Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

Chân tình : ĐÔI GUỐC DƯỚI HIÊN NHÀ - Tim Nguyễn.

 



ĐÔI GUỐC DƯỚI HIÊN NHÀ

Tôi lớn lên ở một cù lao nhỏ ven sông Hậu. Ở đó người ta không tính ngày tháng bằng tờ lịch treo tường, mà tính bằng con nước, con trăng. Nước lớn thì đi đồng, nước ròng thì vá lưới. Đời người cũng trôi lặng như nước, ít ai đi xa khỏi cái bờ kinh của mình.

Nhà tôi nghèo. Nghèo bền vững.

Má tôi mất sớm. Tía tôi mất khi tôi vừa biết vác lúa. Căn nhà lá tía để lại xiêu một bên sau mỗi mùa gió chướng. Mấy công ruộng ít ỏi, đất phèn làm không đủ ăn, trước khi mất tía tôi phải đem cầm cố cho người ta để có tiền thang thuốc cho má. 

Trên mấy công đất đó bây giờ có hai nấm mồ đất của tía má tôi, cỏ mọc lút đầu mỗi mùa mưa. Tôi ở lại giữ đất, mà đất cũng không còn là của mình.

Tôi không học nhiều. Chữ nghĩa đủ đọc tờ báo cũ người ta gói rau, đủ viết tên mình không sai. Quanh năm ai kêu gì làm nấy. Tía tôi trước khi nhắm mắt có dặn một câu, tôi nhớ cả đời: "Nghèo thì nghèo, con đừng để người ta coi thường cái lòng của mình." Tôi giữ câu đó như giữ cái nóc nhà.

Tôi chưa từng dám nghĩ đến chuyện vợ con đàng hoàng. Đàn ông như tôi, không ruộng, không chữ, không người thương, chỉ có sức thì mong gì hơn một bữa cơm đủ no.

Năm tôi hai mươi bốn tuổi, ông Hội đồng Phước ở làng bên cho người gọi tôi.

Nhà ông là căn nhà ngói lớn nhất vùng. Cột căm xe, sân gạch tàu. Ruộng của ông cò bay mỏi cánh. Tôi từng vác lúa cho ông nhiều mùa, chỉ dám đứng ngoài sân.

Ông ngồi trên bộ ván gõ, rót cho tôi chung trà. Rồi ông nói chuyện cô Hai. Cô Hai là con một  của ông, đẹp và có học nhất vùng. Cô được lên tỉnh học trường đầm, biết đọc sách, chữ viết tròn trịa. Trai trong vùng ai cũng ngó mà không ai dám trèo cao.

Ông không vòng vo. Ông nói cô Hai có thai với anh bạn trai trên tỉnh, nay đã bỏ cô. Ông không trách ai một lời. Chỉ nói ông là người cha, ông không muốn con gái mình phải cúi đầu ngoài chợ, không muốn đứa nhỏ sinh ra đã mang tiếng không cha.

Ông muốn tôi cưới cô Hai, và ông nói thiệt hết.

Ông chỉ cần một người đứng tên làm chồng che mắt thế gian. Một năm. Cho người đời thấy đó là một cuộc hôn nhân đàng hoàng, chứ không phải một người con gái chửa oan. Sau một năm, khi mọi chuyện lắng xuống, tôi có thể rời đi. Coi như tôi bỏ vợ đi theo người khác vậy mà. 

Để trả công, ông sẽ chuộc lại mấy công đất cha tôi đã cầm cố, trả lại cho tôi để có chỗ thờ tía má, dựng lại cái nhà. Ông sẽ không để tôi thiệt.

Tôi ngồi im rất lâu. Chung trà nguội ngắt. Tôi hiểu ông. Ông không mua tôi. Ông chỉ đang tìm một lối đi ít đau nhất cho con gái mình. Ông không muốn hỏi trai cùng làng nên tìm đến tôi và biết ba tôi bị xiết ruộng, cần phải chuộc lại.

Đêm đó tôi ra bến sông ngồi. Trăng non chiếu lăng tăng trên mặt nước. Tôi nghĩ đến hai nấm mồ của tía má tôi đang nằm trong đất người ta, cỏ mọc không ai nhang khói. Tôi nghĩ đến đời mình vốn đã không có gì để mất, không người yêu. Nếu sự có mặt của tôi giúp một người con gái giữ được chút bình yên, giúp một đứa trẻ sau này đi học không bị chúng bạn chọc ghẹo, thì cũng đáng.

Tôi nhận lời.

Đám cưới nhỏ, lặng lẽ. Tôi mặc bộ đồ mới duy nhất cô Hai mua cho, cô mặc áo dài màu bông hường. Cô cúi đầu suốt buổi lễ, lặng lẽ nhìn tôi trong chua xót cho cả hai.

Về nhà vợ, tôi ở tạm căn nhà sau, cách buồng cô cái sân phơi lúa. Chiếc rương gỗ tạp tía đóng, tôi để nguyên dưới gầm giường. Trên vách tôi chỉ treo hai bộ đồ. Tôi nghĩ mình đến như người khách, thì lúc đi cũng nhẹ.

Cô Hai cũng vậy. Cô đối với tôi lịch sự. Cơm nước có bà Năm, người giúp việc khi cô còn nhỏ. Chúng tôi như hai người khách trọ chung một nhà rộng, đi nhẹ, nói khẽ để khỏi phiền nhau.

Tôi đi làm từ khi gà chưa gáy. Tôi ra đồng của ông Hội đồng, làm như ruộng của mình. Tôi thấy bờ mẫu nào sạc thì đắp lại, thấy lu nước cạn thì gánh đầy. Không ai mượn, không ai biểu. Tôi nghĩ mình đã nhận lời làm chồng một năm thì phải làm cho trọn.

Cô Hai lúc đầu nhìn tôi như người giúp việc đồng án.. Cô không coi thường ra mặt. Con nhà gia giáo nên không trịch thượng như những người khác. Cô chỉ xa. Một cái xa rất lịch sự, rất sạch sẽ của người có văn hóa. Trong mắt cô, tôi là một phương án êm thấm mà cha cô đã chọn. Cô mang ơn tôi, nhưng ơn thì không phải là thương.

Nhưng mưa dầm thấm đất.

Điều làm cô để ý đến tôi đầu tiên không phải chuyện gì lớn. Một sáng, cô thấy đôi guốc mộc của cô hôm qua còn dính bùn vứt ở góc sân, sáng nay đã được ai đó rửa sạch, đặt ngay ngắn bên thềm. Chiều, cô thấy lu nước sau hè lúc nào cũng đầy. Cái hàng rào tre trước sân bị gió quật nghiêng, qua một đêm đã được dựng lại. Cô biết những chuyện làm đó từ tôi.

Rồi cô bệnh, một trận cảm sau mấy ngày dầm mưa. Cô nằm trong buồng, sốt hầm hập. Cô nghĩ tôi đã ra đồng. Đến khi tỉnh dậy, trên trán là chiếc khăn ướt vừa được thay. Bên cạnh cô, tôi ngồi ngủ gục trên ghế tre, tay còn cầm cái quạt mo cau.

Tối đó cô khóc. Lần đầu tiên sau khi người đàn ông trên tỉnh rời đi, cô khóc không phải vì tủi, mà vì có một người lo cho mình theo một cách rất quê, rất thật.

Từ đó, cô bắt đầu nhìn tôi bằng một con mắt khác. Cô thấy tôi ăn cơm lúc nào cũng vành chén sạch, không bỏ một hột. 

Không bao giờ ngồi vào mâm trước. Có khách đến chơi, tôi tự động bưng chén ra sau hè. 

Cô lớn lên giữa những người đàn ông biết nói lời hoa mỹ. Lần đầu cô gặp một người đàn ông ít học nhưng lòng không nhỏ nhen, nghèo nhưng không tự ti như tôi.

Và rồi cô bắt đầu lo cho tôi, cũng bằng những việc nhỏ. Thấy tôi đi cày về đau lưng, cô đem xuống phòng tôi cái gối mây kê lưng ngủ cho êm. Thấy áo tôi rách ở vai, cô không nói, trưa vắng lấy kim chỉ tự tay vá lại. Biết tôi ăn không được mắm quá mặn, cô dặn má Năm kho riêng cho tôi một tộ lạt hơn.

Tôi không gọi đó là thương nhưng hình như có mùi hương yêu đang phảng phất quanh tôi. 

Mỗi chiều, khi nghe tiếng chân tôi lội bì bõm dưới ao sau nhà, cô lại tự động đứng dậy, đi ra hiên sau nhìn tôi. Nhìn bâng quơ vậy thôi, chứ không phải chờ. Cái nhìn trìu mến của người đã phải lòng.

Chúng tôi thương nhau như phù sa bồi bờ. Không ai thấy nó bồi mỗi ngày, chỉ đến khi bãi đất đầy mới biết mình không thể rời được nữa. Nhưng ai cũng còn giữ kẽ vì cái ranh giới vô hình còn giới hạn.

Chỉ có một nơi tôi cho phép mình không giữ kẽ, là với thằng bé.

Nó ra đời vào một đêm mưa. Tôi đứng ngoài buồng nấu nước, chạy đi gọi bà mụ, tay chân lóng ngóng. Khi bà mụ trao nó cho tôi ẩm lần đầu, tay tôi run đến nỗi sợ làm rớt nó.

Từ ngày đó, tôi biết thế nào là có một gia đình để đi về. Buổi trưa đi đồng nắng rát, chỉ cần nghĩ đến chiều về thấy thằng nhỏ là tôi hết mệt.

Nhưng tôi vẫn giữ lòng mình lại bằng ba sợi dây vô hình:

Sợi dây thứ nhất là lời hứa. Một năm. Ông Hội đồng đã giữ lời, đã cho người chuộc lại mấy công đất nơi đó có mồ mả tía má tôi. Mấy năm nay cỏ mọc lút đầu mả, tôi chưa dám về thắp một nén nhang cho đàng hoàng vì đất còn trong tay người ta. Nay đất về rồi, tôi phải cố giữ bằng bất cứ giá nào. Đó là gốc của tôi.

Sợi dây thứ hai là nỗi sợ của người ít học. Cô Hai có học, biết nhiều chuyện ngoài kia. Tôi chỉ biết con nước, bờ ruộng. Có những lúc cô nói, tôi hiểu bằng tim chứ không hiểu bằng chữ. Tôi sợ cái thương hôm nay của cô chỉ là cái ơn, là sự cảm động của một năm gần gũi. 

Sợi dây thứ ba là ông Hội đồng thương con nên mới phải làm vậy, chứ nhà ông mấy đời sống trong nề nếp, gia phong nên không bao giờ chịu cho cuộc hôn nhân thật vì tôi là thằng không cha không mẹ, chữ nghĩa không có. Cái giai cấp đó nó không phải muốn bỏ là bỏ được. Nó in sâu trong xã hội rồi. 

Rồi một năm cũng qua. Một buổi chiều, ông Hội đồng gọi tôi ra sân. Ông nói mọi chuyện đã qua, người làng cũng đã quên. Ông nói tôi đã giữ trọn lời hứa, ông mang ơn tôi. Từ nay tôi có thể trở về cuộc đời của mình.

Sáng hôm ấy, tôi đứng trong căn phòng phía sau, nhìn chiếc rương gỗ nhỏ đã theo tôi đến đây từ ngày đầu tiên. Tôi xếp vào đó vài bộ quần áo như ngày mới đến, còn bộ đồ cưới tôi để lại. Chỉ có vậy. Một năm sống trong căn nhà này, vậy mà đến lúc ra đi, tôi mới thấy mình có quá nhiều thứ phải bỏ lại.

Tôi bước ra sân. Cô Hai đã đứng dưới mái hiên. “Anh Hai... đi thiệt sao?”

Tôi cúi đầu. “Dạ.” Một tiếng dạ ngắn ngủi, nhưng nghe như một lời đoạn tuyệt.

Cô im lặng. Gió thổi qua sân, làm tà áo bà ba cô khẽ lay. Một lúc lâu, cô mới nói rằng cô biết ngày này rồi cũng sẽ tới. Ngày tôi đến đây, cả hai đều nghĩ chỉ cần một năm. Một năm rồi tôi sẽ về với mảnh đất của tía má, còn cô sẽ trở lại cuộc đời của mình.

Nhưng không ai ngờ một năm lại đủ để hai người xa lạ trở thành người thân thuộc.

Cô nói cô đã quen tiếng chân tôi ngoài sân mỗi sáng. Quen buổi chiều đứng dưới mái hiên nhìn tôi từ ngoài đồng trở về. Quen một người âm thầm sửa lại hàng rào, vá mái nhà, rửa đôi guốc cho cô. Quen có một người không nói lời ngọt ngào nhưng lúc nào cũng ở đó khi cô cần.

Cô nhìn tôi, nước mắt chảy xuống. “Em quen có anh trong nhà rồi.” Tôi quay mặt đi vì mắt mình cũng đã đỏ.

Cô bước xuống bậc thềm, đi chậm đến trước mặt tôi. Hai bàn tay cô nắm chặt vào nhau. Cô muốn nói thêm điều gì đó, nhưng rồi chỉ lắc đầu. Có lẽ những lời cần nói đều đã nằm trong ánh mắt.

Rồi bất ngờ, cô bước tới ôm lấy tôi.

Đó là lần đầu tiên cô ôm tôi như bao người đàn bà ôm người mình thương. Không phải vì danh nghĩa vợ chồng. Không phải vì lòng biết ơn. Mà vì cô sợ tôi bước đi rồi sẽ không bao giờ trở lại, cô sẽ mất tôi mãi mãi.

Tôi ngượng ngùng vòng tay ôm lấy cô. Lần đầu tiên được ôm “vợ” của mình. Bờ vai cô run lên. Tôi nghe rõ tiếng tim đập mạnh của cô và cả của tôi, lần đầu tiên chúng bên nhau thật gần… Hơi ấm và mùi đàn bà làm tôi ngây ngất tâm hồn và thể xác.

Tôi muốn khóc. Tôi muốn nói rằng tôi không đi nữa. Muốn ở lại. Muốn làm chồng thật. Muốn mặn nồng trong tình chồng nghĩa vợ. Muốn chiều đi đồng về vẫn thấy cô đứng dưới mái hiên đợi tôi. Tối đến nghe tiếng thằng Tý cười trong nhà.

Cô buông tôi ra, hai bàn tay vẫn còn giữ lấy tay áo tôi. “Anh Hai... ở lại với em.” Câu nói ấy nhẹ thôi, nhưng làm lòng tôi đau hơn tất cả.

Cô nói cô sẽ xin ông cho anh làm rể thật. Cô nói ruộng đất nhà mình còn nhiều. Cô nói tôi cứ ở lại làm ruộng, nuôi thằng Tý rồi chúng tôi sống với nhau như một gia đình thật sự. Cô không cần tôi mang ơn ai nữa. Cô chỉ cần tôi đừng đi.

Tôi nghe mà lòng mềm xuống. Nhưng trong đầu tôi lại hiện lên hai nấm mồ của tía má. Tôi nhớ lời tía trước lúc mất. Tôi nhớ những năm tháng mảnh đất của dòng họ nằm trong tay người khác. Nay đất đã trở về, tôi không thể quay lưng. Phải cố giữ bằng mọi giá.

Tôi khẽ nói: “Cô Hai, tôi thương cô thiệt lòng. Tôi thương thằng Tý như con ruột. Nếu được sống cho riêng mình, tôi muốn ở lại lắm. Nhưng tôi còn lời hứa với tía má. Đất đã có rồi, tôi phải về.”

Cô đứng im. Nước mắt cứ rơi, nhưng cô không khóc thành tiếng nữa. Có lẽ cô hiểu rằng tôi không rời đi vì hết thương. Nhưng vì bổn phận. Tôi đưa tay nắm lấy bàn tay cô. Tôi giữ thật lâu, như muốn ghi nhớ hơi ấm cuối cùng. “Cảm ơn cô Hai. Mong cô mạnh khỏe và hạnh phúc sau này.”

Vác chiếc rương lên vai. Đi được vài bước, tôi dừng lại nhưng không dám quay đầu. Tôi biết chỉ cần nhìn thấy cô đứng đó, nhìn thấy đôi mắt cô đỏ hoe, tôi sẽ không còn đủ sức bước tiếp.

Phía sau, tôi nghe một tiếng nấc bật lên.  Một tiếng nói khẽ: “ Mong anh trở lại với mẹ con em”. 

Tôi cắn chặt môi bước tiếp, qua hàng rào tre, xuống con đường đất dẫn về bến sông. Nắng đã lên cao hơn, nhưng lòng tôi lạnh ngắt.

Sau lưng tôi là căn nhà từng xa lạ, nhưng đến lúc rời xa lại trở thành nơi tôi thương nhất. Đôi guốc mộc của cô vẫn nằm dưới hiên, ngay ngắn như mọi ngày. Chỉ khác một điều sẽ không còn người đàn ông mỗi chiều đi đồng về, lặng lẽ cúi xuống rửa sạch.

Tôi mang theo chiếc rương trở về với đất của tía má. Còn trái tim mình, tôi biết đã để lại nơi đó.

Một cuộc chia tay không có ai phản bội ai, không có ai hết yêu ai. Chỉ có hai người thật lòng thương nhau… nhưng cuối cùng vẫn phải bước về hai phía của cuộc đời.

TIM NGUYỄN. 

London, 12/08/2026

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét