Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2026

Hồi ức : BỮA SÁNG NGÀY XƯA - St trên FB.

   


BỮA SÁNG NGÀY XƯA. 

Năm 1990 – Bữa sáng ngày xưa và bữa sáng bây giờ: Cái đói đi học, cái no lại khó ăn**

“Hồi đó tụi nhỏ đi học bụng đói queo… còn giờ no đủ lại phải năn nỉ từng muỗng.”

Bữa sáng hồi đó nói thiệt… nhiều khi không có gì gọi là bữa sáng.

Đứa thì vét chén cơm nguội chan nước mắm, ăn đỡ rồi xách cặp đi học.

Đứa nghèo hơn nữa, chỉ uống ca nước lã cho đỡ xót ruột rồi đi luôn.

Đường đất dài thâm thẩm, hai bên ruộng lúa mênh mông. Bụng đói cồn cào mà vẫn ráng đi cho kịp giờ.

Vô tới lớp, bụng réo từng cơn cũng hổng dám nói. Chỉ cúi đầu học, lâu lâu nuốt nước miếng cho đỡ đói. Thấy bạn có cục khoai, miếng chuối mà thèm đứt ruột… rồi cũng quay mặt đi, làm bộ hổng thấy.

Cái nghèo hồi đó nó vậy đó – im im mà thấm dữ lắm.

Còn bây giờ…

Bàn ăn sáng đầy đủ: hủ tiếu nóng hổi, ổ bánh mì thơm lừng, ly sữa còn bốc khói....

Mà con nít lại hổng chịu ăn.

Phải đút từng muỗng, phải năn nỉ: “Ăn đi rồi lát má mua đồ chơi, cho coi điện thoại…”

Có khi ăn một bữa sáng mà kéo dài gần cả tiếng.

Ngày xưa – thiếu ăn nhưng hổng dám bỏ học.

Ngày nay – đủ đầy mà ăn uống lại thành chuyện khó.

Chén cơm nguội năm xưa tuy đạm bạc…

mà nuôi lớn cả một tuổi thơ nghèo, nhớ quài !...

Thạnh Phú hôm nay (FB) 

Suy ngẫm : CHUYỆN 2 CÁI KẸP - St trên FB.

 



CHUYỆN 2 CÁI KẸP 

Con người từng biết cách làm ra những thứ để gắn bó lâu dài.

ha tôi đưa cho tôi hai chiếc kẹp phơi đồ.

Ông nói nhẹ:

“Nhìn đi… đây là câu chuyện của cả một thời.”

Một tay, ông đặt chiếc kẹp từ những năm 1960. Gỗ đặc, cứng cáp. Bề mặt đã mòn đi theo năm tháng, nhưng lại mịn màng theo cách rất riêng. Sáu mươi năm trôi qua, nó vẫn kẹp chắc như ngày đầu.

Tay còn lại là chiếc kẹp của năm 2025. Nhẹ hơn, gỗ nhạt màu, cảm giác mong manh. Lò xo nhỏ, lỏng lẻo. Trên bao bì ghi “siêu bền”, khiến cha tôi chỉ nhướng mày.

Nhìn qua, chỉ là hai chiếc kẹp.

Nhưng thật ra, chúng đang kể một câu chuyện lớn hơn nhiều.

Một bên là thứ được làm ra để dùng lâu.

Một bên là thứ được làm ra để… sớm hỏng.

Từ chỗ trân trọng độ bền, con người dần chuyển sang tiêu dùng nhanh.

Từ tay nghề và sự chăm chút, mọi thứ bị kéo về giá rẻ và sản xuất hàng loạt.

Từ trách nhiệm, chuyển thành thói quen mua rồi bỏ.

Người ta tạo ra sản phẩm mà chính họ biết sẽ không bền.

Để rồi ta phải quay lại mua lần nữa.

Mọi thứ hỏng đi rất khẽ.

Sợi dây sờn dần.

Bản lề nứt ra.

Lò xo yếu đi.

Không phải vì ta muốn nhiều hơn.

Mà vì thứ cũ chưa từng được làm để tồn tại lâu.

Hệ quả hiện ra khắp nơi.

Bãi rác đầy lên.

Ví tiền vơi đi.

Và sâu hơn nữa, trong suy nghĩ của mỗi người…

Ta bắt đầu quen với việc mọi thứ đều tạm bợ.

Không có gì cần giữ lâu.

Rồi tôi tự hỏi…

Liệu cách nghĩ này có dừng lại ở đồ vật không?

Hay nó len vào cả cách ta đối xử với nhau.

Với các mối quan hệ.

Với cộng đồng.

Với ngôi nhà mình sống.

Thậm chí… với chính Trái Đất.

Như thể mọi thứ đều có thể thay thế.

Có thể bỏ đi.

Nhưng không nhất thiết phải như vậy.

Chiếc kẹp cũ kia nhắc tôi nhớ rằng…

Con người từng biết cách làm ra những thứ để gắn bó lâu dài.

Và nếu đã từng làm được, thì vẫn có thể làm lại.

Chất lượng vẫn còn giá trị.

Sự chăm chút vẫn có ý nghĩa.

Ý định khi tạo ra một thứ gì đó… vẫn quan trọng.

Ta có thể chọn làm thứ gì đó để sửa được, để truyền lại, để giữ lại.

Hai chiếc kẹp nằm gọn trong lòng bàn tay.

Nhưng câu chuyện của chúng thì lớn hơn rất nhiều.

Nó nói về lựa chọn.

Và về thế giới mà những lựa chọn đó đang âm thầm tạo ra.

ST TRÊN FB. 

Cuộc sống : CÁI MÁY ATM - St trên mạng.

 


"CÁI MÁY ATM"

Khi tôi hỏi ngày cưới của con trai mình, con dâu trả lời: “Tụi con cưới hôm qua rồi. Chỉ dành cho VIP thôi.” Một tuần sau, nó gọi điện đòi tiền thuê nhà. Tôi nói: “Mẹ đã cảnh báo con rồi mà…?”

​Những câu nói đó đập vào tôi đau điếng.

"​Chỉ dành cho VIP".

​Tôi đứng trong chính căn bếp của mình, tuổi đã ngoài bảy mươi mốt, nhìn chằm chằm vào người phụ nữ suốt ba năm qua đã lĩnh tiền của tôi và gọi tôi là “mẹ” khi cần tiền. Con trai tôi, Ethan, đứng sau nó, im lặng, mắt dán xuống sàn.

​Chúng đã không mời tôi. Thậm chí không báo cho tôi biết.

​Và giờ thì chúng đang cười toe toét.

​Trong suốt ba mươi sáu tháng, tôi đã trả $1.800 tiền thuê nhà cho chúng. Tôi trả tiền chợ, sửa xe, thậm chí cả chiếc váy cưới màu hoa oải hương của nó—chiếc váy tôi sẽ không bao giờ được thấy nó mặc. Bảy mươi bảy nghìn năm trăm đô la “viện trợ”, mỗi xu đều được ký tên dưới danh nghĩa tình yêu.

​“Chỉ gia đình thôi,” nó nhắc lại, giọng ngọt như mật, độc như nọc. “Gia đình thực sự.”

​Tôi không khóc. Tôi chỉ gật đầu, bởi cuối cùng tôi đã hiểu vị trí của mình: không phải mẹ, không phải khách mời—chỉ là cây ATM không đáy.

​Một tuần sau, điện thoại reo. Giọng nó vui vẻ, thản nhiên. “Tiền thuê nhà trễ rồi. Mẹ chuyển khoản chưa?”

​Tôi nhìn ra biển qua khung cửa sổ, nhìn căn biệt thự mà Harold và tôi đã xây nên bằng bốn mươi năm lao động và năm mươi năm tin tưởng. “Mẹ đã cảnh báo con rồi mà?” tôi nói khẽ.

​Nó khựng lại. “Cảnh báo con chuyện gì?”

​“Điều kiện.”

​Cạch. Im lặng.

​Tối hôm đó, tôi ngồi vào bàn ăn—cái bàn từng rộn rã tiếng cười—và trải hết các hóa đơn ra. Ba mươi sáu tờ séc thuê nhà. Hóa đơn đi chợ. Hóa đơn sửa chữa. Cuốn sổ cái ghi lại sự hào phóng của chính tôi. Tổng số tiền nhìn chằm chằm vào tôi như một vết thương: $77.500. Tình mẫu tử của tôi, được tính bằng con số.

​Tôi nhìn chiếc ghế trống của Harold. “Tôi chỉ là một cái máy rút tiền thôi,” tôi lầm bầm. Và rồi, lần đầu tiên, tôi mỉm cười. Bởi vì cái máy đó đã hỏng rồi.

​Khi chúng yêu cầu chìa khóa căn biệt thự năm triệu đô la của tôi, tôi không la hét. Không van xin. Tôi bảo chúng có thể lấy—sau khi đáp ứng điều kiện của tôi. Sáu tháng tiền thuê nhà tự trả, và một thỏa thuận ký kết từ bỏ mọi quyền thừa kế.

​Sự im lặng ở đầu dây bên kia thật tuyệt vời.

​Ba ngày sau, xe của chúng vẫn chạy thẳng vào đường lái xe—nó đeo kính râm, còn thằng con tôi thì tránh nhìn vào mắt tôi. Chúng bước qua cửa nhà tôi như những kẻ chinh phạt.

​“Rộng rãi thật,” nó lẩm bẩm. “Hoàn hảo để tiếp đãi khách.”

​“Đây là nhà của tôi,” tôi nói.

​“Không lâu nữa đâu,” nó cười toe. “Chìa khóa, làm ơn.”

​Tôi nhìn nó và nhìn thằng con trai mà tôi đã nuôi lớn bên cạnh nó, và tôi cảm thấy bốn mươi năm kiên nhẫn của mình đã hóa thành thép. “Chỉ VIP mới được giúp đỡ. Con nhớ chứ?”

​Nụ cười nhếch mép của nó lung lay. Ethan đỏ mặt. “Mẹ, đừng làm mọi chuyện khó khăn hơn—”

​“Khó khăn hơn?” Giọng tôi bình tĩnh, nhưng không khí như rung lên. “Mẹ đã làm mọi thứ dễ dàng cho các con rồi. Bảy mươi bảy nghìn năm trăm đô la dễ dàng. Cái máy hỏng rồi, giờ không còn gì nữa.”

​Mặt nó méo đi. “Mẹ sẽ hối hận đấy.”

​“Mẹ đã hối hận rồi,” tôi nói.

​Chúng rời đi trong im lặng, bánh xe văng tung tóe sỏi đá. Lần đầu tiên, ngôi nhà trở nên yên tĩnh—và an toàn.

​Sáng hôm sau, tôi đến ngân hàng. Tôi hủy bỏ mọi khoản chuyển khoản tự động, mọi sự rò rỉ âm thầm mà tôi đã cho phép. Giám đốc nhìn tôi với ánh mắt giống như sự tôn trọng. “Bà Clark,” anh ta nói, “đã đến lúc bà giữ lại thứ gì đó cho riêng mình rồi.”

​Tối hôm đó, khi tôi khóa những cánh cửa mới của biệt thự, tiếng sóng biển gầm gừ bên ngoài như một tràng pháo tay. Tôi không phải là nạn nhân. Tôi không phải là ngân hàng. Tôi là một người phụ nữ có điều kiện—và có giới hạn.

​Khi điện thoại reo lần nữa, tôi để nó kêu.

​Bởi vì cuối cùng tôi đã nhớ ra quy tắc quan trọng nhất:

Yêu không có nghĩa là phải đầu hàng.

​Và cái máy ATM kia?

Nó vẫn tiếp tục hỏng.

St trên mạng. 

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2026

Nhìn ra : BẮT ĐẦU TỪ $70... - St trên mạng.

 


BẮT ĐẦU TỪ $70...

Cậu Bé Ryan: Bắt Đầu Từ $70 Để Thay Đổi Thế Giới

Cậu bé chỉ mới sáu tuổi khi quyết định thay đổi thế giới.

Tên cậu là Ryan Hreljac, sinh ra ở Canada vào tháng 5 năm 1991.

Một ngày nọ, trong lớp học, cô giáo giải thích về cuộc sống của trẻ em ở châu Phi: rất nhiều em chết vì khát, trong khi cậu chỉ cần mở vòi nước là có nước uống. Những lời này đã khắc sâu trong tâm trí cậu bé. Với sự nghiêm túc của một đứa trẻ, Ryan hỏi:

“Thưa cô, xây một cái giếng để cho những đứa trẻ đó có nước uống thì tốn bao nhiêu tiền ạ?”

Câu trả lời thật đơn giản: khoảng 70 đô la.

Ryan chạy về nhà và tuyên bố với mẹ mình, Susan, rằng cậu cần số tiền này. Mẹ cậu mỉm cười và nói rằng cậu phải tự mình kiếm lấy. Bà giao cho cậu những việc nhà lặt vặt, mỗi tuần kiếm được vài đô la tiền công.

Sau vài tháng, Ryan đã gom đủ 70 đô la và đến tổ chức từ thiện WaterCan. Tại đó, cậu mới biết sự thật: chi phí thực sự để xây một cái giếng không phải là 70 đô la, mà là 2.000 đô la.

Mẹ cậu cố gắng giải thích rằng việc kiếm số tiền lớn như vậy là điều không thể. Nhưng Ryan đã không bỏ cuộc. “Vậy thì con sẽ quay lại khi con kiếm đủ tiền,” cậu nói, với quyết tâm của một người trưởng thành.

Và cậu đã giữ lời hứa. Cậu tiếp tục làm việc, gõ cửa nhà hàng xóm, vận động các bạn cùng lớp. Quyết tâm của cậu đã truyền cảm hứng cho tất cả mọi người: anh chị em, bạn bè, thầy cô.

Vào tháng 1 năm 1999, nhờ nỗ lực không ngừng nghỉ của cậu bé, chiếc giếng đầu tiên đã được đào tại một ngôi làng ở miền bắc Uganda.

Sau khi dự án hoàn thành, trường học của Ryan đã quyết định kết nghĩa với trường học của ngôi làng đó. Qua đó, Ryan làm quen với Akana, một cậu bé người Uganda phải đi bộ hàng cây số mỗi ngày để đến trường.

Cảm động trước câu chuyện này, Ryan xin phép cha mẹ cho cậu được gặp Akana. Năm 2000, cậu đặt chân đến châu Phi và thấy hàng trăm người đang chờ đợi cậu, xếp thành một hàng danh dự dài và hô vang tên cậu.

“Họ thực sự biết tên con sao?” cậu bé hỏi, không thể tin được.

“Không chỉ ở đây. Trong vòng một trăm cây số, ai cũng biết tên con,” người hướng dẫn trả lời.

Ngày nay, Ryan đã 33 tuổi. Cậu điều hành quỹ từ thiện của riêng mình và đã góp phần xây dựng hơn 400 giếng nước tại châu Phi, mang lại nước uống, sự sống và hy vọng cho hàng trăm nghìn người.

Sự cam kết của cậu không chỉ dừng lại ở đó: cậu còn hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo cộng đồng địa phương cách quản lý và bảo trì nguồn nước quý giá này.

Trong khi chúng ta thường để bản thân bị cuốn vào những điều phù phiếm, câu chuyện của Ryan nhắc nhở chúng ta ý nghĩa thực sự của việc trở thành một anh hùng: đó là có đủ can đảm để không quay mặt làm ngơ và tin rằng ngay cả đôi tay của một đứa trẻ cũng có thể thay đổi số phận của rất nhiều người.

St trên mạng. 

Thơ : TRONG MẮT ANH - Tây Sơn.

 .               



TRONG MẮT ANH

                       

Anh choàng tấm lụa hồng lên thân ngọc

Giữ hương xuân trên suối tóc hò reo

Vuốt quanh eo cho quá khứ bay vèo

Rèm mi khép giọt lệ treo nhún nhảy


Tay nâng niu đôi môi hồng mấp máy

Ngực căng tròn mây mẩy vị trinh nguyên

Mặc đời gieo vào em mấy tật nguyền

Đàn bà cũ buồn riêng chưa liền sẹo


Trong mắt anh khoảng trời yêu thật khéo

Tay dịu dàng gọt đẽo những nếp nhăn

Gạn đục Em trong trắng tựa chị hằng

Gom lại đủ thuở tròn trăng tinh khiết


Tan vào nhau, chảy vào nhau mãnh liệt

Thu nhúng nhường Xuân ghì siết lên ngôi

Trong mắt yêu hai nửa quá tuyệt vời 

Tình không cũ Em với Tôi không cũ.

TÂY SƠN.

Hồi ức : KÝ ỨC TUỔI THƠ - St trên FB.

 



KÝ ỨC TUỔI THƠ. 

“Có những vị ngọt… cả đời này mình không bao giờ ăn lại được nữa.”

Hồi cỡ năm 1996…

Trong cái sóng chén (tủ gạc-măng-rê cũ) của má, lúc nào cũng có một hũ đường cát.

Người lớn để nấu ăn…

Còn tụi nhỏ tụi tui thì coi như “của để dành”.

Mỗi lần trưa đứng bóng, nhà im re,

má nằm võng quạt phe phẩy ngoài mé hè…

tụi tui lén lén mở tủ.

Cái tiếng “cọt kẹt” nhỏ xíu thôi,

mà nghe như vang khắp nhà.

Xúc lẹ một muỗng đường,

bỏ cái rẹt vô miệng…

ngọt lịm, dính cả đầu lưỡi,

mà thấy vui mắc cười, đứa này nhéo đứa kia để nhịn cười.

Ăn xong còn lấy tay vuốt lại cho mặt đường bằng phẳng,

tưởng đâu má hổng hay.

Ai dè…

má chỉ cần liếc một cái là biết liền.

Có bữa bị rầy, đứng cúi đầu,

miệng còn dính đường…

mà trong lòng thì vừa sợ, vừa mắc cười.

Giờ lớn rồi…

muốn ăn ngọt cỡ nào cũng có.

Mà lạ cái…

không còn thấy ngon như hồi đó nữa.

Chắc tại…

không còn cái tủ gỗ cũ mỗi lần mở là nghe “cọt kẹt”…

không còn những buổi trưa nín thở đi ăn vụng…

và…

cũng không còn má đứng đó,

giả bộ la… rồi quay đi lau nước mắt.

Tự nhiên nhớ quá…

mà không biết tìm lại ở đâu.


St trên FB. 

 



KINH XÁNG XÀ NO

(Mời đọc cho biết kẻo đi hết đồng bằng sông Cửu long mà không biết chi ... ?!)


    Là con kênh vừa rộng vừa sâu lại vừa thẳng chảy qua TP Vị Thanh, thủ phủ tỉnh Hậu Giang mới, cách TP Cần Thơ tròn vo 40 km. Nghe đồn, thỉnh thoảng từ dòng kênh này vọng lên câu hò dài thõng thượt, buồn man mác:

Hò ơ… 

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

Anh có thương em thì mua một con đò

Để em qua lại thăm dò ý anh

Hò ơ…

    Kinh hay kênh?

    Thằng Tây gọi sông nhân tạo (do người đào mới hoặc nạo vét rạch cũ) là canal, dân Ăng Lê kêu là channal, dân ta phiên âm thành kênh. Thế mới có bài hát “Con kênh ta đào chưa có nước chảy qua”. Người Nam Bộ có thói đọc trại: nhân thành nhơn, kính thành kiếng, và kênh thành kinh.

    Xáng và xáng cạp là sao?

    Thằng Tây gọi tàu thủy chở hàng là chaland, dân ta phiên âm là xà lan, người Nam Bộ gọi là xáng cho đơn giản. Xáng cạp là cái xáng có cần cẩu để nạo vét sông, cái miệng há ra cạp đất. Ở Nam Bộ đi đâu cũng thấy kinh xáng (là kinh đào bằng xáng cạp, không phải bằng sức người), cầu xáng (bắc qua kinh xáng) và các địa danh ngồ ngộ: ấp Xáng Mới (nơi kinh xáng mới đào), xóm Xáng Chìm (nơi có chiếc xáng bị chìm), chợ Xáng Nổ (nơi bị nổ máy xáng khi thi công), v.v. Cũng từ đó xuất hiện câu tục ngữ "Ăn như xáng múc, làm như lục bình trôi" và câu hò của chàng trai Hai Lúa ra cái vẻ chung tình:

Hò ơ...

Chừng nào chiếc xáng nọ bung vành

Tàu Tây kia liệt máy anh mới đành bỏ em

Hò ơ...

    Sao lại Xà No?

    Người Khmer gọi sông nhỏ là preak (rạch), xóm làng là srok (sóc), cây điên điển là snor (xà no). Xưa có con rạch chảy qua một làng có hàng điên điển (hoa vàng rộm, nấu canh chua cá lóc ngon hết sảy) kín hai bờ, người Khmer gọi là Preak Srok Snor, nghĩa là Sông nhỏ chảy qua làng điên điển. Người Việt phiên âm là Rạch Xà No.

    Chiếm xong 3 tỉnh miền Tây, Pháp xúc tiến ngay việc khai thác thuộc địa, thuê dân ta đào các kinh Trà Ôn (1875), Chợ Gạo (1877), Ô Môn (1896) để tưới tiêu và giao thông thủy. Năm 1901 Pháp dùng xáng cạp nạo vét rạch Xà No và đào nối dài, thế là có tên Kinh Xáng Xà No. Sách Lịch sử khẩn hoang miền Nam ghi: “Kinh Xà No thi công đến tháng 7-1903 thì hoàn thành. Bề ngang trên mặt rộng 60 mét, đáy 40 mét... Xáng đào chạy bằng hơi nước với những giàn gàu bằng sắt. Máy của xáng mạnh 350 mã lực, mỗi gàu múc được 375 lít, thổi bùn ra xa 60 mét. Từ xa trông chiếc xáng giống như chiến hạm, máy nổ ầm ầm vang xa năm ba cây số ngàn”.

    Ngàn là sao?

    Là nghìn, người Nam Bộ gọi trại ra ngàn.

    Để mở rộng diện tích canh tác, cứ 1.000 mét dọc theo kinh Xà No lại đào 1 kinh nhỏ cắt ngang, gọi là kinh sườn lớn. Giữa 2 kinh sườn lớn, cách đều 500 mét lại có 1 kinh sườn nhỏ. Nơi có kinh sườn lớn đầu tiên gọi là ngã tư Một Ngàn (cách điểm xuất phát 1.000 mét), rồi đến Một Ngàn Rưỡi, Hai Ngàn… Khi đến ngã tư Mười Bốn Ngàn Rưỡi thì mệt quá, không đếm nữa. Bởi thế nay mới có thị trấn Một Ngàn, chợ Ba Ngàn Rưỡi, vàm Chín Ngàn, v.v.

    Vàm là gì?

    Là rẻo đất nơi kinh sườn gặp kinh chính hay sông nhỏ đổ ra sông lớn. Bởi thế mới có các địa danh: thị trấn Vàm Láng, cầu Vàm Cống, sông Vàm Cỏ, v.v. Kinh Xà No là đầu mối giao thông thủy rất quan trọng, dân kéo đến các vàm định cư đông đúc, thế là có chợ Vàm Xáng (lập năm 1907), chợ Bảy Ngàn (1909) và xuất hiện một nghề đặc trưng chèo thuyền bán hàng dạo từ vàm nọ đến vàm kia: nghề bán vàm.

    Sao lại Hậu Giang?

    Là “sông gặp sau". Thời các chúa Nguyễn mang gươm đi mở cõi, vào đến đây thấy 2 dòng sông to vật vã, bèn gọi dòng sông gặp trước là Tiền Giang, sông gặp sau là Hậu Giang.

    Tỉnh Hậu Giang hiện nay mang tên tỉnh Chương Thiện từ 1961. Năm 1976 người ta làm ăn lớn, nhập 2-3 tỉnh làm một. Bí tên để đặt, họ lấy béng tên sông tên núi đặt cho tỉnh mới, ví như các tỉnh Hoàng Liên Sơn, Sông Bé, Tiền Giang, Hậu Giang, v.v. Nhập chán thì tách. Năm 1991 tỉnh Hậu Giang tách thành 2 tỉnh Sóc Trăng và Cần Thơ. Năm 2003 tỉnh Cần Thơ lại tách đôi thành tỉnh Hậu Giang mới và TP trực thuộc TƯ Cần Thơ.

    Thật éo le, nếu như TP Cần Thơ trải dài theo hữu ngạn sông Hậu Giang thì tỉnh Hậu Giang chỉ có một đoạn rất chi là ngắn dính với dòng sông mà nó mang tên. Bù lại, trong số 10 tỉnh ở Nam Bộ cùng có huyện Châu Thành thì Hậu Giang được hẳn 2 huyện: Châu Thành và Châu Thành A. 

    Ngộ quá hể!

    (Chuyện cũ viết lại).


Tố Ngọc Trần Sưu tầm

Hương xưa : TÔI VÀ SÀI GÒN... - Đỗ Duy Ngọc.

 

TÔI VÀ SÀI GÒN…

( Hình ảnh minh họa st trên mạng - Xem cuối bài. )

Tôi vốn không phải là dân Sài Gòn. Tôi là thằng con trai miền Trung vô Sài Gòn kiếm cái chữ từ những năm cuối của thập niên sáu mươi, đầu bảy m của thế kỷ trước. Là thằng sinh viên nghèo tự lập chẳng ai nuôi nên tôi chỉ quanh quẩn ở những xóm lao động của Sài Gòn hoa lệ thời ấy.

Để tiện việc học hành, và vì lúc đấy cũng chẳng có phương tiện di chuyển, tôi bám trụ khu Trương Minh Giảng suốt quãng đời đi học. Cho đến khi đi làm mua nhà, tôi vẫn quanh quẩn khu vực ấy. Thế nên Sài Gòn trong tôi là những xóm nghèo, Sài Gòn với tôi là những người lao động nghèo, những căn nhà nho nhỏ, lụp xụp bên bờ kinh Nhiêu Lộc mà bây giờ không còn nữa. Ngay đống rác ngay chân cầu Trương Minh Giảng thuở xưa cũng là nơi ghi dấu nhiều ký ức cùa tôi một thời đã đi qua không trở lại.

Lúc mới vào Sài Gòn, tôi mê những hàng cây. Những cây me đường Nguyễn Du với những quán cà phê ven vỉa hè. Tôi và bè bạn rong chơi ở đấy suốt đời sinh viên để ngắm những hàng me, để đón những lá me nhỏ xíu rớt trên vai mình, để nhìn những hạt mưa bay bay trên những vòm lá xanh biếc màu ngọc bích và để yêu một thành phố. Tôi cũng mê những buổi chiều đi lang thang sau giờ học ở Đại học Văn khoa, đến cuối đường Gia Long, ở gần nhà thương Grall để ngắm hai hàng cây giao nhau và cuối con đường là chủng viện Công giáo với tường màu gạch đỏ. Cảnh đó giống như một tác phẩm nghệ thuật và lúc đó tôi nghĩ đây là con đường đẹp nhất Sài Gòn. Đi thêm một đoạn nữa, ta ngỡ ngàng với hàng cây cổ thụ vươn cao từ khu Ba Son chạy ra Cường Để, những hàng cây thẳng tắp luôn khiến con đường nhiều bóng mát điểm những bóng nắng loang lổ như một bức ảnh đẹp được chụp bởi một tay máy nghệ sĩ.

Tôi cũng thích bách bộ lang thang đến đường Đoàn Thị Điểm (bây giờ là Trương Định) để ngắm những ngôi nhà sang trọng nhưng rất thanh lịch thấp thoáng sau hàng rào đầy hoa và con đường nhiều bóng râm. 

Nhiều lần đi kiếm cơm ăn ké bạn bè ở Đại học xá Minh Mạng, tôi cũng ngắm nhìn những hàng cây cao vút cạnh ngôi nhà thờ màu đỏ như gợi nhớ một bức tranh nào đó đầy màu sắc của hoạ sĩ Đinh Cường. 

Có nhiều đêm, đi qua ngôi nhà lớn ở đầu đường Trương Minh Giảng tôi nghe tiếng dế gáy ở bụi cỏ và hương ngọc lan thơm ngát từ ngững cây ngọc lan cổ thụ trong sân toà nhà dưới ánh đèn đường mờ đục.

Tiếng dế và hương thơm ngọc lan vẫn nằm trong ký ức của tôi đến tận bây giờ bởi con đường đó gắn với tôi biết bao kỷ niệm của một mối tình không thể nào quên.

Kể nhiều vòm cây khóm lá để thấy ấn tượng đầu tiên của một chàng học trò tỉnh lẻ đến Sài Gòn chính là những con đường với những hàng cây rợp bóng.

Đến bây giờ, tôi đã ở Sài Gòn được gần nửa thế kỷ. Chưa bao giờ có ai hỏi tôi là người gốc Sài Gòn hay là dân Sài Gòn xịn, dù đã ở lâu xứ này, tôi vẫn nói giọng Quảng dù đã nhẹ hơn người chánh gốc Quảng. Ở đất này, ai đã đến và sinh sống ở đây đều là người Sài Gòn. Sài Gòn có nhiều người Bắc di cư năm 1954. Sài Gòn cũng có nhiều người miền Trung từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Bình Định. Sài Gòn còn có rất nhiều người miền Tây lên, từ miền Đông Nam bộ đến. Nhưng dù họ đến từ đâu, họ ở đây đã là dân Sài Gòn, chẳng có ai phân biệt, chẳng có ai thắc mắc. Và đó cũng là đặc điểm đặc biệt của người Sài Gòn khác với Hà Nội.

Đêm đầu tiên khi đặt chân đến Sài Gòn, tôi ngủ trên ghế đá chỗ vườn hoa Tao Đàn. Nửa đêm tôi bị đánh thức bởi hai người cảnh sát. Bởi thời đó thiết quân luật từ nửa đêm, không ai được ra đường. Sau khi đưa giấy tờ và kể lể hoàn cảnh vừa mới từ miền Trung vào đi học, chưa kiếm được người quen. Một anh cảnh sát bảo: Miền Trung à? Ái chà chà, mấy ông sinh viên quê ngoài ấy khoái theo Việt cộng lắm. Tui chẳng biết nói sao đành chịu bị giải về cái bót cảnh sát ở ngay góc chợ Bến Thành. Tui nằm ở đó một đêm, sáng ra có một ông sĩ quan cảnh sát đến, bảo tôi đi học thì gắng mà học hành, đừng nghe lời mấy tay Việt Cộng mà tiêu đời. Ông ta móc bóp, cho tôi tiền ăn sáng và uống cà phê. Đó là cái tình của người Sài Gòn đầu tiên trong đời tôi và gây cho tôi ấn tượng về con người ở xứ này. 

Trong những ngày đói rách, khó khăn của cuộc đời, những người Sài Gòn, những người nghèo Sài Gòn đã bảo bọc, giúp đỡ tôi qua cơn khốn khó. Tôi không quên được cô gái bán cơm ở chợ Trương Minh Giảng. Thuở đó, tôi thất nghiệp, chẳng kiếm ra tiền, chắt bóp, vơ vét túi chỉ đủ gọi dĩa cơm trắng rồi xin miếng xì dầu ăn qua bữa. Ăn được ba hôm như thế thì cô bán cơm hỏi sao không thấy anh ăn thức ăn, đành nói dối tôi ăn chay. Cô ấy chỉ cười, không nói. Nhưng mấy hôm sau, dĩa cơm xì dầu của tôi luôn có dưới lớp cơm trắng khi thì miếng đậu hủ, lúc thì miếng thịt hoặc cái hột vịt kho. Được mấy hôm, tôi mắc cỡ, không dám ra ăn nữa. Sau đó lại kiếm được việc bán báo ở tận đường Phạm Ngũ Lão, tôi không ăn cơm ở đó. Thời gian sau tìm lại thì quán đã đổi chủ rồi, tôi chẳng tìm được lại cô gái bán cơm có nụ cười rất tươi và tấm lòng nhân hậu.

Ăn uống thiếu thốn lại tạng người không khoẻ, tôi hay bệnh vặt. Chính những người hàng xóm rất nghèo của tôi đã giúp tôi qua được những cơn bệnh, giúp tôi có chén cháo, viên thuốc. Cái tình đó tôi làm sao quên. Sau này ở lâu, tôi mới hiểu ra đó là bản chất của người Sài Gòn. Là cái tính ưa giúp người hoạn nạn, giúp kẻ sa cơ, tính ưa làm việc thiện của người Sài Gòn.

Mỗi lần đi xa rời Sài Gòn lâu, nhớ về Sài Gòn tôi chỉ nhớ những hàng cây và những người Sài Gòn tôi đã gặp, đã sống chung với họ một quãng đời. Người ta hay khen Sài Gòn với những cao ốc, những dinh thự, những khu ăn chơi bốc trời, những hàng quán xa hoa, những chiếc xe đắt tiền, những thú vui hoan lạc. Riêng tôi, trong tôi, Sài Gòn là vòm cây xanh lá, là những ngôi nhà bên dòng nước đen và ở đó tôi tìm thấy tình người.

Bây giờ, Sài Gòn đã đổi tên. Thế nhưng tôi vẫn gọi là Sài Gòn như một thói quen, cái tên của ký ức không thể nhạt phai. Người ta đang tìm đủ cách để thành phố này không còn ký ức của Sài Gòn. Nhưng với người Sài Gòn, Sài Gòn mãi mãi là Sài Gòn mà không có một cái tên nào khác có thể thay thế được.


Đỗ Duy Ngọc.



Thứ Tư, 25 tháng 3, 2026

Tuổi thơ : CON DẾ CỒ LỬA - Lê Văn Thông.

 



CON DẾ CỒ LỬA 

Tuổi thơ của tôi bắt đầu bằng những buổi sáng rất sớm, khi trời còn mờ sương và tiếng gà trong xóm bắt đầu gáy. Hồi đó nhà tôi lợp mái bằng cỏ  tranh. Những tấm cỏ tranh cũ lâu lâu lại được dỡ xuống thay mới, rồi đem chất phía sau nhà.

Chính từ những tấm cỏ tranh cũ ấy mà tôi biết đến thế giới của những con dế.

Có một đêm  mưa lớn. Sáng hôm sau, ba tôi ra sau nhà dọn lại đống cỏ tranh. Khi vừa lật mấy tấm cỏ tranh lên, mấy con dế từ trong kẽ rơm rạ nhảy tứ tung. Ba cười, bắt mấy con dế bỏ vào tay tôi và em gái .

“Các con đem bỏ vào lon sữa bò để chơi.”

Từ bữa đó, tôi mê dế lúc nào không hay.

Sáng nào cũng vậy. Khoảng năm giờ, khi nhà ông ngoại tôi sát nhà tôi bắt đầu đọc kinh buổi sáng, tôi đã lồm cồm ngồi dậy. Trời còn mờ tối, tôi chạy ra sau nhà lật ổ rơm, mấy tấm đưng,vạch mấy đống chà cây. Chỉ cần khéo tay một chút là bắt được dế.

Dế ở quê tôi nhiều lắm: dế than màu đen bóng, nhanh và dữ,dế xám thân to, sức khỏe bền bỉ. Còn dế lửa thì đỏ au như than hồng, vừa đẹp vừa hung hăng.

Các bạn nhỏ trong xóm còn có cách gọi riêng. Con dế trống to và khỏe thì  gọi là dế Cồ: Cồ lửa, Cồ than, Cồ xám. Hễ bắt được con nào lớn, càng to là tụi tôi mừng lắm, vì biết chắc đó là một con dế Cồ đá rất dữ.

Bắt được dế, tôi bỏ vào cái hộp gỗ nhỏ. Ba tôi đóng cho bằng mấy miếng ván vụn, khoan vài lỗ nhỏ cho thoáng hơi. Bên trong tôi lót ít rơm khô và lá cỏ non.

Trưa đi học về, tôi lại mở hộp ra xem.

Đêm xuống, đặt cái hộp gỗ bên cạnh giường, tôi thường nghe tiếng dế gáy râm ran trong bóng tối. Tiếng dế kêu từng hồi, nghe vừa vui vừa yên tĩnh, như thể cả tuổi thơ của tôi đang nằm gọn trong cái hộp gỗ nhỏ đó.

Lúc đó em gái tôi đang bệnh nặng, em sốt suốt mấy ngày, nằm li bì trong nhà. Má tôi thức gần như cả đêm để chăm sóc em, còn ba thì chạy đi  tìm thầy thuốc trong xóm.

Có một lần tôi mang cái hộp gỗ lại gần giường cho em xem. Em mở mắt rất chậm, nhìn vào trong hộp rồi hỏi khẽ:

“Anh Hai… con dế lửa đâu?”

Tôi chỉ vào con dế  đang bò trong góc hộp, em mỉm cười rất nhẹ.

“Nó đẹp quá… tối nó có gáy không anh?”

Tôi gật đầu.

em nói nhỏ:

“Vậy anh để gần giường… cho em nghe.”

Nhưng tối hôm đó em sốt cao quá, ngủ mê man. Tiếng dế trong hộp vẫn kêu râm ran, còn em thì nóng mê sản.

Một buổi sáng , tôi gặp một cái hang nhỏ dưới chân gò mối ngoài bãi đất hoang. Nhìn dấu đất , tôi biết chắc trong đó có dế.

Tôi thò tay xuống hang.

Bỗng một cái đau nhói buốt chạy thẳng lên cánh tay.

Một con bò cạp từ trong hang chích tôi.

Cái đau lan rất nhanh, như có dòng lửa chạy trong tay. Tôi choáng váng, ngồi phịch xuống bên gò mối. Trước mắt tôi tối sầm, tai ù đi. Tôi phải nằm tại đó gần năm phút, tay ôm cánh tay đau buốt, thở từng hơi ngắn, rồi mới gượng dậy nổi.

Tôi cúi xuống nhìn lại cái hang.

Một lát sau, từ trong hang bò ra một con dế lửa.

Nó to chưa từng thấy. Cái đầu đỏ au, tròn và to gần bằng ngón tay cái của tôi. Hai cái càng dày và cong, trông dữ dằn như hai cái móc nhỏ.

Tôi nhìn một cái là biết ngay:đây là một con dế Cồ lửa.

Chiều hôm đó, tụi nhỏ trong xóm kéo nhau ra bãi đất trống trước nhà tôi để xem đá dế 

. Con dế của tôi đá thắng hết các con dế của thằng Khoai, thằng Mỹ, thằng Hòn… Nó trở thành vô địch của xóm.

Hôm sau thằng Nghĩa, ở bên xóm chợ, nhà rất giàu, tìm tới. Nó đem theo một con dế than to gần bằng con dế lửa của tôi.

Hai con dế được thả vào cái thùng thiếc.

Một thằng trong đám ngắt một cọng cỏ nhỏ chọc nhẹ vào càng dế để kích nó đá.

Bỗng con dế than lao tới.

Hai cái càng chạm nhau đánh “tách” một cái. Hai con dế quấn lấy nhau xoay vòng trong thùng.

Tụi nhỏ la ầm lên.

Bỗng con dế lửa hất mạnh một cái.

Con dế than loạng choạng lùi lại rồi quay đầu chạy.

Cả đám con nít reo ầm:

“Thắng rồi! Cồ lửa thắng rồi!”

Sau trận đó, thằng Nghĩa kéo tôi ra một góc rồi nói nhỏ:

“Nếu mày bán con dế này cho tao, tao trả năm đồng.”

Tôi nghe mà đứng sững.

Thời đó đi học mỗi ngày má cho tôi năm cắc tiền ăn xôi. Năm đồng đối với tôi lúc ấy lớn lắm, gần như cả một gia tài.

Nhưng tôi vẫn lắc đầu.

Tôi không nỡ bán con dế Cồ lửa của mình.

Vài ngày sau, bệnh của em gái tôi nặng hơn.

Rồi một buổi chiều rất lặng, em tôi ra đi trong căn nhà nhỏ của chúng tôi.

Sau khi em gái tôi mất, tôi như trở thành một con người khác.

Tôi không còn chạy ra bãi đất để tìm dế nữa. Những buổi sáng khi tiếng gà gáy vang lên trong xóm, tôi chỉ ngồi lặng trước hiên nhà.

Cái hộp gỗ nuôi dế vẫn đặt ở góc bàn, nhưng  tôi không buồn mở ra.

Như thể cùng với em gái, một phần tuổi nhỏ của tôi cũng lặng lẽ mất đi.

Tối hôm đó, tôi mang cái hộp gỗ nuôi dế ra sau nhà.

Tôi mở nắp.Dưới ánh đèn leo lét, mấy con dế lần lượt nhảy ra bãi cỏ.

Con dế Cồ lửa là con ra sau cùng.

Nó đứng lại một chút, giương càng lên như thói quen, rồi chậm rãi bò vào đám cỏ tối.

Tôi ngồi nhìn theo thật lâu.

Bỗng tôi nhớ lại câu hỏi của em gái:

“Tối nó có gáy không anh hai ? ”

Đêm đó, dế ngoài bãi cỏ vẫn kêu.

Nhưng em tôi thì không còn nghe nữa.

Con dế Cồ lửa năm ấy đã mất hút giữa đám cỏ đêm.

Còn tôi thì ngồi rất lâu bên bãi cỏ sau nhà, nghe tiếng dế kêu thưa dần trong bóng tối.Đến lúc ấy tôi mới hiểu:Tuổi thơ cũng giống như tiếng dế đêm.

Khi còn nghe, ta cứ tưởng nó sẽ kêu mãi.

Chỉ đến một đêm nào đó, giữa khoảng sân cũ của đời mình, ta mới chợt nhận ra ,tiếng dế vẫn còn ngoài bãi cỏ,nhưng người mà ta từng muốn cho nghe tiếng dế ấy đã không còn nữa.

Và từ đêm đó,

tuổi thơ của tôi

cũng lặng lẽ đi xa


( Tác giả: Lê Văn Thông)

Thơ : THÁNG BA VỀ... - Nhật Hạ.

 



THÁNG BA VỀ...

Tháng Ba về, anh có nhớ gì không?

Cơn mưa xuân giăng mờ trên phố nhỏ

Chiều êm trôi, rực màu hoa gạo đỏ

Nắng dịu dàng gọi kí ức không tên.


Tháng Ba về, em-hoa cỏ dịu êm

Đợi chờ ai, hương nồng hoa bưởi ngọt

Vầng trăng xưa khuyết tròn bao ước hẹn

Tháng Ba về thao thức những riêng mang.


Người nơi nào đã thấy tháng Ba sang

Hoa xoan tím cả một trời thương nhớ

Hoa giấu gì mắt em long lanh thế

Ánh mắt cười, vương vấn dưới hàng mi.


Tháng Ba về, vô tình gió cuốn đi

Những mong ước, câu tình ca dang dở

Tóc em bay bên khung trời rộng mở

Để “hương thầm” bịn rịn... những chờ mong.

   NHẬT HẠ.

Hồi ức : BÁNH TÂY THỜI... - Lê Văn Thông.

 



BÁNH TÂY THỜI TUỔI NHỎ

Trong nhà tôi có một chiếc hộp thiếc cũ đặt trên nóc tủ gỗ. Chiếc hộp màu vàng đã phai màu theo năm tháng, trên nắp in hình những chiếc bánh vuông vức nằm cạnh mấy dòng chữ Tây. Má tôi giữ chiếc hộp ấy rất kỹ. Bên trong thường chẳng có gì ngoài vài thứ lặt vặt như kim chỉ, cúc áo hay mấy tấm hình cũ, vậy mà mỗi lần mở ra, tôi vẫn ngửi thấy thoang thoảng mùi bơ ngọt nhẹ.

Đối với tụi nhỏ chúng tôi, cái hộp thiếc ấy tựa như một lời nhắc lặng lẽ về một thứ bánh ngon mà hiếm khi được ăn. Chỉ cần nhìn thấy chiếc hộp là tôi lại nhớ đến mùi bơ thơm dịu và những chiếc bánh vuông vức mà mình chỉ được nếm rất ít lần trong đời.

Thật ra, hồi đó tôi không thường được ăn bánh ấy ở nhà mình. Tôi có một người dì sống ở Sài Gòn, nhà rất giàu, thuộc hàng giàu có nổi tiếng thời ấy. Mỗi lần má dẫn anh em tôi lên thăm, căn nhà rộng thênh thang với những món đồ sáng choang khiến tụi nhỏ chúng tôi cứ lặng lẽ đi sát bên má, không dám nói lớn.

Những chiếc bánh tây thường nằm trong hộp thiếc đẹp đặt trên bàn. Nhưng tụi tôi không bao giờ được mở hộp. Chỉ khi mấy đứa con của dì ăn dở, còn thừa lại nửa chiếc hay một góc bánh, tụi tôi mới được ăn ké. Tôi vẫn nhớ mình cầm miếng bánh nhỏ xíu mà nhai rất chậm, vừa ăn vừa tiếc, như thể kéo dài thêm một chút hương vị hiếm hoi ấy. Vị bơ dịu nhẹ tan ra trong miệng, ngon đến mức tôi nghĩ đó là thứ bánh dành cho những nhà giàu có, còn anh em tôi chỉ đứng ngoài mà nhìn.

Có một lần má dẫn anh em tôi đến thăm dì, mang theo những con gà mà gia đình tôi chắt chiu nuôi nấng để làm quà. Nhưng vừa thấy chúng tôi, dì buông một câu tỉnh queo:

– Tụi bây đến thăm tao hay tụi bây chỉ đến thăm tiền.

Tôi không hiểu hết ý nghĩa câu nói khi ấy, nhưng tôi thấy má đứng lặng đi một lúc rồi lén quay mặt chỗ khác. Khi ra về, tôi thấy má đưa tay gạt nước mắt. Hình ảnh đó theo tôi suốt nhiều năm sau.

Hôm ấy, trên đường về, tôi lặng im mà trong lòng tự nhủ một điều rất trẻ con: sau này mình sẽ học cho thật giỏi, đi làm có tiền, mua thật nhiều bánh tây cho các em ăn. Vì đối với anh em tôi ngày đó, chiếc bánh tây ấy là một thứ gì xa xỉ và sang trọng, gần như không với tới.

Rồi năm tháng trôi đi. Tôi lớn lên, đi học, rồi đi dạy. Cuộc sống không giàu sang gì, nhưng cũng không còn thiếu thốn như xưa. Mỗi lần về thăm má, ngoài thịt quay bánh hỏi – những món má thích – tôi không bao giờ quên mua thêm một hộp bánh tây. Má thường cười hiền, nói ăn không hết đâu, nhưng tôi biết má vui. Cái hộp bánh nằm trên bàn, yên lặng mà ấm áp như một lời hứa cũ cuối cùng cũng trọn vẹn.

Sau này, khi dẫn con tôi vào siêu thị, tôi thấy bày ra đủ thứ bánh kẹo. Những loại bánh mà một thời tôi từng ao ước nằm ngay trước mắt, chỉ cần đưa tay là lấy được. Con tôi chọn bánh rất nhanh, đôi khi chỉ ăn vài cái rồi bỏ quên, hồn nhiên như thể bánh kẹo vốn dĩ sinh ra để luôn có sẵn như vậy.

Còn tôi, mỗi lần đi ngang quầy bánh tây, vẫn hay dừng lại một chút. Chiếc bánh tây vuông vức vẫn vậy – viền răng cưa đều đặn, mùi bơ  thoảng nhẹ như xưa. Chỉ có điều trong tôi hiện lên hình ảnh đứa bé ngày nào đứng nhìn chiếc hộp thiếc bánh tây trên bàn nhà dì mà lòng buồn man mác.

Bây giờ nghĩ lại, tôi hiểu chiếc hộp thiếc cũ nằm trên nóc tủ năm xưa không chỉ để đựng kim chỉ hay những thứ lặt vặt. Nó giữ lại cho má tôi một chút kỷ niệm của cuộc sống, còn giữ lại cho tôi một giấc mơ nhỏ của tuổi thơ — giấc mơ về những chiếc bánh tưởng chừng rất xa mà rồi cũng có ngày mình có thể mang về đặt lên bàn cho những người thân yêu.

Có những thứ nhỏ bé mà ta mang theo suốt cả cuộc đời. Như chiếc bánh tây năm nào – không chỉ là vị ngọt của bơ, mà còn là ký ức của một đứa trẻ từng đứng ngoài giấc mơ nhỏ của mình, để rồi sau này mới hiểu rằng điều quý nhất không phải là chiếc bánh, mà là quãng đời đã dạy ta biết thương người và biết cố gắng để những người mình thương không còn phải tủi thân như ngày trước.

Và đôi khi, chỉ cần mở  hộp bánh tây, tôi lại thấy thấp thoáng đâu đó mùi bơ dịu nhẹ của tuổi nhỏ – thứ hương thơm tưởng chừng rất mong manh mà theo tôi đi suốt một đời người.


( Lê Văn Thông)