xác mẹ nằm chết cong queo khi hoàng hôn buông xuống trên “Đại Lộ Kinh Hoàng”, một hình ảnh đau thương của cuộc chiến tranh tàn khốc trên quê hương. Cám ơn anh Nguyễn Khắc Linh Vũ đã chia sẻ nỗi khổ, niềm đau của người dân Quảng Trị thuở loạn ly, thơ anh tôi đã trân trọng cất giữ trong nhật ký đã bốn mươi năm nay đọc lại vẫn thấy cảm xúc dâng trào, xót xa, ngậm ngùi…

 Năm 1974 tại nơi đây đã tổ chức một lễ đại trai đàn chẩn tế, bạt độ cầu nguyện cho những oan hồn đã ngã xuống trên “Đại lộ Kinh Hoàng” và cũng đã dựng một đài tưởng niệm mang tên “Chiêu Linh đài” có tượng Bồ Tát Địa Tạng tay cầm hạt minh châu, tay cầm thiền trượng đứng cứu vớt những sinh linh vô tội thoát khỏi cảnh giới tối tăm, địa ngục, ngạ quỷ vất vơ vất vưởng để vãng sanh về miền tịnh cảnh. Không ai biết chắc hiệu quả của sự cầu nguyện như thế nào nhưng tôi nghĩ một lễ đại trai đàn hoành tráng được tổ chức với sự nhất tâm cầu nguyện của hàng ngàn người như thế, một đài tưởng niệm được dựng lên cũng phần nào làm ấm lòng những linh hồn vô tội đã ngã xuống trên đoạn đường này!

Tôi dừng xe lại bên đường trước “Chiêu Linh đài” không có một nén nhang để đốt lên tôi đành cúi đầu mặc niệm tưởng nhớ những đồng bào đã nằm xuống nơi đây. Bốn mươi năm về trước tôi và quý vị cùng đồng hành trên con đường này, cùng trải qua những giây phút kinh hoàng bom rơi, đạn lạc nhưng may mắn cho tôi đã thoát chết còn quý vị thì vĩnh viễn nằm lại nơi đây. Ngày xưa khi cùng quý vị vượt qua đoạn đường máu lửa này tôi chỉ là một cậu con trai mới lớn đang chuẩn bị thi Tú Tài, sau bốn mươi năm tôi trở lại nơi đây thì tôi đã là một người như chợ chiều xế bóng! Cảnh xưa như những thước phim quay chậm lại hiện về với cảnh tượng kinh hoàng có cả âm thanh gào rú của bom đạn, tiếng kêu la thất thanh của người bị trúng đạn và tôi tưởng chừng như có em bé lem luốc đứng nhìn ngơ ngác bên xác mẹ nằm trên vũng máu, nước mắt tôi lại ứa ra…

 Nắng chiều hoang hoải, những tia nắng cuối ngày nhuốm màu vàng vọt, không gian buồn ảm đạm. những cọng bông cỏ tranh trắng xóa phất phơ trong gió chiều, tiếng lá bạch đàn xào xạc, những cây xương rồng gai góc cắm trên những cồn cát chạy dài. Tất cả tạo nên một khung cảnh đìu hiu của vùng đất chết.

 Ngoài kia là quốc lộ 1 với những chuyến xe ngược xuôi vào Nam ra Bắc. Cuộc sống vẫn âm thầm tiếp nối, dòng đời vẫn âm thầm trôi chảy nhưng… nói như Héraclite“Không ai tắm hai lần trong cùng một dòng sông”./.

                 Nguyễn Ngọc Luật

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét