Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

Hồi ức : TẾT QUÊ NỘI - Nhất Chi Mai.

 


TẾT QUÊ NỘI. 

Ngày đó, nhà tui nghèo lắm. Nghèo đến mức Tết trở thành quá đắt đỏ cho cả bảy người ăn Tết cùng nhau. Đưa ông Táo xong, sáng hôm sau, ba má tui tống tiễn cả một đàn chim non về quê nội trú đông.  Thế là bốn “tiểu quỷ” của gia đình bảy miệng ăn lại khăn gói lên đường chịu sự cai trị của nội suốt mấy ngày xuân. 

Nhà nội hồi đó cũng không dư dả gì, nhưng Tết thì vẫn phải ra Tết. Ba ngày đầu năm, bàn thờ lúc nào cũng có rượu, có trà, có bánh mứt. Ngoài sân có  đàn vịt đẻ sẵn sàng làm hậu phương cho mấy mâm cơm tươm tất. Nội tui tin lắm vào chữ “đủ đầy”. Nội nói, đầu năm mà tròn trịa thì cả năm mới yên ổn, no ấm được. Vì tin, nên kiêng. Kiêng giặt giũ mấy ngày Tết, sợ cả năm phải lom khom bên thau nước. Tui lúc đó còn nhỏ, nghe mà ngơ ngác: đồ mặc rồi không giặt thì biết làm sao? Chuyện đem đồ ra tiệm giặt, với tui hồi đó, xa xỉ như một giấc mơ. 

Về quê, chị em tui được thả về với thiên nhiên, sống hoang dã đúng nghĩa. Ban ngày tát đập, bắt cá, chiều lội ruộng mò cua, tối theo đám con nít trong xóm đi bắt chuột. Khi thì mót lúa, lúc lại hái bần ven sông. Cả một kho tàng trò chơi và thức ăn mà con nít Sài Gòn như tui khó lòng tưởng tượng nổi. Tuổi thơ lúc đó không có lịch hẹn, không có đồng hồ, chỉ có mặt trời lặn là tín hiệu trở về nhà. 

Nhưng hấp dẫn nhất, vẫn là mấy cái bao lì xì đỏ au. Nhỏ nhỏ vậy mà có võ. Góp từng đồng lẻ, tích tiểu thành đại, cuối Tết tui cũng có một khoản kha khá. Mang về Sài Gòn, đổi thành mấy cuốn truyện tranh và con búp bê đã ngắm nghía suốt cả năm trời. Hạnh phúc khi đó đơn sơ đến lạ, mà sao nhớ hoài không cũ. 

Hơn năm mươi năm trôi qua, ký ức ấy vẫn nằm yên một chỗ trong tui, không phai, không nhòe. Tui đi xa nửa vòng trái đất, mang theo cả mùi rơm rạ, mùi bánh Tết, mang theo cái ngu ngơ của tuổi mới lớn ngày nào. Ngày xưa chỉ mong mau lớn để được tự quyết đời mình. Còn bây giờ, lại thèm được bé lại, được chui vào vòng tay má, nghe má la rầy mà thấy lòng yên ổn. 

Thời gian như chuyến tàu không chờ ai. Nó cứ lăn bánh, kéo tui đi qua hết ga này đến ga khác. May mắn thay, đến tuổi này vẫn còn chỗ ngồi bên cửa sổ để ngắm bình minh, âu cũng đã là một phần thưởng lớn. Ngoảnh mặt lại, chỉ còn hơn ba tuần nữa là Tết Nguyên Đán. Năm con ngựa, cũng là năm tuổi của tui. 

Ngựa ơi, cứ phi đi, nhưng nhớ giữ thăng bằng. Sáu mươi năm lăn lộn với đời rồi, không biết còn chạy nổi bao xa. Nhưng thôi, còn đi được ngày nào, thì cứ đi cho trọn ngày đó.

NHẤT CHI MAI.

21/01/2026

Cuộc sống : TỤC BÓ CHÂN - St trên FB.




 TỤC BÓ CHÂN. 

(VN mình vậy mà ... nhân tính  hơn)

Có nhiều điều, nếu không tận mắt thấy, mình sẽ không tin nó từng tồn tại.

Đôi chân trong bức ảnh này là của một người phụ nữ Trung Quốc. Bà đã bị bó chân từ khi còn là một đứa trẻ. Không vì bệnh. Không vì tai nạn. Mà vì người ta nói vậy mới… đẹp.

Ngày xưa, ở Trung Quốc, con gái khoảng 5–6 tuổi đã bắt đầu bị bó chân. Các ngón chân bị bẻ cong xuống. Có khi xương bị làm gãy. Rồi người ta dùng vải quấn thật chặt, ngày này qua ngày khác, để bàn chân không lớn lên nữa.

Sau vài năm, bàn chân sẽ co lại, nhỏ bất thường. Biến dạng. Cong queo. Người ta gọi đó là “chân hoa sen”.

Càng nhỏ càng đẹp.

Càng nhỏ càng có giá.

Càng nhỏ càng dễ lấy chồng.

Nghe thì có vẻ nhẹ nhàng. Nhưng thực tế thì không nhẹ nhàng chút nào.

Đau. Đau suốt đời.

Nhiều phụ nữ không thể đi xa. Có người đi vài bước là phải dừng lại. Có người già rồi gần như không đi được nữa. Nhưng họ vẫn phải chịu, vì nếu không bó chân, họ có thể sẽ không lấy được chồng. Gia đình họ sẽ bị coi thường.

Có phải tự chị lấy đâu! Chỉ vì áp lực.

Áp lực từ gia đình.

Áp lực từ xã hội.

Áp lực từ cái gọi là “chuẩn mực”.

Tục này bắt đầu từ khoảng hơn 1.000 năm trước, thời nhà Tống. Lúc đầu chỉ có nhà giàu làm. Sau đó lan rộng ra khắp nơi. Nó tồn tại qua nhiều thế kỷ, từ đời này sang đời khác, đến mức người ta coi nó là chuyện bình thường.

Mãi đến đầu những năm 1900, khi xã hội bắt đầu thay đổi, người ta mới nhận ra nó tàn nhẫn thế nào. Năm 1912, chính quyền Trung Quốc chính thức cấm bó chân.

Nhưng cấm là một chuyện. Thay đổi là chuyện khác.

Ở nhiều vùng quê, người ta vẫn tiếp tục bó chân thêm vài chục năm nữa. Những người phụ nữ cuối cùng mang đôi chân bó vẫn còn sống cho tới đầu thế kỷ 21.

Họ là những nhân chứng sống của một thời mà sự đau đớn được coi là cái đẹp.

Ở Việt Nam, tục này hầu như không tồn tại. Người phụ nữ Việt Nam xưa phải làm ruộng, gánh hàng, đi chợ, nuôi con. Nếu bó chân, họ sẽ không thể sống được. Vì vậy, dù bị ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, người Việt không chấp nhận tục này như một chuẩn mực.

Đó là một điều may mắn.

Nhìn vào đôi chân trong bức ảnh, người ta không còn thấy vẻ đẹp nữa. Người ta chỉ thấy dấu vết của một thời mà xã hội có thể khiến con người tự hành hạ mình, chỉ để được chấp nhận.

Nó cũng nhắc mình một điều đơn giản:

Không phải cái gì tồn tại lâu đời cũng là đúng.

Và không phải cái gì được gọi là đẹp, cũng thực sự là đẹp.

Mọi thứ đều tương đối một thời...

Sưu tầm trên FB. 

Tản mạn : NGÀY XƯA HOÀNG THỊ - Lê Văn Thông.

 



NGÀY XƯA HOÀNG THỊ.

Ca khúc " Ngày Xưa Hoàng Thị"  của Phạm Duy được phổ nhạc từ  bài thơ cùng tên của Phạm Thiên Thư 

bài thơ ấy đọc một lần thấy hay và buồn, nhưng khi đọc nhiều lần thì thấy hình ảnh mình trong đó.

Tôi đến với "Ngày Xưa Hoàng Thị "không phải bằng âm nhạc trước, mà bằng thơ của Phạm Thiên Thư. Những câu chữ giản dị như bước chân học trò:


“Em tan trường về

Đường mưa nho nhỏ…”


Chỉ vậy thôi mà mở ra cả một bầu trời tuổi trẻ. Không có lời tỏ tình. Không có một lần nắm tay. Chỉ có một người đi trước và một người lẽo đẽo theo sau. Cái đẹp của bài thơ nằm ở sự ngập ngừng. Cái buồn của bài thơ là không ai dám nói điều mình muốn nói.

Tôi đã từng nghĩ đó chỉ là chuyện của người xưa. Cho đến khi tôi nhận ra mình cũng đã sống một “Ngày Xưa” như thế.

Tôi học ở trường trung học  Lý Thường Kiệt, mỗi buổi chiều tan học tôi đứng chờ em. Không phải đứng xa nhìn theo như  chàng trai trong thơ. Tôi đứng ngay cổng trường, giả vờ buộc lại dây giày hay chỉnh cái cặp, để khi em bước ra thì có thể đi chung trên con đường quen thuộc.

Con đường ấy cũng có nắng vàng và những cơn mưa bất chợt.

Có hôm trời mưa. Hai đứa trú dưới mái hiên lớp học. Mưa rơi lộp bộp xuống sân, nước bắn lên thành từng vòng tròn nhỏ. Em đứng sát bên tôi. Bàn tay em đặt hờ lên thành cửa sổ. Tôi muốn nắm lấy bàn tay ấy. Chỉ cần một lần thôi, tôi ngập ngừng. Tim đập nhanh hơn cả tiếng mưa. Cuối cùng, tôi lại thôi. Chúng tôi chỉ im lặng nhìn ra khoảng sân trắng xóa.

Đọc đến câu:

“Tìm lời mở nói

Lòng sao ngập ngừng”

tôi ngỡ ngàng. Hóa ra mình cũng từng “ngập ngừng” như thế.

Có buổi trưa trời mưa lớn. Tôi cứ đạp xe cạnh em dưới cơn mưa dài dằng dặc. Nước mưa làm tóc em ướt, dính vào má. Tôi lạnh run mà lòng lại ấm. Lúc ấy tôi hiểu vì sao trong thơ có câu “Mưa nhẹ bâng khuâng”. Mưa không chỉ ướt áo, mưa còn làm lòng người xao xuyến.

Có hôm tôi đến nhà em  cùng học bài, em cho tôi ly chè thơm mùi nước cốt dừa và tôi ở lại ăn buổi cơm cùng gia đình em. Bữa cơm đơn sơ mà tôi thấy mình như đã bước vào một mái nhà tương lai. Tôi ngồi ăn mà nghe tim mình rộn rã.

Nhưng tuổi học trò thường không giữ được những ước mơ  ban đầu .

Sau năm đó, tôi  vào đại học. Chúng tôi chia tay không ai dám nói hết lòng mình,cho dù là một lời hứa hẹn. Tôi nghĩ bốn năm đại học không dài. Nhưng đời người thì dài hơn bốn năm rất nhiều.

Em đi lấy chồng.

Tin ấy đến nhẹ như một cơn gió, nhưng đã làm lòng tôi chết lặng  . Tôi không trách em. Tôi chỉ trách mình đã không một lần nói rõ. Nếu ngày đó tôi nắm lấy tay em dưới  mưa, liệu mọi chuyện có khác?

Trong bài thơ, mười năm sau, người xưa tình cờ trở lại:


“Mười năm rồi Ngọ

Tình cờ qua đây…”


Còn tôi, tôi chưa từng có một lần gặp lại em như thế. Chỉ có những lần đi ngang con đường cũ, thấy nắng vẫn vàng mà lòng mình thì đã khác.

Cảm nhận "Ngày Xưa Hoàng Thị" tôi hiểu vì sao bài thơ sống mãi. Nó không chỉ kể chuyện của một cô gái tên Ngọ. Nó kể về tất cả những mối tình đầu không trọn vẹn. Về những bàn tay không kịp nắm. Về những lời không dám nói.

Người ta thường nhớ tình đầu không phải vì đó là mối tình đẹp nhất, mà vì đó là lần đầu trái tim biết thổn thức !

Đến bây giờ, mỗi khi nghe lại giai điệu bài hát năm xưa, tôi vẫn thấy mình của tuổi mười tám đứng dưới mái trường , tay run run mà không dám chạm vào tay em.

Có lẽ, trong mỗi chúng ta đều có một “Hoàng Thị” của riêng mình.

Và có những ký ức đẹp, dù đã đi qua , nhưng vẫn còn mãi mãi trong trái tim ta.

Bài thơ 

Ngày Xưa Hoàng Thị

( Thi sĩ: Phạm Thiên Thư)


Em tan trường về

Đường mưa nho nhỏ

Chim non giấu mỏ

Dưới cội hoa vàng


Bước em thênh thang

Áo tà nguyệt bạch

Ôm nghiêng cặp sách

Vai nhỏ tóc dài


Anh đi theo hoài

Gót giày thầm lặng

Đường chiều úa nắng

Mưa nhẹ bâng khuâng


Em tan trường về

Cuối đường mây đỏ 

Anh tìm theo Ngọ

Dáng lau lách buồn


Tay nụ hoa thuôn

Vương bờ tóc suối

Tìm lời mở nói

Lòng sao ngập ngừng


Lòng sao rưng rưng

Như trời mây ngợp

Hôm sau vào lớp

Nhìn em ngại ngần


Em tan trường về

Đường mưa nho nhỏ

Trao vội chùm hoa

Ép vào cuối vở


Thương ơi! Vạn thuở

Biết nói chi nguôi

Em mỉm môi cười

Anh mang nỗi nhớ


Hè sang Phượng nở 

Rồi chẳng gặp nhau ,

Ơi mối tình đầu 

Như đi trên cát 


Bước nhẹ mà sâu 

Mà cũng hòa mau... 

Tưởng đã phai mầu

Đường chiều hoa cỏ 


Mười năm rồi Ngọ 

Tình cờ qua đây 

Cây xưa vẫn gầy 

Phơi nghiêng dáng đỏ


Áo em ngày nọ 

Phai nhạt mấy màu 

Chân theo tìm nhau 

Còn là vang vọng


Đời như biển động 

Xóa dấu ngày qua 

Tay ngắt chùm hoa 

Mà thương mà nhớ 


Phố ơi! Muôn thuở 

Giữ vết chân tình 

Tìm xưa quẩn quanh 

Ai mang bụi đỏ 


Dáng ai nho nhỏ 

Trong cõi xa vời. 


Tình ơi! Tình ơi!


LÊ VĂN THÔNG. 

Hồi ức : SÁCH ĐÈN THUỞ ẤY - Vũ Thế Thành.

 


SÁCH ĐÈN THUỞ ẤY.

( Tựa của MCHX blog )

Chợ sách Đặng Thị Nhu bị xóa sổ vào giữa thập niên 80, buộc gom sách về cho cơ quan nhà nước quản lý, nên các chủ quầy chạy hết, tản ra các  nơi khác bán sách vỉa hè “lưu động” ở đường Trương Tấn Bửu (Trần Huy Liệu), Hồng Thập Tự (NTMK),… Khi hữu sự, sẵn sàng gom sách ù té chạy. 

Sách bày bán ở các “quầy sách cũ vỉa hè” này không còn phong phú và đa dạng như ở chợ Đặng Thị Nhu (hẻm Cá Hấp). Nhớ hoài, ở chợ ĐTN chỉ 1 quầy duy nhất có quyển “Handbook of Chemical Engineers”, tôi vẫn thường ra đây vờ vĩnh tham khảo sách. Quyển này giá 4 chỉ vàng, đôi lúc mân mê vuốt ve sách hơn cả tình… nhơn. Khi chợ sách dẹp tiệm, tôi đứng ngẩn người giữa chợ trống hoắc, cảm giác như “người tình bỏ ta đi”. 

Hồi đó tương lại mù mịt bế tắc chiều tối là nhậu (rượu Cây Lý) vỉa hè suốt… , thằng bạn ngồi uống với mình tối nay, tối sau có thể đã biến. Nhậu nghiêng ngửa như vậy mà tối về nhà vẫn đọc sách, không đọc không ngủ được… Thời buổi đảo điên đó, chỉ có sách là bè bạn. Đọc đi đọc lại sách của E. M. Remarque, C.V Gheorghiu, A. Solzhenitsyn,...thấy như chính mình trong đó… (Vtt)

Một thời thư viện

Hồi còn học trung học tôi ít khi vào thư viện, thỉnh thoảng mới tạt vào thư viện Hội Việt Mỹ ở đường Mạc Đỉnh Chi.

Thư viện này rộng lớn, có máy lạnh, là nơi trốn nắng lý tưởng, có khi trốn cả mưa nữa. Vào thư viện không phải đọc sách mà để đọc báo…chùa. Thư viện thỉnh thoảng tổ chức triển lãm tranh ảnh, sách báo. Tôi nhớ có lần triển lãm mấy cục đá trên mặt trăng do phi thuyền Apollo 16 hay 17 gì đó mang về. Đá chị Hằng không đẹp, sần sùi, nhưng bài trí trong phòng ánh sáng xanh tím dịu, đẹp lung linh.

Lên đại học, tôi mới vào thư viện thường hơn. Vào thư viện không phải để mượn sách hay tìm tài liệu (dù có thẻ thư viện), mà vào để học. Thi rớt đi lính, rất phiền cho cuộc đời. Thật ra thì không hẳn sợ rớt đi lính – tôi tự tin sức học của mình có thể pass – mà học vì khao khát kiến thức, mơ mộng thành…khoa học gia này nọ. Tôi tin hầu hết các bạn bên ngành khoa học đều có tâm trạng như vậy. Tuổi trẻ thường hoang tưởng trèo cao, càng cao càng té đau. Năm 75 đứt phim, đau điếng.

Khi đầu óc bão hòa, nhét chữ không vào, thì kiếm tờ báo đọc. Hai thư viện tôi thường vào: Đó là thư viện Đắc Lộ ở đường Yên Đổ. Thư viện này nằm trong khuôn viên Trung tâm Đắc Lộ của Dòng Tên. Không chỉ có thư viện mà nơi đây còn có studio làm các show truyền hình về giáo dục cho giới trẻ, có khi hóng chuyện nghe những nhân viên trong đó bàn chuyện làm chương trình khoa học phổ thông, sức khỏe, đời sống cũng thấy hào hứng. Chỉ nghe chứ tôi chưa xem show của họ trên TV bao giờ.

Mấy linh mục Dòng Tên kiến thức uyên bác và phóng khoáng, phóng đến độ bị Vatican đì mấy thế kỷ. Nhưng phóng khoáng lại dễ hòa đồng, giới trẻ thích mấy cha Dòng Tên, bất kể lương giáo. Tu viện có mấy ông cha Tây, tôi lân la tán phét, xổ tiếng Anh,.. Trời đất, có ông cha nói tiếng Việt sõi như người Việt, xài cả tiếng lóng như bọn trẻ. Tôi không nhớ nổi tên cha Tây này, chỉ  quen gọi là cha Sáu.

Sau năm 75, các cha Tây bị trục xuất về nước. Tôi nghe nói cha Sáu có thời gian qua các trại tị nạn ở Malaysia giúp đỡ dân Việt vượt biên ở đó. Hình như cha mất rồi thì phải…

Còn trung tâm Đắc Lộ thì bị tịch thu, làm tòa soạn báo Tuổi Trẻ và nhà in. Sau này nghe nói chính quyền có trả lại cho nhà dòng một phần – một phần to nhỏ thế nào tôi không rõ.

Chán chữ nghĩa thì đạp xe ra cà phê Lá Me đàn đúm bè bạn ở vỉa hè đường Duy Tân, ngắm người đẹp Văn Khoa, Luật khoa, và cả Trưng Vương nữa. Chán hơn nữa thì ra đường Cường Để, ngược về phía bến Bạch Đằng là đoạn đường vắng vẻ êm đềm, với những hàng cây cổ thụ lâu đời, rễ cây mọc trồi cả lên mặt đường.

Hai bên đường là những biệt thự cổ kính: Bên phải nghe nói là tư dinh của đại tướng Lê Văn Tỵ, đan viện Cát Minh, bên trái là Đại chủng viện, nhà nguyện, dòng tu. Con đường này ít người qua lại vì đoạn cuối là căn cứ quân sự Hải quân.

Gửi xe ở Đại học Văn Khoa, rồi thả bộ trên đường Cường Để vào buổi chiều, nghe tiếng ve kêu, tưởng như ngược dòng thời gian cách nay mấy thế kỷ bên Châu Âu. Một đoạn đường yên bình trong thời chiến tranh, êm đềm đến độ có lần tôi làm… thơ. Tôi nhớ mang máng, bài thơ chỉ có hai câu. Đó là bài thơ “tử tế” đầu tiên (và cũng là cuối cùng trong đời tôi). Đừng ai hỏi tôi về hai câu thơ này, tôi quên sạch rồi.

Thư viện thứ hai tôi thường vào là Trung tâm Văn hóa Đức ở đường Phan Đình Phùng, hình như bây giờ là Tòa Lãnh sự Đức. Thư viện này rất yên tĩnh, ít người, nên tôi vào nhiều hơn. Có những chiều mưa, nhìn qua khung cửa kính, thấy bâng khuâng. Thời tuổi trẻ thật đẹp!

Sau 75 là thời phần thư khanh nho, Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn Nho, người ta đốt sách chôn sự thật, chôn cả tự do.

Đường Cường Để đã đổi tên, và giờ đây là con phố ồn ào, náo nhiệt, quán xá, thương xá, cao ốc, xe cộ… Với tôi, đường Cường Để là con đường đẹp nhất Sài Gòn, chỉ còn tìm thấy trong ký ức.

Cà phê Lá Me cũng không còn… Còn nhiều thứ khác nữa cũng không còn, không chỉ con đường hay quán xá, mà cả tinh thần của người Sài Gòn cũng đang mờ dần.

Hơn 45 năm rồi, tôi không còn vào những thư viện năm xưa đó nữa. Thư viện của tôi là các quầy sách cũ ở đường Bùi Quang Chiêu (nay là Đặng thị Nhu), đọc sách chùa cả tiếng đồng hồ, mà chủ quầy chưa bao giờ phàn nàn tên khố rách đến mót chữ. Chợ sách cũ giờ cũng không còn.

Dù chưa một ngày làm quan, tôi bỗng nhớ câu thơ của Nguyễn Khuyến “Sách vở ích gì cho buổi ấy”. Tôi ngộ ra được nhiều điều về con người từ hồi Sài Gòn rơi vào buổi phần thư.


Vũ Thế Thành

Thứ Ba, 17 tháng 2, 2026

Cuộc sống : GIỎ QUÀ ĐẦU NĂM - Lê Văn Thông.

 


GIỎ QUÀ ĐẦU NĂM 


Ở quê tôi – một xóm nhỏ miền Tây nằm nép mình bên con rạch đục phù sa – mỗi dịp Tết đến, người ta không chỉ chờ mai nở, chờ bánh tét chín, mà còn chờ những giỏ quà đầu năm. Giỏ quà quê không sang trọng, thường chỉ có mấy ký đường, hộp trà, ít bánh mứt. Nhưng cái quý nhất không nằm trong bao bì bóng loáng, mà nằm ở tấm lòng người đem tới.

Năm đó, Tết đến với gia đình tôi không bằng mùi thơm của nồi bánh tét, mà bằng mùi thuốc sát trùng còn vương trên áo.

Em trai tôi vốn khỏe mạnh, quen trèo cây dừa cao nhất xóm. Cây dừa nhà tôi mấy chục năm tuổi, thân cao vút, mỗi năm chỉ hái trái bán Tết một lần để có chút tiền sắm sửa. Chiều hai mươi bảy, em trèo lên như mọi khi. Ai ngờ trượt chân. Cái ngã từ trên cao xuống không chỉ làm gãy xương, mà còn làm cả nhà tôi chao đảo.

Bệnh viện, tiền viện phí, những khoản vay mượn chồng lên nhau như những lớp sóng ngoài sông mùa nước lớn. Má tôi thở dài nhiều hơn nói. Ba tôi vốn ít lời, giờ càng lặng lẽ.

Chị gái tôi – người đã lấy chồng trên TP.HCM – nghe tin liền bắt xe về trong đêm. Anh rể đi cùng, tay xách sữa, tay ôm theo ít quần áo. Nhà chồng chị ở thành phố, buôn bán vật liệu xây dựng, cuộc sống khác hẳn miền quê sông nước của chúng tôi. Từ ngày chị lấy chồng, bà con lối xóm hay trêu: “Con nhỏ miền Tây mà làm dâu Sài Gòn, chắc sướng lắm!”

Nhưng chỉ người trong cuộc mới hiểu, làm dâu không phải chuyện sướng hay khổ, mà là chuyện có được thương hay không.

Những ngày cuối năm, thay vì lo sắm Tết, cả nhà tôi thay phiên nhau vào bệnh viện. Chị tôi lặng lẽ rút sổ tiết kiệm dành dụm bấy lâu. Tôi thấy chị đứng ngoài hành lang, nhìn điện thoại thật lâu, rồi lại cất vào túi. Có lẽ chị muốn gọi về nhà chồng, nhưng rồi thôi. Ở quê, người ta quý nhất là sự tự trọng. Giúp thì quý, nhưng mở lời vay mượn lại là chuyện khác.

Chiều ba mươi, khi em trai vừa được xuất viện về nhà nghỉ ngơi, thì ba má chồng chị tôi từ TP.HCM xuống.

Họ đi xe hơi về tận đầu xóm, rồi đi bộ vào vì đường nhỏ. Trên tay chỉ có một giỏ quà: trái cây, hộp trà, mấy đòn bánh tét mua ở thành phố. Giỏ quà nhìn giản dị đến mức mấy cô dì trong xóm khẽ chép miệng: “Nhà thành phố mà…”

Ba má tôi vẫn niềm nở mời nước. Người miền Tây nghèo thiệt, nhưng hiếu khách và hào sảng thì không thiếu.

Cuộc nói chuyện diễn ra nhẹ nhàng. Họ hỏi thăm sức khỏe thằng út, dặn dò nó ráng dưỡng thương. Không ai nhắc đến tiền bạc. Không ai nhắc đến khó khăn.

Tối đó, khi khách đã về, má tôi dọn giỏ quà ra sắp lên bàn thờ ông bà. Trong hộp trà có một phong bì nhỏ. Bên trong là một tấm thẻ ngân hàng và mảnh giấy viết tay:

“Biết gia đình đang lo cho cháu út. Chúng tôi gửi chút tấm lòng, mong anh chị đừng ngại. Người một nhà,khi gặp khó thì cùng gỡ. Đừng để con dâu chúng tôi phải đứng giữa mà buồn.”

Mật khẩu là ngày cưới của chị tôi.

Má tôi cầm tờ giấy mà tay run run. Ba tôi quay mặt đi, giả vờ ho. Chị tôi ngồi bệt xuống nền nhà, nước mắt rơi mà miệng vẫn cười.

Cái hay của người thành phố không phải ở sự giàu có, mà ở cách họ cư xử. Họ không trao tiền trước mặt đông người. Không nói lời khiến ai phải mang ơn. Họ để giỏ quà đầu năm như bao giỏ quà khác, nhưng bên trong là sự thấu hiểu.

Còn cái hào sảng của người miền Tây là ở chỗ: nhận tấm lòng ấy bằng sự biết ơn chân thành, không tự ái, không mặc cảm. Ba tôi gọi điện cảm ơn, nói khi nào xoay xở được sẽ hoàn lại. Đầu dây bên kia chỉ cười: “Khỏi vội anh chị. Lo cho thằng nhỏ khỏe trước đã.”

Đêm giao thừa năm đó, nhà tôi không bắn pháo hoa, không mở nhạc lớn. Nhưng mâm cơm cúng ông bà có thêm một nụ cười nhẹ nhõm. Em trai tôi nằm trên võng, chân bó bột, nhìn ra sân đầy nắng mới.

Tôi chợt hiểu, giỏ quà đầu năm không chỉ là quà. Nó là cách người ta đặt một bàn tay lên vai nhau mà nói: “Có tôi đây.”

Giữa miền Tây gió sông lồng lộng và Sài Gòn xe cộ ồn ào, hai gia đình – một quê, một phố – bỗng thấy gần nhau hơn chỉ vì một sự tử tế.

Và có lẽ, Tết năm ấy, điều đáng nhớ nhất không phải là cây dừa trĩu trái hay mâm bánh tét xanh, mà là tấm lòng được gửi đi và được nhận lại, tròn đầy như vị ngọt của trái dừa quê nhà.


( Lê Văn Thông)

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2026

Phương xa : LÀM THAY ĐỔI... - St trên FB.

 



LÀM THAY ĐỔI LUẬT PHÁP. 

Năm 1961, một người đàn ông chỉ học hết lớp 8 đã cầm bút chì trong phòng giam của mình và vô tình thay đổi lịch sử nước Mỹ mãi mãi.

Clarence Earl Gideon không phải là người đặc biệt. Ở tuổi 51, ông là một người lang thang với mái tóc bạc, làn da sạm nắng và một cuộc đời đầy bất hạnh. Ông lang thang từ thị trấn này sang thị trấn khác, làm những công việc lặt vặt, sống lay lắt qua ngày, thỉnh thoảng lại vào tù vì những tội nhỏ. Ông chưa bao giờ học hết cấp hai. Ông chưa bao giờ có tiền. Và vào ngày 4 tháng 8 năm 1961, khi đứng trước tòa án ở Florida bị buộc tội đột nhập vào một quán bi-a, ông không có luật sư.

Bằng chứng chống lại ông rất mỏng manh – ai đó tuyên bố đã nhìn thấy ông gần quán bi-a Bay Harbor khoảng 5:30 sáng với tiền xu trong túi. Năm đô la tiền lẻ đã bị mất khỏi tòa nhà, cùng với một ít bia và nước ngọt. Chỉ có vậy. Gideon thề rằng mình vô tội, nhưng ai sẽ lắng nghe một người lang thang nghèo khó với tiền án tiền sự?

Khi phiên tòa bắt đầu, Gideon đưa ra một yêu cầu mà ông tin là đơn giản và hợp hiến: "Thưa Thẩm phán, tôi yêu cầu tòa án chỉ định luật sư bào chữa cho tôi trong phiên tòa này."

Câu trả lời của thẩm phán rất lịch sự nhưng lại vô cùng tàn nhẫn: "Ông Gideon, tôi rất tiếc, nhưng tôi không thể chỉ định luật sư bào chữa cho ông trong trường hợp này. Theo luật của tiểu bang Florida, tòa án chỉ có thể chỉ định luật sư bào chữa cho bị cáo khi người đó bị buộc tội phạm tội nghiêm trọng."

Hãy suy nghĩ về điều đó một chút. Hệ thống pháp luật Mỹ – với tất cả sự phức tạp, các quy tắc thủ tục, ngôn ngữ chuyên ngành – lại yêu cầu một người chưa học hết cấp hai phải tự bào chữa cho mình trước các công tố viên được đào tạo bài bản. Họ mong đợi ông hiểu luật chứng cứ, thẩm vấn nhân chứng và bảo vệ quyền hiến pháp của chính mình.

Gideon đã cố gắng hết sức. Ông thẩm vấn nhân chứng. Ông tuyên bố mình vô tội. Nhưng làm sao bạn có thể tự bào chữa cho mình khi bạn không hiểu ngôn ngữ của luật pháp? Bồi thẩm đoàn tuyên bố ông có tội. Vào ngày 25 tháng 8 năm 1961, Thẩm phán Robert L. McCrary đã tuyên án ông mức án tối đa: năm năm tù tại nhà tù tiểu bang Florida.

Hầu hết mọi người sẽ bỏ cuộc. Nhưng Clarence Earl Gideon không phải là người bình thường.

Trong thư viện nhà tù, giữa những cuốn sách luật mà ông hầu như không thể hiểu, Gideon bắt đầu đọc. Dần dần, một cách khó nhọc, ông tự học về Hiến pháp. Ông phát hiện ra lời hứa của Tu chính án thứ Sáu về "quyền được trợ giúp pháp lý". Ông tìm hiểu về sự đảm bảo của Tu chính án thứ Mười bốn về thủ tục tố tụng công bằng. Và ông nhận ra một điều khiến lòng ông đau nhói: hệ thống này về cơ bản đã bị hỏng.

Làm sao công lý có thể tồn tại khi những bị cáo giàu có có luật sư, còn những người nghèo lại phải đối mặt với các công tố viên một mình?

Gideon đã nộp đơn kiến ​​nghị lên Tòa án Tối cao Florida. Họ bác bỏ đơn mà không đưa ra bất kỳ bình luận nào.

Vì vậy, ông lại cầm bút lên. Với nét chữ run rẩy trên giấy viết thư của nhà tù, trên năm trang giấy viết tay với lỗi chính tả không hoàn hảo, ông đã viết một đơn kiến ​​nghị gửi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Ông ký tên. Ông gấp lại. Và vào ngày 8 tháng 1 năm 1962, tiếng nói của một tù nhân nghèo đã đến được tòa án cao nhất nước Mỹ.

Bất chấp mọi khó khăn có thể tưởng tượng được, họ đã lắng nghe.

Tòa án Tối cao nhận được hàng nghìn đơn kiến ​​nghị mỗi năm. Hầu hết đều bị bác bỏ mà không cần xem xét kỹ lưỡng. Nhưng có điều gì đó trong vụ án của Gideon đã gây ấn tượng mạnh. Vào ngày 4 tháng 6 năm 1962, họ đồng ý xem xét đơn kháng cáo của ông. Và vì ông không đủ khả năng thuê luật sư, họ đã chỉ định cho ông một trong những luật sư giỏi nhất nước: Abe Fortas, người sau này sẽ trở thành Thẩm phán Tòa án Tối cao.

Vào ngày 15 tháng 1 năm 1963, Fortas đã đưa ra một lập luận đơn giản nhưng đầy sức thuyết phục: Nếu Clarence Darrow—có lẽ là luật sư hình sự vĩ đại nhất trong lịch sử nước Mỹ—còn cần thuê luật sư khi bị buộc tội, thì làm sao một người chỉ học hết lớp tám có thể tự bào chữa cho mình?

Câu trả lời rất rõ ràng. Ông ấy không thể. Không ai có thể.

Vào ngày 18 tháng 3 năm 1963, Tòa án Tối cao công bố phán quyết: 9 phiếu thuận, 0 phiếu chống. Nhất trí. Thẩm phán Hugo Black, người đã tranh luận cho kết quả này trong hơn hai mươi năm, đã viết bản án. Tòa án tuyên bố rằng quyền được có luật sư là "cơ bản và thiết yếu cho một phiên tòa công bằng". Các tiểu bang phải cung cấp luật sư cho các bị cáo nghèo đối mặt với các cáo buộc nghiêm trọng. Tiền lệ cũ đã bị lật ngược. Và vụ án của Gideon được gửi trở lại Florida để xét xử lại.

Lần này, Gideon có luật sư: Fred Turner. Với sự đại diện chuyên nghiệp, mọi thứ đã thay đổi. Turner đã vạch trần những điểm yếu trong vụ án của bên công tố. Ông tiết lộ rằng nhân chứng chủ chốt của tiểu bang có thể chính là người đã thực hiện vụ trộm. Ông ấy đã chứng minh được sự nghi ngờ hợp lý, trong khi trước đó dường như chỉ có tội lỗi.

Vào ngày 5 tháng 8 năm 1963—tại cùng một tòa án, trước cùng một thẩm phán—bồi thẩm đoàn đã đưa ra phán quyết:

Không có tội.

Sau hơn hai năm ngồi tù vì một tội mà ông không phạm phải, Clarence Earl Gideon đã được tự do.

Nhưng di sản của ông vẫn còn mãi. Nhờ đơn kiến ​​nghị viết bằng bút chì của một người đàn ông, hệ thống tư pháp Mỹ đã thay đổi một cách căn bản. Các tiểu bang trên khắp cả nước phải thành lập các văn phòng luật sư công. Hàng nghìn tù nhân bị kết tội mà không có luật sư đã được xét xử lại. Nguyên tắc rằng công lý không nên phụ thuộc vào sự giàu có đã trở thành luật.

Gideon trở lại cuộc sống bình lặng của mình. Ông kết hôn lần thứ năm. Ông phải vật lộn với các vấn đề sức khỏe. Khi ông qua đời vì ung thư vào ngày 18 tháng 1 năm 1972, ở tuổi 61, ông vẫn nghèo khó. Ban đầu, gia đình ông chôn cất ông trong một ngôi mộ không có bia mộ ở Missouri.

Nhưng nhiều năm sau, ACLU đã đặt một bia mộ bằng đá granit trên ngôi mộ đó. Dòng chữ khắc trên bia mộ được trích từ chính lời của Gideon trong một lá thư gửi cho Abe Fortas: "Mỗi thời đại đều tìm thấy sự cải tiến trong luật pháp vì lợi ích của nhân loại."

Ngày nay, mỗi khi bạn nghe thấy những lời "bạn có quyền được có luật sư, và nếu bạn không đủ khả năng chi trả, một luật sư sẽ được chỉ định cho bạn"—những lời đó tồn tại là nhờ một người đàn ông đã từ chối chấp nhận rằng người nghèo phải đối mặt với công lý một mình.

Clarence Earl Gideon đã chứng minh rằng lực lượng mạnh mẽ nhất để tạo ra sự thay đổi không phải là sự giàu có, địa vị hay học vấn. Đôi khi, đó chỉ đơn giản là lòng dũng cảm để cầm bút lên và viết: "Điều này không đúng."

Và đôi khi, bất chấp mọi khó khăn, thế giới lại đồng ý.

SƯU TẦM TRÊN FB. 

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2026

Truyện năm rắn : DÒNG NƯỚC BÍ ẨN - Huỳnh Văn Huê.

 




Truyện năm con rắn (Ất Tỵ):

DÒNG NƯỚC BÍ ẨN. 

Nơi tận cùng dãy núi mây phủ quanh năm, có một bộ lạc hầu như sống biệt lập với thế gian. Người trong vùng gọi đó là bản Khe Ngàn, vì bốn phía là khe suối chằng chịt, nước từ trên cao đổ xuống như những sợi chỉ bạc giữa rừng già. Núi cao đến mức sáng mở mắt ra đã thấy mây lững lờ trôi ngang mái nhà, chiều đến thì sương giăng kín lối đi, tiếng chim rừng vang lên nghe như vọng từ cõi khác.

Người bản Khe Ngàn sống bằng săn bắn, hái lượm và trồng lúa nương. Họ tin vào thần núi, thần suối, tin rằng mọi sự sống đều có linh hồn. Tù trưởng đời này sang đời khác giữ vai trò cầu nối giữa con người và thế giới vô hình ấy.

Ít ai biết rằng, trên đỉnh ngọn núi cao nhất — nơi mây tụ dày nhất và chưa từng có dấu chân người — tồn tại một sinh vật cổ xưa.

Đó là một con rắn khổng lồ, thân to bằng thân cây…, vảy xám bạc, đôi mắt vàng như lửa âm ỉ. Nó đã tu luyện hàng trăm năm, hấp thụ linh khí đất trời, uống sương đêm, nuốt ánh trăng. Qua năm tháng, nó hóa tinh, biết nói tiếng người, biết mưu tính và khát khao quyền lực của loài người.

Nó tự xưng là Thần Xà nhưng đúng ra chỉ nên gọi là Xà Tinh.

÷    ÷    ÷

   Một đêm trăng tròn, khi cả bản đang say ngủ, tù trưởng Ma Lương giật mình tỉnh dậy vì tiếng gọi vang lên trong đầu. Không phải âm thanh từ tai, mà là tiếng nói trầm đục vọng thẳng vào tâm trí.

“Ma Lương… Ngươi là người được chọn.”

Ông run rẩy bước ra khỏi nhà sàn. Trước mặt ông, trong màn sương trắng, hiện lên một cái bóng khổng lồ uốn lượn. Hai con mắt vàng rực nhìn thẳng vào ông.

“Ta là thần xà ngự trên đỉnh núi. Từ nay, mỗi ngày rằm, hãy dẫn toàn bộ dân bản lên khe suối trên đỉnh để hứng nước thần. Ai uống sẽ được ta che chở.”

Tù trưởng quỳ sụp xuống, trán đập vào đá lạnh. Ông không dám nghi ngờ. Với người bản Khe Ngàn, lời của “thần” là mệnh lệnh tuyệt đối.

Từ đó, mỗi ngày rằm, dân bản bỏ hết việc nương rẫy, nối hàng dài men theo con đường dốc đứng lên đỉnh núi. Ở đó có một khe suối nhỏ, nước trong vắt, lấp lánh dưới ánh trăng.

Họ tin đó là nước ban phúc.

Không ai biết rằng, mỗi đêm trước ngày rằm, Xà Tinh bò đến đầu nguồn, cúi đầu xuống dòng nước, nhả nước dãi độc đã được nó luyện hóa. Chất độc ấy không giết người ngay. Giết người làm chi, không có lợi! Tuyệt vời nhất là độc chất ngấm chậm, làm mờ lý trí, làm con người trở nên ngoan ngoãn, dễ điều khiển, mất dần ý chí phản kháng.

Uống một lần chưa thấy gì. Uống nhiều lần, con người quên mất cách nghi ngờ.

÷    ÷    ÷

   Chỉ sau một thời gian, bản Khe Ngàn đổi khác.

Người ta thôi tranh cãi, thôi đặt câu hỏi. Tù trưởng nói gì cũng gật đầu. Ai trái ý đều bị xem là xúc phạm thần linh. Ánh mắt mọi người trở nên đục, giọng nói đều đều như những cái bóng biết đi.

Chỉ có Tú Lang — một chàng trai trẻ, mồ côi cha mẹ từ nhỏ — là khác.

Tú Lang vốn hay lên rừng một mình, quen quan sát thiên nhiên. Chàng để ý rằng mỗi lần uống nước suối về, đầu óc mình nặng trĩu, tim đập chậm lại, những suy nghĩ sắc bén như bị bọc trong sương mù.

Tới ngày rằm... , Tú Lang không uống. Chàng nép vào một người đến trước, chỉ giả vờ đưa gáo lên môi, rồi lén đổ nước xuống kẽ đá.

Tối hôm đó, Tú Lang tỉnh táo lạ thường. Chàng nghe rõ tiếng côn trùng, nhìn rõ từng đốm sáng trong rừng đêm. Và lần đầu tiên, chàng nghi ngờ.

“Nếu là nước thần, sao lại khiến người ta mê muội?”

Tú Lang bắt đầu lén quan sát đầu nguồn. Một đêm gần đến ngày trăng tròn, chàng trèo lên vách đá gần khe suối. Dù trăng chưa tròn nhưng vẫn đủ sáng để chàng nhìn rõ mọi việc xảy ra , Tú Lang thấy một thân rắn khổng lồ trườn tới, cúi đầu xuống nguồn nước. Miệng nó há rộng, từ trong miệng nó tuôn ra một thứ nước dãi sền sệt đục ngờ ngờ… .

Mùi tanh tưởi bốc lên.

Tú Lang hiểu ra tất cả… .

÷    ÷    ÷

   Thuyết phục người mê muội còn khó hơn đánh nhau với quái vật.

Khi Tú Lang nói với dân bản rằng nước có độc, họ nhìn chàng như nhìn kẻ điên. Có người còn muốn trói chàng lại giao cho tù trưởng.

Tú Lang không bỏ cuộc. Chàng tìm những người mới uống ít, những đứa trẻ uống ít nước, những người già yếu hấp thu kém nên chưa bị ngấm độc sâu. Chàng bảo họ thử không uống một kỳ trăng tròn. 

Vài người làm theo.

Rồi họ tỉnh.

Tỉnh như người vừa thoát cơn mộng dài. Họ nhận ra sự thay đổi trong chính mình. Từ đó, nhóm người tỉnh táo dần lớn lên.

Tú Lang kể cho họ nghe về con Xà Tinh, về đầu nguồn, về nước dãi độc.

Nỗi sợ ban đầu dần biến thành cơn giận như thiêu đốt tâm cang.

“Chúng ta đã trao ý chí của mình cho một con quái vật.”

÷    ÷    ÷

   Đêm rằm kế tiếp, cả bản vẫn lên núi theo lệnh tù trưởng. Nhưng trong số đó, có những người không uống.

Khi trăng lên cao nhất, Xà Tinh xuất hiện. Nó quấn mình quanh những trụ đá lớn, cất tiếng nói vang dội.

“Uống đ…i…i…i…Rồi các ngươi sẽ được b..ì..n..h …a..n…. !”

Biết rằng hôm trước xà tinh đã nhả hết nước dãi ra, và do đó lúc này là lúc nó yếu đuối nhất. Lang bước ra khỏi đám đông. 

“Không. Chúng tôi không cần thứ bình an của ngươi.”

Thần Xà rít lên. Nó nhận ra độc chất đã mất tác dụng với nhiều người dân bản.

Họ — lần đầu tiên sau nhiều năm tháng — tự mình quyết định. Đã chuẩn bị sẵn, họ cầm giáo mác, cuốc xẻng, gậy gộc … .Những thứ tưởng như thô sơ ấy, khi hợp sức, lại trở thành sức mạnh ghê gớm.

Trận chiến diễn ra dữ dội. Xà Tinh mạnh, nhưng nó cô độc. Con người yếu hơn, nhưng họ có ý chí và số đông đoàn kết. 

Cuối cùng, khi trời hửng sáng, thân rắn khổng lồ đổ xuống khe sâu. Tiếng gầm rít tắt lịm, có còn chăng chỉ còn tiếng gió thổi qua khe núi và tiếng nước đổ hiền hòa từ trên cao… .

÷    ÷    ÷

   Người ta lấp đầu nguồn nước cũ, tìm khe suối mới. Nước lại trong, mát, không mùi tanh.

Tù trưởng cũ tự cho mình đã già xin từ chức về an nghỉ.  Dân bản không lập “thần” mới. Họ họp nhau, bàn bạc, tranh luận — những điều từng bị xem là cấm kỵ và nguy hiểm — tìm tù trưởng mới. Khỏi nói cũng biết người được dân bản mong muốn làm tù trưởng là ai .

Tú Lang lúc đầu nhiều lần nhất quyết không nhận làm người đứng đầu. Nhưng trước ý nguyện của dân bản, chàng không thể từ chối. Chàng nói:

“Quyền lực không nên nằm trong tay một người, càng không nên trao cho thứ ta không hiểu. Vì thế tôi chỉ đứng ra cùng một số người tập hợp ý nguyện của dân bản. Nếu như nhóm chúng tôi làm sai, tất cả mọi người có quyền phản đối, truất quyền tất cả chúng tôi. Nếu được như vậy thì tôi xin nhận trách nhiệm… “

Bản Khe Ngàn dần thay đổi. Không còn mê tín mù quáng, nhưng vẫn tôn trọng tuyệt đối việc gìn giữ núi rừng, khe suối… .

Trên đỉnh núi cao, mây vẫn trôi, rừng vẫn xanh lá… . Nhưng từ đó, dân bản  không còn ai cúi đầu trước bóng tối u mê nữa… ./.

HUỲNH VĂN HUÊ ( Cuối năm Ất Tỵ )

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

Thơ : CHỊ VỀ QUÊ MẸ... - Lê Hồng Phúc.

 



CHỊ VỀ QUÊ MẸ CHIỀU NAY 


Chị về quê mẹ chiều nay

Sông sâu, một chuyến đò đầy chị sang

Tòng phu xuất giá xa làng

Tiếng gà trưa gáy cũng man mác buồn


Chị về qua ngõ mưa tuôn

Tường rêu phủ kín nỗi buồn chị ơi

Chị về thăm hỏi đôi lời 

Cha mừng, Mẹ tủi biết vơi nỗi lòng?


Hỏi rằng bến đục, bến trong?

Mưa sa lầu các hay đồng ruộng sâu

Ngậm ngùi nói chẳng thành câu

Dâng Cha chén nước, têm trầu Mẹ ăn


Chị ngồi giúp Mẹ vấn khăn

Nụ cười giấu những nhọc nhằn trên môi

Má hồng trời định duyên rồi

Đắng cay đành gởi vào lời chị ru 


Khơi trong hay chốn ao tù 

Me thương chị, hát lời ru bẽ bàng 

Quê mình cách trở đò ngang 

Một chiều thăm Mẹ vội vàng chị  đi 


Tiễn chân chị chớ khóc gì

Kẻo Cha Mẹ tủi mỗi khi chạnh lòng 

Chiều chiều gió thổi đàng đông 

Thở dài thương chị lấy chồng đàng xa. 


Chị ơi “chuối rụng” sau nhà 

Nhớ quê chị nhé phương xa thì về./.


Bút Quê - Lê Hồng Phúc 

(Ảnh nguồn Internet)

Đó đây : TẤM LÒNG VĨ ĐẠI - St trên FB.

 


TẤM LÒNG VĨ ĐẠI. 

Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”.

Đó là năm 1942.

Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi.

Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng.

Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng.

“Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.”

Thức ăn cạn dần.

Thuốc men không còn.

Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.

Maria, 12 tuổi, nắm chặt tay cậu em 6 tuổi. Em đã hứa với người mẹ hấp hối rằng sẽ bảo vệ em trai. Nhưng làm sao để bảo vệ một người khi cả thế giới đã quyết định rằng họ không đáng được sống?

Khi đó, tin tức đến được một cung điện nhỏ ở Nawanagar, Gujarat.

Người cai trị nơi ấy là Jam Sahib Digvijay Singhji.

Một tiểu vương dưới sự thống trị của Đế quốc Anh. Không quân đội, không quyền lực thật sự với các cảng biển, không nghĩa vụ phải can thiệp.

Các cố vấn nói với ông:

“Có 740 đứa trẻ đang mắc kẹt trên biển sau khi người Anh từ chối cho họ cập bến.”

Digvijay Singhji bình tĩnh hỏi:

“Bao nhiêu đứa trẻ?”

“Bảy trăm bốn mươi, thưa Bệ hạ.”

Một khoảng lặng.

Rồi ông nói:

“Người Anh có thể kiểm soát các cảng của ta. Nhưng họ không kiểm soát được lương tâm của ta.

Những đứa trẻ đó sẽ cập bến tại Nawanagar.”

Họ cảnh báo:

“Nếu ngài chống lại người Anh thì…”

“Ta sẽ chịu.”

Và ông gửi thông điệp đã cứu 740 sinh mạng:

“Các con được chào đón ở đây.”

Tháng 8 năm 1942, con tàu tiến vào cảng dưới cái nắng mùa hè khắc nghiệt.

Những đứa trẻ bước xuống như những cái bóng ,quá yếu để khóc, đã quen với đau khổ đến mức không còn dám hy vọng.

Vị Maharaja đứng chờ chúng trên bến cảng.

Mặc áo trắng, ông quỳ xuống để ngang tầm mắt bọn trẻ và nói qua phiên dịch những lời mà chúng chưa từng được nghe kể từ ngày cha mẹ qua đời:

“Các con không còn là trẻ mồ côi nữa.

Các con là con của ta.

Ta là Bapu của các con ,là cha của các con.”

Ông không dựng một trại tị nạn tạm bợ.

Ông xây dựng một mái nhà.

Tại Balachadi, ông tạo nên một Ba Lan thu nhỏ trên đất Ấn Độ:

giáo viên người Ba Lan, món ăn gợi ký ức quê hương, bài hát tuổi thơ, lớp học, khu vườn, thậm chí một cây thông Noel dưới bầu trời nhiệt đới.

“Nỗi đau luôn cố xóa bỏ con người ta,” ông nói.

“Ngôn ngữ, văn hóa, truyền thống của các con là thiêng liêng. Chúng sẽ sống ở đây.”

Trong bốn năm, khi cả thế giới chìm trong chiến tranh, những đứa trẻ ấy sống không phải như người tị nạn ,mà như một gia đình.

Vị Maharaja đến thăm, nhớ tên từng đứa, tổ chức sinh nhật, và an ủi những bậc cha mẹ ở phương xa đã tuyệt vọng nghĩ rằng sẽ không bao giờ gặp lại con mình.

Ông chi trả bác sĩ, thức ăn, quần áo và mọi thứ cần thiết bằng chính tài sản của mình.

Khi chiến tranh kết thúc và đến lúc chia tay, rất nhiều người đã khóc.

Balachadi là ngôi nhà duy nhất mà họ từng biết.

Ngày nay, những đứa trẻ ấy đã trở thành bác sĩ, giáo viên, cha mẹ, ông bà.

Tại Ba Lan, các quảng trường và trường học mang tên Jam Sahib Digvijay Singhji. Ông được trao huân chương cao quý nhất của đất nước.

Nhưng tượng đài thật sự của ông không làm bằng đá.

Nó được tạo nên từ 740 cuộc đời.

Và những cuộc đời ấy vẫn kể cho con cháu mình câu chuyện về một vị vua Ấn Độ, người mà khi cả thế giới đóng sập cửa, đã nhìn vào nỗi đau và nói:

“Từ nay, các con là con của ta.”

MY LAN PHAM (FB) 

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

Cuộc sống : MÁI TÓC - Lê Văn Thông.

 


MÁI TÓC.

Có những điều trong tình yêu tưởng như rất nhỏ, nhỏ đến mức người ta nghĩ rằng chỉ cần nhường nhau một chút là xong. Như chuyện một mái tóc dài hay ngắn. Nhưng đôi khi, chính những điều nhỏ ấy lại chạm vào phần sâu nhất của lòng người, nơi mỗi người giữ cho riêng mình một lý do không dễ nói ra.

Anna không thích Joe để tóc dài. Cô bảo đàn ông thì nên gọn gàng, còn tóc dài là để cho phụ nữ. Joe chỉ cười, lắc đầu. Anh thấy mình vẫn vậy, vẫn là người đàn ông yêu cô, vẫn quan tâm, vẫn tử tế. Chỉ có mái tóc là dài thêm từng ngày, còn anh thì không hề đổi khác.

Họ tranh luận, rồi mệt mỏi. Tóc Joe dài dần lên, còn sự đồng cảm giữa hai người thì lặng lẽ ngắn lại. Khi tóc chạm qua mang tai, họ chia tay. Không ai đúng, cũng chẳng ai sai. Chỉ là cả hai đều chưa hiểu hết điều người kia đang giữ trong lòng.

Joe buồn, nhưng anh vẫn để tóc dài. Dường như anh yêu mái tóc ấy hơn bao giờ hết, như thể nó đang mang một ý nghĩa riêng mà anh chưa sẵn sàng chia sẻ. Còn Anna, sau chia tay, mới nhận ra mình không thể yêu một người chỉ bằng vẻ ngoài. Cô gặp những người đàn ông khác, tóc ngắn, chỉnh tề, nhưng không ai khiến cô thấy bình yên như Joe.

Cô không gặp anh, nhưng vẫn dõi theo. Mái tóc ngày nào giờ đã dài quá vai, được cột gọn gàng phía sau lưng, theo anh đến văn phòng mỗi sáng. Mọi thứ trôi đi trong im lặng, cho đến một ngày Joe gọi cho cô, giọng nhẹ như chưa từng có khoảng cách:

— Em có muốn đi cùng anh đến nơi cắt tóc không?

Anna đến rất nhanh. Cô nghĩ, cuối cùng thì anh cũng chiều theo cô. Nhưng Joe không đưa cô đến tiệm hớt tóc quen thuộc. Anh đưa cô đến một nơi làm tóc giả. Anna đứng lặng nhìn từng lọn tóc rơi xuống, và nghe anh kể về mẹ mình — người đã mất hết mái tóc sau những đợt hóa trị. Mái tóc anh để dài suốt những năm qua, hóa ra là để dành cho mẹ.

Anna không nói được lời nào. Nước mắt rơi rất khẽ.

Lúc ấy, cô mới hiểu rằng có những sợi tóc dài ra không phải để làm đẹp, mà để nối dài yêu thương. Có những điều trong tình yêu, nếu chưa kịp hiểu, ta dễ đánh mất nhau chỉ vì một khác biệt rất nhỏ.

Ngoài kia, tóc rơi nhẹ xuống nền nhà.

Sợi vắn, sợi dài.

Và trong khoảng lặng ấy, lòng người chợt dịu lại.


( Lê Văn Thông sưu tầm và viết lại . )

Thơ : CON LẠI VỀ - Gió Miền Tây .

 


CON LẠI VỀ. 

Con lại về nơi cắt rốn chôn nhau 

Tìm lại dáng cha bạc đầu sương gió 

Đôi vai mẹ tảo tần thân vò võ 

Nuôi đàn con bằng gọng cỏ nắm rau 


Con lớn khôn mái tóc mẹ phai màu

Thân thương lắm mà lòng đau như cắt 

Mùa đông lạnh cái rét như se sắt 

Dưng cõi lòng nhớ khuôn mặt mẹ ơi 


Con tìm về sau hơn nửa cuộc đời 

Chân rong ruổi áo cơm thời lam lũ 

Con thấy nhớ những lời ru giấc ngủ 

Buổi trưa nồng manh áo phủ làm chăn 


Nhớ rất nhiều quê mình thuở khó khăn 

Cha kiếm củi lo ăn ngày từng bữa 

Chẳng dám ước tiền bạc hay nhà cửa 

Chỉ mong sao bớt khổ giữa muôn lòng 


Nay con về tìm lại chút ngày đông 

Thương cha mẹ gánh gồng nuôi con lớn 

Bao năm tháng xa dòng đời lận đận 

Con trở về nơi sớm tối yêu thương .

GIÓ MIỀN TÂY (FB).

Cuộc sống : ĐỪNG CHẠY - St trên FB.

 



ĐỪNG CHẠY. 

Hãy đứng vững


Đừng chạy theo ai, bởi khi bạn đuổi, họ sẽ chạy. Khi bạn đứng vững, họ mới có thể dừng lại.


Đó không chỉ là một quy luật tâm lý xã hội, mà còn là một định luật thầm lặng của đời sống tinh thần. Con người không bị hấp dẫn bởi sự cầu xin, mà bị chạm đến bởi sự vững vàng. Không ai thật sự tôn trọng một kẻ đang rượt đuổi mình; nhưng người đứng yên, không lay động, lại khiến kẻ khác phải chùn bước.


Trong các mối quan hệ, khi ta càng cố giữ, càng níu kéo, càng giải thích, càng chứng minh, ta càng đẩy người khác ra xa. Không phải vì ta sai, mà vì năng lượng của sự truy đuổi luôn mang theo nỗi sợ mất. Và nỗi sợ thì luôn phát ra tín hiệu yếu đuối. Xã hội này vận hành bằng những tín hiệu vô hình ấy. Người ta cảm nhận được dù không gọi tên được.


Khi bạn chạy, bạn tự đặt mình vào vị thế thấp hơn. Khi bạn đứng vững, bạn trở thành một điểm tựa. Động lực xã hội là như vậy: người vững tâm khiến kẻ khác phải điều chỉnh bước chân của mình.


Nhưng điều này không chỉ đúng trong quan hệ giữa người với người. Nó còn đúng trong mối quan hệ giữa con người với thế giới, với hoàn cảnh, với nguy hiểm, và thậm chí… với nỗi sợ sinh tử.


Tôi từng có một trải nghiệm mà đến nay, mỗi khi nhớ lại vẫn thấy lòng mình lặng đi như mặt nước sau cơn gió.


Một ngày nọ, tôi dạo phố. Đó là một con đường không quá đông, nhưng đủ người qua lại để không ai nghĩ rằng điều gì bất thường sẽ xảy ra. Bất chợt, từ phía trước xuất hiện một con chó to. Nó đứng đó, thân hình vạm vỡ, ánh mắt gầm gừ, hung dữ. Tôi chưa kịp phản ứng thì nó lao tới.


Khoảnh khắc ấy, mọi thứ diễn ra rất nhanh, nhưng cũng rất chậm. Nhanh đến mức không còn kịp suy nghĩ; chậm đến mức tôi cảm giác thời gian như ngừng lại. Tôi không chạy, không phải vì dũng cảm, mà vì trong khoảnh khắc ấy, không có chỗ cho hoảng loạn. Toàn bộ thân tâm tôi như bị rút về một điểm duy nhất.


Tôi đứng im.


Chắp tay.


Niệm Phật.


Không niệm bằng miệng, mà niệm bằng toàn bộ ý thức, không cầu xin, không van vái, chỉ là một sự quay về rất sâu, rất thật. Trong giây lát, tôi không còn là một người đối diện với con chó, mà chỉ là một điểm tĩnh lặng giữa dòng hỗn loạn.


Con chó vồ tới.


Và rồi… dừng lại.


Cả tôi và nó đều đứng yên.


Không cắn.


Không cào.


Không sủa.


Những người xung quanh chứng kiến đều sững sờ. Đó là một cảnh tượng mà nếu chỉ nghe kể, có lẽ nhiều người sẽ không tin. Nhưng tôi biết, điều đã xảy ra không phải là phép màu theo nghĩa huyền hoặc. Đó là sự gặp nhau của hai trạng thái: một bên là hung tính bản năng, một bên là tĩnh lực nội tâm.


Con chó không hiểu lời kinh, nhưng nó cảm nhận được trường năng lượng. Khi không còn sự khiêu khích, không còn nỗi sợ phát tán, không còn tín hiệu “chạy trốn” hay “đe dọa”, thì bản năng tấn công cũng không tìm được lý do để tiếp diễn. Hung dữ cần đối tượng để bám vào. Khi không có gì để bám, nó buộc phải dừng lại.


Giây phút ấy, tôi hiểu ra một điều rất sâu: Không phải lúc nào sức mạnh cũng nằm ở hành động. Có những lúc, sức mạnh nằm ở việc không làm gì cả, nhưng không phải là buông xuôi, mà là đứng vững.


Đời sống con người cũng vậy. Bao nhiêu cuộc xung đột, bao nhiêu mối quan hệ đổ vỡ, bao nhiêu bi kịch xã hội… bắt đầu từ việc ta chạy theo: chạy theo sự công nhận, chạy theo tình cảm, chạy theo việc phải đúng, phải thắng, phải hơn người khác. Và càng chạy, thế giới càng chạy nhanh hơn ta.


Người đứng vững không phải là người lạnh lùng. Họ chỉ không để tâm mình bị kéo lê bởi ngoại cảnh. Họ không cần đuổi theo để chứng minh giá trị của mình. Chính sự vững vàng ấy mới là thứ khiến người khác phải điều chỉnh.


Trong Phật học, gọi là định.


Trong Đạo học, gọi là tĩnh.


Trong đời thường, gọi là bản lĩnh.


Khi tâm bạn tĩnh, ngoại cảnh tự điều chỉnh. Không phải vì bạn kiểm soát được thế giới, mà vì bạn không còn phát ra những tín hiệu hỗn loạn khiến thế giới phản ứng lại.


Đừng chạy theo ai.


Đừng chạy theo lời khen.


Đừng chạy theo sự công nhận.


Đừng chạy theo cả nỗi sợ.


Hãy đứng vững.


Đứng vững trong giá trị của mình.


Đứng vững trong lương tri.


Đứng vững trong sự thiện lành.


Khi bạn đứng vững, có những thứ tự nhiên sẽ dừng lại. Và có những thứ, vốn không thuộc về bạn, sẽ tự rời đi. Đó không phải là mất mát. Đó là sự sàng lọc của đời sống.


Vandieuhay.net

Ngẫm : MỘT SỰ CÔNG BẰNG - St trên FB.

 


MỘT SỰ CÔNG BẰNG 

 Tôi Đã Sa Thải Một Bà Mẹ Đơn Thân Chỉ Vì Đến Trễ 12 Phút... Và Đó Là Sai Lầm Lớn Nhất Đời Tôi.

Tôi đã sa thải một bà mẹ đơn thân chỉ vì cô ấy đến trễ mười hai phút.

Đó là quyết định "đúng". Đó là luật lệ. Nó công bằng với tất cả những người đến đúng giờ.

Thế nhưng... đó lại là sai lầm lớn nhất đời tôi.

Tôi đã làm trưởng nhóm tại một trung tâm phân phối ở Ohio được mười năm rồi. Ở đây, mọi thứ phải chính xác như mổ xẻ. Thời gian là tiền bạc. Nếu dây chuyền dừng lại, chúng tôi mất hàng ngàn đô la. Để mọi thứ chạy trơn tru, chúng tôi có luật "ba lần cảnh cáo". Nó được viết to, bằng mực đỏ, trong sổ tay. Ai cũng ký. Ai cũng biết.

Cảnh cáo miệng. Cảnh cáo bằng văn bản. Rồi sa thải.

Maya, một trong những nhân viên giỏi nhất của tôi, đã chạm đến bước thứ ba vào thứ Ba tuần trước.

Cô ấy là một phụ nữ trầm lặng, chắc tầm ngoài ba mươi, nhưng trong ánh mắt cô ấy có một sự mệt mỏi mà tôi thường thấy ở những người già gấp đôi tuổi cô ấy. Cô ấy không bao giờ than vãn. Không bao giờ nán lại ở khu cà phê. Cô ấy đến, cúi đầu và làm việc chăm chỉ hơn bất cứ ai.

Nhưng rồi, tháng trước, mọi thứ thay đổi.

Đầu tiên là mười phút trễ. "Xe có vấn đề," cô ấy thì thầm. Tôi cảnh cáo miệng. Hai tuần sau, hai mươi phút. Cô ấy trông kiệt sức, tóc tai rối bù. Cảnh cáo bằng văn bản. Tôi còn nhớ mình đã nói:

"Maya, tôi quý cô, nhưng tôi không thể phá lệ. Cô phải có mặt đúng giờ."

Và rồi Thứ Ba đến. Công việc bắt đầu lúc 6 giờ sáng. Đến 6 giờ 12 phút, Maya chạy vội qua cửa. Cô ấy không đi đôi ủng thường lệ — mà đi giày thể thao. Mắt đỏ hoe. Trông như vừa khóc.

Tôi không hỏi tại sao. Tôi không muốn biết. Tôi chỉ muốn thực thi luật lệ. Tôi gọi cô ấy vào văn phòng. Tờ đơn sa thải đã được chuẩn bị sẵn.

"Cô biết tại sao cô ở đây rồi chứ," tôi nói bằng giọng chuyên nghiệp. Lạnh lùng.

Maya không cầu xin. Cô ấy không bịa ra câu chuyện nào. Cô ấy chỉ nhìn vào đôi tay run rẩy của mình.

"Tôi biết... tôi xin lỗi, ông Henderson. Chuyện này sẽ không xảy ra nữa."

"Tôi biết," tôi trả lời và đưa tờ giấy cho cô ấy. "Bởi vì tôi buộc phải cho cô nghỉ việc."

Cô ấy nhìn tờ giấy, rồi nhìn tôi. Trong một giây, tôi thấy trong mắt cô ấy một nỗi sợ hãi tột độ, gần như bản năng. Sau đó, một cái gì đó vụt tắt. Cô ấy ký với đôi tay run lẩy bẩy.

"Cảm ơn vì cơ hội," cô ấy thì thầm.

Cô ấy bước ra ngoài trời lạnh. Còn tôi, tôi quay lại với cốc cà phê, tự hào vì đã "tuân thủ các quy tắc".

Tôi là một thằng ngốc.

Hai ngày sau, tôi đang ở phòng nghỉ. Hai nhân viên cũ đang nói chuyện gần máy bán hàng tự động.

"Không thấy Maya nữa."

"Jack đã sa thải cô ấy hôm thứ Ba."

"Thật tệ... nhất là với thằng bé."

"Thằng bé nào?"

"Ông không biết à? Cô ấy bị đuổi khỏi nhà ba tuần trước. Tòa nhà được bán. Họ cho 30 ngày để dọn đi. Cô ấy không thể tìm được chỗ thuê mới vì không có tiền đặt cọc. Cô ấy đang sống trong chiếc Ford Taurus cùng cậu con trai sáu tuổi."

Miếng ăn trong miệng tôi bỗng trở nên vô vị.

"Ông đùa tôi à."

"Không. Tại sao ông nghĩ cô ấy đến trễ? Cô ấy tắm cho con trai ở mấy phòng tập gym mở 24/24, nhưng đôi khi bảo vệ đuổi đi trước khi cô ấy kịp mặc quần áo xong cho thằng bé."

Tôi đứng sững lại, chết lặng.

Những lần trễ hẹn "không thể chấp nhận được" đó ư?

Đó không phải là sự lười biếng.

Đó là một người mẹ đang cố gắng rửa ráy cho con mình trong một cái bồn rửa công cộng để thằng bé không bị bạn bè ở trường chê cười.

Và tôi... vừa lấy đi nguồn thu nhập duy nhất của cô ấy.

Tôi rời khỏi vị trí làm việc với cái cớ khẩn cấp gia đình. Tôi đi tìm cô ấy... nhưng tìm một bóng ma thì tìm ở đâu?

Tôi đến căn hộ cũ. Bị niêm phong.

Phòng tập gym. Không thấy.

Các trung tâm trú ẩn. "Hết chỗ."

"Danh sách chờ cho một bà mẹ và một đứa trẻ à? Sáu tháng," một nhân viên mệt mỏi nói với tôi.

Lúc 8 giờ tối, nhiệt độ là −2 

∘C. Tôi định bỏ cuộc. Tôi đỗ xe trong bãi đậu xe của một siêu thị Walmart.

Và tôi thấy cô ấy.

Tít phía sau, trong bóng tối. Một chiếc Ford Taurus xanh cũ kỹ. Máy đã tắt. Kính xe mờ hơi.

Tôi bước về phía xe. Tôi gõ nhẹ vào cửa kính.

Maya giật mình, giơ cái lược chải tóc lên như một vũ khí. Rồi cô ấy nhận ra tôi. Cô ấy hé mở cửa kính. Một luồng khí lạnh buốt lọt vào.

"Ông Henderson? Tôi... tôi có thể nộp lại đồng phục vào ngày mai. Tôi chỉ cần—"

"Maya, mở cửa ra."

Cô ấy do dự, rồi mở khóa.

Ở ghế sau, dưới một đống chăn mền, một cậu bé đang ngủ, ôm chặt một mô hình siêu anh hùng. Má thằng bé xanh lét vì lạnh.

"Thằng bé ổn không?"

"Nó lạnh," cô ấy vừa thì thầm vừa khóc. "Hết xăng rồi. Tôi không thể bật máy sưởi nữa... tôi không biết phải đi đâu."

Tôi nhìn cô ấy. Tôi đã đánh giá giá trị của cô ấy bằng phút. Bằng mười hai phút ngắn ngủi.

"Cô không cần nộp lại đồng phục đâu," tôi nói.

Cô ấy sợ hãi.

"Cô quay lại làm việc. Ngày mai. Hoặc bất cứ khi nào cô muốn. Tôi đã hủy hồ sơ đó rồi. Đó là một sai sót hành chính. Cô không bị sa thải."

Cô ấy chớp mắt, bối rối.

"Nhưng... luật lệ... ba lần cảnh cáo..."

"Mặc kệ luật lệ," tôi thì thầm. "Và mặc kệ cảnh cáo."

Tôi đưa cô ấy 300 đô la.

"Có một nhà nghỉ Motel 6 cách đây hai dãy phố. Nó không phải thiên đường, nhưng nó ấm. Đi nghỉ đi. Tắm nước nóng cho thằng bé. Gọi một cái pizza."

"Tôi không thể trả lại ông..."

"Đây không phải là một khoản vay. Đây là lời xin lỗi."

Tôi theo họ đến khách sạn. Khi ánh đèn phòng 104 bật sáng, tôi mới chịu lái xe về nhà.

Ngày hôm sau, tôi triệu tập phòng Nhân sự. Chấm dứt việc áp dụng luật mù quáng. Chúng tôi đã lập một quỹ hỗ trợ khẩn cấp cho nhân viên.

Maya trở lại sau ba ngày. Đúng giờ.

Và nếu cô ấy có đến trễ mười phút?

Tôi sẽ pha cà phê và hỏi: "Tôi có thể giúp gì cho cô không?"

Chúng ta sống trong một thế giới bị ám ảnh bởi các quy tắc, các con số, hiệu suất.

Mải nhìn vào đồng hồ, chúng ta quên nhìn vào con người.

Hãy cứng rắn. Hãy công bằng.

Nhưng quan trọng nhất... hãy nhân văn.

Một quy tắc không biết run rẩy.

Một bảng Excel chưa bao giờ cảm thấy lạnh.

Con người thì có.

Hãy chia sẻ thông điệp này. Hãy nhắc nhở thế giới rằng quy tắc duy nhất thực sự quan trọng, đó là lòng tốt.


St

CÂY ĐÒN GÁNH - Nguyễn Vân Thiên.

 



CÂY ĐÒN GÁNH

Lưng cây đòn gánh mòn trơn

Lời tre khô nhắc công ơn mẹ già


Chợ chiều, chợ sớm bôn ba

Hái gieo tất bật đồng xa đồng gần

Bán than mua muối tảo tần

Bao lần xuống biển, bao lần lên non

Da xương bào cật tre mòn

Trăm năm mẹ gánh đời con qua đèo

Gánh yêu thương, gánh khổ nghèo

Gánh mơ ước lẫn gieo neo đi về.

Gánh bình minh lội bến quê,

Gánh hoàng hôn dọc chân đê bước dồn

Gánh trăng khuya giếng đầu thôn

Gánh than lửa chạy qua cồn cát trưa


Một đời gánh nắng và mưa

Mòn vai mà mẹ vẫn chưa yên lòng,

Một đời gióng đứt đòn cong,

Vì ai vai lệch, lưng còng? Mẹ ơi!


NGUYỄN VÂN THIÊN

Thơ : MẸ TA TRẢ NHỚ VỀ KHÔNG - Đỗ Trung Quân. 6

 



MẸ TA TRẢ NHỚ VỀ KHÔNG 

Đỗ Trung Quân


Ngày xưa chào mẹ, ta đi

Mẹ ta thì khóc, ta đi thì cười

Mười năm, rồi lại thêm mười

Ta về ta khóc, mẹ cười… lạ không?


“Ông - ai thế? Tôi chào ông!”

Mẹ ta trí nhớ... về mênh mông rồi

“Ông có gặp thằng con tôi?

Hao hao... tôi nhớ... nó người… như ông”


Mẹ ta trả nhớ về không

Trả trăm năm lại bụi hồng... Rồi đi...


#TTVN 

P/S: Nhà thơ Đỗ Trung Quân gửi gắm tâm tình và nhắn nhủ tới tất cả những ai vẫn còn mẹ trên đời: Đừng để đến lúc trí nhớ của mẹ bị trả về hư không, ta mới nhận ra mình đã bỏ lỡ quá nhiều lần trở về./.


(Ảnh minh họa: nguồn Internet)

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

Suy ngẫm : CÔ GÁI BÁN HOA - St trên FB.

 


CÔ GÁI BÁN HOA. 

Có một cô gái bán hoa sau khi đã bán gần hết số hoa của của mình cũng là lúc cô phát hiện trời đã tối, cô liền quyết định về nhà sớm hơn dự định. Lúc này, cô phát hiện giỏ hoa của mình vẫn còn một bông hoa hồng chưa bán hết, cô liền đem tặng bông hoa hồng đó cho một người ăn xin bên đường rồi vui vẻ trở về nhà.

Người ăn xin chưa bao giờ nghĩ rằng lại có một việc tốt như vậy xảy đến đối với mình, lại có một cô gái xinh đẹp tặng cho mình hoa hồng, đúng là mặt trời mọc từ đằng Tây rồi, thế nên anh ta quyết định không ngồi ăn xin nữa mà trở về nhà.

Về đến nhà, anh ta tìm một cái lọ lấy nước và cắm bông hoa hồng vào đó, đặt lên trên bàn rồi tự mình ngồi ngắm nghía. Bất chợt anh ta thấy rằng, bông hoa đẹp như vậy sao lại cắm trong cái lọ bẩn thỉu được, thế nên anh ta mang lọ đi đánh rửa sạch sẽ và cho rằng thế mới xứng với bông hoa.

Làm xong tất cả anh ta lại vừa ngồi vừa ngắm nghía bông hoa, và anh ta lại thấy rằng lọ hoa đẹp đẽ như vậy sao lại để trên một cái bàn vừa bẩn vừa lộn xộn được, thế là anh ta lại bắt đầu lau dọn bàn sạch sẽ gọn gàng.

Làm xong anh ta lại ngồi ngắm nghía bông hoa, rồi anh ta lại phát hiện ra rằng, lọ hoa đẹp đẽ là thế, cái bàn gọn gàng sạch sẽ là thế, sao lại có thể để trong một căn phòng bụi bẩn bừa bãi được, thế là anh ta lại quyết định dọn dẹp căn phòng, sắp xếp lại đồ đạc gọn gàng.

Chả mấy chốc cả căn phòng nhờ có bông hoa hồng mà tươi sáng và ấm áp hơn hẳn, đang lúc đắm chìm trong cảm giác say mê, anh ta bất chợt thấy hình ảnh của mình qua tấm gương, đầu bù tóc rối, quần áo bẩn thỉu rách nát, thế là sau bao nhiêu năm, lần đầu tiên anh ta đi tắm gội thay quần áo, mặc dù quần áo có chút cũ nhưng sạch sẽ.

Sau khi chỉnh đốn lại mình xong, soi gương anh ta phát hiện ra rằng mình trông cũng không đến nỗi nào, tại sao lại đi làm ăn xin cơ chứ? Đây là lần đầu tiên anh ta tự hỏi mình như vậy từ lúc làm ăn xin đến giờ. Anh ta nhìn lại mình trong gương rồi nhìn lại căn phòng, nhìn lọ hoa và cuối cùng anh ta đi đến một quyết định quan trọng, đó là từ ngày mai anh ta sẽ không đi làm ăn xin nữa mà sẽ đi tìm việc làm khác.

Anh ta không sợ bẩn, không sợ vất vả nên rất nhanh, anh ta đã tìm được công việc cho mình. Và cũng có thể bông hoa hồng trong lòng anh ta đã cổ vũ khích lệ anh ta không ngừng cố gắng, nên mấy năm sau anh ta đã có sự nghiệp riêng cho mình. 

Sau vài năm, anh ta tìm gặp cô gái bán hoa năm nào đơn giản chỉ là cảm ơn cô đã tặng cho anh ta một bông hoa hồng khi anh ta đang là ăn xin. Đối với anh ta đó không đơn giản chỉ là bông hoa hồng mà đó là một niềm hy vọng vào cuộc sống. Khi gặp lặ nhau, Họ bắt đầu trao đổi về nhau nhiều hơn !

Trong thực tế, mỗi người đều có những ưu điểm, chúng ta cần phải tin tưởng vào chính bản thân mình, bất kể hoàn cảnh thế nào cũng không nên từ bỏ chính mình. Đừng đắm chìm trong bờ vực của sự thất bại, chỉ cần bạn thực hiện một chút thay đổi nho nhỏ bạn sẽ thấy cuộc sống của bạn sẽ có sự khác biệt.

Thay đổi chính mình, đối mặt với mọi thứ bằng một thái độ tích cực, bạn sẽ tìm được bước đột phá vượt qua mọi khó khăn, tìm ra con đường nâng cao giá trị và phát triển bản thân một cách tốt nhất.

Khi bạn thay đổi chính mình, mọi thứ cũng sẽ thay đổi.

St DanOngCoRau

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026

Thơ: ĐÂY THÔN VĨ DẠ - Hàn Mặc Tử.

 



ĐÂY THÔN VĨ DẠ

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió, mây đường mây,

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...

Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay?

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra...

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

HÀN MẶC TỬ.

Hồi ức : THƯƠNG THƯƠNG NÉT CHỮ... - Nam Phan.

 



THƯƠNG THƯƠNG NÉT CHỮ HỌC TRÒ. 

Thời tiểu học, sau thời gian viết chữ bằng viết chì, là đến thời gian viết chữ bằng viết lá tre. Mỗi lần đến lớp, phải mang theo một bình mực nhỏ, mỗi lần viết phải chấm vào bình, viết được vài chữ lại chấm tiếp. Mỗi lần mình đi học về là tay chân mặt mũi áo quần của mình đều lấm lem mực. Lớn lên một chút thì có viết mực ruột mềm, bơm mực trước ở nhà, nên không còn cảnh vô tình làm đổ bình mực lấm lem cả mặt bàn và sách vở nữa. Mực thì mình tự pha bằng cách cho cục mực mua ngoài chợ vô nước nóng. Có lần, nghe theo lời một bạn gái trong lớp,  mình thử lấy trái mồng tơi về pha thành mực tím để viết chung với bạn, nhưng chữ viết bằng mực mồng tơi thì lại rất lợt, mà thời đó viết chữ trên giấy đen ố vàng, không đọc được chữ, nên rồi chuyện mực tím mồng tơi cũng không thành.


Thời đó một vài bạn nhà khá giả mua được cây viết Hero huyền thoại, còn mình và những bạn khác thì chỉ là cây viết mực bình thường. Có lần một bạn mua được cây viết Hero rất đẹp, bạn cho cả nhóm viết thử, đúng là tiền nào của nấy, cảm giác cầm viết Hero khác hẳn cây viết thường của mình. Éo le, ngay trong hôm đó, sau giờ ra chơi, cây viết Hero của bạn bị mất, mình và những bạn trong nhóm nằm trong diện tình nghi. Tiếp theo là màn kiểm tra cặp xem ai lấy trộm viết Hero của bạn, dĩ nhiên cây viết đó không nằm trong cặp của mình. Chỉ là một chút ấm ức tuổi học trò, nhưng mình bắt đầu hiểu ra, những người nghèo thường dễ bị nghi ngờ nhất. Kể từ đó, thấy ai có đồ đạc gì quý giá là mình tránh xa để khỏi bị vạ lây, và những chổ nào có camera an ninh, mình luôn tìm cách đứng ở vị trí mà camera thấy mình rõ nhất.


Lên cấp 3, cuối cùng thì mình cũng có được cây viết Hero cho riêng mình, nhưng bài vở cấp 3 khá nhiều nên mình không còn nắn nót viết cho đẹp như thời cấp 2 nữa, và Hero hay không phải Hero cũng không còn quan trọng nữa. Thời đó, áo trắng học trò của mình may bằng vải kate thường nên hay bị ngả vàng. Mỗi lần giặt áo, trong lần xả nước sau cùng, mình nhỏ vô vài giọt mực, khi thì mực tím, khi thì mực xanh, vậy là áo trắng của mình có vẻ như trắng hơn và mới hơn một chút. Quê nghèo, nhiều bạn cũng chỉ có đúng một cái áo trắng để mặc đi học như mình, đi học về phải giặt ngay để kịp khô cho ngày mai. Bởi vậy, vài giọt mực trong nước xả cũng đem lại chút niềm vui nho nhỏ. Con trai thì không sao, chỉ tội nghiệp mấy bạn gái, đang tuổi cần ăn diện, mà cũng chỉ có duy nhất một cái áo trắng để mặc đi học.


Thời cấp 3, mình có một người bạn có ngón tay dài và viết chữ nghiêng nghiêng khá đẹp. Cả bạn và mình thường hay vô tư giúp người khác mà không suy tính thiệt hơn. Có lần để giúp mình có học bổng dành riêng cho đoàn viên, bạn vô tư xé giấy tập viết luôn cho mình cái đơn xin vào đoàn. Nhìn bạn cắm cúi viết, mình chợt nghĩ, mình đã làm chuyện ăn cơm nhà vác ngà voi, còn bạn thì muốn vác luôn cả con voi. Đầu năm lớp 12, mình nói với bạn mình đã chọn Hóa, bạn còn phân vân giữa Điện và Hóa, nói là sẽ trả lời mình sau. Nhưng rồi bạn không bao giờ trả lời mình nữa, một ngày đầu tháng 10, bọn mình đi hái hoa sứ kết vòng hoa tiễn bạn về trời. Bài kiểm tra cuối cùng bạn chưa kịp biết điểm, mình giữ lại làm kỷ niệm. Theo thời gian, màu giấy đã úa vàng, nhưng nét chữ nghiêng nghiêng của bạn vẫn còn đó.


Cuối năm cấp 3, có một bạn lớp dưới tặng mình một cây viết Hero, mình để dành để vô đại học sẽ viết. Nhưng vô đại học, thầy cô giảng bài nhanh quá, viết bài không kịp, nên mình toàn dùng viết bi, và chữ của mình ngày càng xấu theo thời gian. Lúc đó mình mới hiểu vì sao ngày xưa thầy cô không cho học trò sử dụng viết bi. Thật ra giữa Saigon hoa lệ, ít ai còn sử dụng viết mực như thời học sinh. Những lúc có thời gian, mình thường tranh thủ đạp xe chạy một vòng, đôi khi nhắm mắt lại để phân biệt mùi Chợ Lớn với mùi Saigon. Có lần ghé Bưu điện Thành phố, bất chợt thấy một bác viết thư thuê ngồi cặm cụi viết ở một góc, và bác vẫn còn dùng viết mực. Tính lại nói chuyện với bác nhưng khách hàng của bác đông quá, nên mình chỉ đứng nhìn, lặng lẽ ngắm biết bao nhiêu nổi niềm của nhân thế được gửi vào những nét mực kia. 


Mấy mươi năm vật đổi sao dời, máy tính trở nên quá thông dụng, bàn tay năm ngón kiêu sa của thế nhân hầu như ít khi cầm viết, mà chủ yếu dùng để gõ bàn phím. Đến khi điện thoại thông minh xuất hiện, kể cả viết bi cũng ít được sử dụng, nói chi đến viết mực. Cần gì thì gõ note trên điện thoại, gửi tin nhắn cho nhanh, hoặc có thể ghi âm luôn rồi từ từ nghe lại sau cho tiện. Ngay cả ký tên thì vẫn có thể dùng luôn cả chữ ký điện tử cho nhanh, cần gì phải dùng viết để ký. Ngày xưa, những bạn gái dễ thương của mình thỉnh thoảng cũng nhận được những lá thư tình của tuổi ngây thơ vụng dại trên giấy học trò. Có những lá thư không ghi tên người gửi, tụi mình nhìn nét chữ để đoán người viết là ai. Không biết học trò giờ này còn ai viết thư tình trên giấy nữa không, có lẽ là không…

NAM PHAN.

Thứ Hai, 5 tháng 1, 2026

Thơ : KHÔNG THỂ NHẠT NHÒA - hathuthuy.

 


KHÔNG THỂ NHẠT NHÒA. 

Ta sẽ hát cho rừng yên ngủ

Bằng tình ca rất đổi mặn nồng

Có yêu thương xạc xào gió vỗ

Cây đợi rừng gần suốt trăm năm.


Sẽ hát bài ca nồng nàn nhất

Cho lá vàng rơi mãi về xa

Để chan hòa trong từng nốt nhạc

Tình muôn miên không thể nhạt nhòa.

hathuthuy