GÁI NGOAN NỬA MÙA.
(Viết theo lời kể của chị bạn)
Kể ra tui cũng thuộc dạng gái ngoan - nhưng là gái ngoan nửa mùa, kiểu trái ổi bị nắng hun một bên, bên kia vẫn ráng giữ màu xanh cho có vẻ đoan trang. Nhìn thì tưởng hiền khô, chứ bên trong cũng có chút gió thổi qua, cũng biết cười, biết thương, biết lỡ bước vài lần cho thiên hạ khỏi nói mình chưa từng nếm mùi nhân gian.
Người ta hay nói ở đời có bốn món ăn chơi gọi là tứ đổ tường: rượu chè, cờ bạc, trai gái, hút xách. Tui xin khai thiệt, rượu chè thì tui biết nguyên cặp, còn ba món kia mỗi thứ chỉ dám xí một nửa, như thể ông trời chia phần vừa đủ để tui có chút chuyện kể mà không bị xếp vô danh sách "hư toàn tập".
Mà nói cho công bằng, rượu cũng có năm bảy kiểu. Có người uống vì buồn, có người uống vì vui, có người uống để quên sự đời. Còn tui uống đúng một ly trong đời - ly rượu giao bôi ngày cưới. Cùng một ngụm rượu đi xuống cổ họng, nhưng uống sai lúc người ta gọi là sa ngã, uống đúng ngày người ta lại gọi là nên duyên. Cùng một bài làm mà gặp hai người chấm khác nhau là điểm số đổi liền. Có khi số phận con người cũng giống ly rượu kia, không nằm ở thứ mình cầm trên tay, mà nằm ở câu chuyện phía sau nó.
Cha mẹ mất sớm, họ hàng ai cũng có cuộc sống riêng để lo, tui với thằng em trai giống như hai cây cỏ mọc bên vệ đường, không ai ngày ngày tưới nước, cũng chẳng ai đứng đó che dù khi trời nắng gắt. Hai chị em đành tự làm chỗ dựa cho nhau mà lớn lên.
Rồi giữa chốn đông người, tui gặp ảnh. Ảnh cũng mồ côi, cũng thiếu một mái nhà tinh thần giống tui. Hai đứa như hai chiếc lá bị gió cuốn đi mỗi hướng, vậy mà cuối cùng lại vô tình rơi xuống cùng một góc sân. Hai tâm hồn từng thiếu thốn gặp nhau, thôi thì dựng tạm một căn nhà bằng thương yêu mà trú, chẳng cần lệnh song thân - mà thiệt tình muốn xin cũng chẳng biết xin ai. Hai đứa lúc đó nghĩ đơn giản lắm: cha mẹ không còn, nhưng trái tim vẫn còn đập đều, vậy thì mình thương nhau thôi.
Đám cưới thời bao cấp nghèo mà ấm như nồi canh rau tập tàng ngày mưa. Không nhà hàng máy lạnh, không sân khấu đèn màu, không xe hoa chạy vòng vòng cho thiên hạ đứng coi. Cưới ngay tại nhà, căn nhà nhỏ xíu hôm đó tự nhiên rộng ra lạ thường vì chứa đầy tiếng cười, tiếng gọi nhau, tiếng chân chạy tới chạy lui của bà con hàng xóm. Nhà chật mà khách đông nên phải chia ca, người này vừa đặt đũa xuống là người kia vô ngồi, dọn bàn nhanh như chạy giặc, chậm một chút là khách đến sau không còn chỗ mà ngồi chớ đừng nói chi chỗ đứng.
Nhưng nghèo cũng có cái dễ thương của nghèo. Không tiền mua hoa thì lấy tàu dừa làm cổng, không trang trí sang trọng thì lấy bàn tay bạn bè làm đẹp cho ngày vui. Áo cưới đi thuê, xe hoa không có, xác pháo đỏ cũng không. Nhưng có một thứ tiền bạc không mua được - những người hàng xóm, bạn bè sẵn lòng bỏ công sức ra giúp mình trong ngày quan trọng nhất của một kiếp người.
Mấy đứa bạn gái xúm lại đi kiếm tàu dừa về dựng cổng cưới, rồi cả đám ngồi cặm cụi cắt chữ dán lên tường: "Bình Châu Hạnh Phúc Muôn Năm." Làm xong, đứa nào cũng nhìn thành quả với ánh mắt tự hào, cứ như vừa xây xong cung điện tình yêu. Ai dè bác tổ trưởng dân phố đi ngang, đứng nhìn một hồi rồi phán một câu tỉnh bơ: "Đám cưới thì chúc hạnh phúc trăm năm chứ đâu phải hội nghị mà cái gì cũng muôn năm." Cả đám im re, ngẫm lại thấy bác nói cũng có lý. Thế là lật đật sửa chữ "muôn" thành "trăm", khổ nỗi giấy đỏ hết sạch, chỉ còn giấy bạc. Thời đó đâu có chuyện muốn màu gì bấm điện thoại một cái là ra, có gì xài nấy. Chữ "trăm" đành cắt bằng giấy bạc, dán chìm vào giữa hàng chữ đỏ, đứng gần thì thấy rõ, mà lùi ra xa một chút, cái màu bạc lạc lõng ấy cứ như tan biến đi đâu mất, để lại một khoảng trống lửng lơ giữa dòng chữ "Bình Châu Hạnh Phúc ... Năm". Nghĩ kỹ lại thấy nó hay - cái khoảng trống nhìn từ xa ấy, đâu phải để bỏ mãi, mà là để dành sẵn cho cô dâu chú rể tự mình điền vào, năm này qua năm khác, bằng chính những tháng ngày họ sống với nhau.
Cưới xong, căn nhà chỉ còn hai vợ chồng với thằng em trai đang học lớp 12. Và đây mới là đoạn khiến tui nghĩ mấy người cùng thời nghe xong chắc cười khúc khích. Hồi đó thanh niên tụi tui đâu có internet, đâu có điện thoại thông minh, đâu có Google hỏi gì cũng ra. Muốn biết chuyện trai gái chỉ có nghe người này kể người kia, mấy cuốn sách chuyền tay, mấy câu chuyện nói nhỏ dưới mái hiên. Trong kho tàng "kiến thức bí mật" của tuổi mới lớn ngày ấy, có một cái tên mà hễ ai nghe tới cũng làm bộ ho một tiếng, nhìn trời nhìn đất, giả bộ như chưa từng biết - Cô Giáo Thảo. Tui hồi đó cũng nghe thiên hạ nói qua, nhưng thiệt tình lúc đó tui đã có quá nhiều thứ phải lo rồi, nào cơm áo, tiền bạc, nuôi em, tính chuyện tương lai, chưa kịp nghiên cứu sách vở thì đã phải bươn chải đủ bề. Tui nghĩ bụng, người ta học Cô Giáo Thảo bằng mấy trang giấy truyền tay, còn tui học chuyện yêu thương bằng chính cuộc sống. Ở đó không có ai giảng bài, không có đáp án cuối sách, chỉ có hai người tự học cách hiểu nhau.
Đêm tân hôn, hai đứa hồi hộp như học sinh chờ phát đề thi. Bao nhiêu năm giữ gìn, cuối cùng cũng tới ngày được bước vào một môn học mà không ai dạy trong sách giáo khoa. Chiến bào được khoát lên. Ai dè, ngay lúc hai đứa đang chuẩn bị "vào bài", thằng em trai ngồi học ở nhà trước bỗng hét lớn: "Anh chị làm gì mà rầm rầm hoài vậy? Đừng làm ảnh hưởng việc học của em!"
Trời đất ơi. Hai đứa tui lúc đó giống y chang học sinh đang làm bài kiểm tra, tự nhiên giám thị đi ngang hỏi làm tới đâu rồi, muốn trả lời cũng không biết trả lời sao. Tui nhỏ giọng phân trần: "Căn nhà này cách âm không được tốt..." Thằng nhỏ đáp liền, tỉnh queo: "Chứ còn gì nữa! Anh chị nói gì ngoài đây em nghe hết!" Ảnh trố mắt: "Tường nhà em xây bằng giấy hả?" Nó đốp lại không chút do dự: "Không, nhưng mười căn nhà chung một cái loa thông báo luôn đó!" Nói xong còn gõ cửa: "Nhỏ tiếng chút! Em đi học bài đây!"
Hai vợ chồng nhìn nhau, trong đầu cùng hiện lên một câu hỏi lớn hơn cả đề thi đại học: vậy rồi làm sao học tiếp môn này? Ảnh lặng lẽ đứng dậy dọn mấy cái ly rượu bị đổ, không giận không trách, nhưng cái vẻ mặt thất vọng nhìn mà thương. Đêm đó hai đứa nằm quay mặt ra hai phía, mỗi người âm thầm giải một bài toán khó - làm sao thương nhau khi căn nhà không có lấy một chút riêng tư, làm sao giữ lửa khi bên ngoài luôn có một vị khán giả bất đắc dĩ. Cuối cùng tụi tui nghiệm ra, chuyện vợ chồng cũng phải biết coi hoàn cảnh, tìm phương pháp, chờ đúng thời điểm, chứ không phải cứ muốn là được. Cái khó nó bó cái lòng. Bài giải của tụi tui lúc đó chỉ có hai chữ: chờ thời.
Rồi mùa hè năm đó, thằng em thi đậu đại học, lên đường đi học, ra trường, rồi đi xa theo phân công nhiệm sở. Căn nhà nhỏ ngày nào từng vang tiếng than "anh chị làm gì mà ồn quá", cuối cùng cũng trở lại yên tĩnh, chỉ còn hai vợ chồng, không còn ai gõ cửa, không còn ai làm giám khảo bất đắc dĩ. Thằng em ngày xưa giờ cũng có gia đình riêng, chắc nhiều năm sau nó mới hiểu được cái đêm đó anh chị nó không phải ồn ào vì thiếu ý thức, chỉ là hai con người từng cô đơn quá lâu, cuối cùng cũng tìm được nhau.
Có những chuyện lúc xảy ra chỉ muốn kiếm cái lỗ chui xuống vì mắc cỡ, vậy mà vài chục năm sau nhớ lại, nó lại thành một viên kẹo ký ức, ngậm vô thấy vừa ngọt vừa cay vừa mắc cười. Tuổi trẻ của tụi tui không có nhiều thứ, không nhà đẹp, không tiền nhiều, không cuộc sống tiện nghi. Nhưng có một thứ mà thời nào cũng quý - có một người bên cạnh để cùng mình đi qua những ngày thiếu thốn, rồi vài chục năm sau vẫn còn ngồi cười với nhau về những chuyện từng làm mình đỏ mặt.
Hạnh phúc là sau bao nhiêu năm, vẫn có người ngồi cạnh mình mà nói: "Nhớ cái hồi đó không?"
Còn bạn thì sao? Có kỷ niệm nào ngày xưa từng muốn giấu nhẹm xuống đất, vậy mà thời gian phủ lên một lớp bụi vàng, để rồi mỗi lần nhớ lại chỉ biết vừa mắc cỡ vừa cười một mình không?
HỒNG KHUU.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét