Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

Hồi ức : TẾT QUÊ NỘI - Nhất Chi Mai.

 


TẾT QUÊ NỘI. 

Ngày đó, nhà tui nghèo lắm. Nghèo đến mức Tết trở thành quá đắt đỏ cho cả bảy người ăn Tết cùng nhau. Đưa ông Táo xong, sáng hôm sau, ba má tui tống tiễn cả một đàn chim non về quê nội trú đông.  Thế là bốn “tiểu quỷ” của gia đình bảy miệng ăn lại khăn gói lên đường chịu sự cai trị của nội suốt mấy ngày xuân. 

Nhà nội hồi đó cũng không dư dả gì, nhưng Tết thì vẫn phải ra Tết. Ba ngày đầu năm, bàn thờ lúc nào cũng có rượu, có trà, có bánh mứt. Ngoài sân có  đàn vịt đẻ sẵn sàng làm hậu phương cho mấy mâm cơm tươm tất. Nội tui tin lắm vào chữ “đủ đầy”. Nội nói, đầu năm mà tròn trịa thì cả năm mới yên ổn, no ấm được. Vì tin, nên kiêng. Kiêng giặt giũ mấy ngày Tết, sợ cả năm phải lom khom bên thau nước. Tui lúc đó còn nhỏ, nghe mà ngơ ngác: đồ mặc rồi không giặt thì biết làm sao? Chuyện đem đồ ra tiệm giặt, với tui hồi đó, xa xỉ như một giấc mơ. 

Về quê, chị em tui được thả về với thiên nhiên, sống hoang dã đúng nghĩa. Ban ngày tát đập, bắt cá, chiều lội ruộng mò cua, tối theo đám con nít trong xóm đi bắt chuột. Khi thì mót lúa, lúc lại hái bần ven sông. Cả một kho tàng trò chơi và thức ăn mà con nít Sài Gòn như tui khó lòng tưởng tượng nổi. Tuổi thơ lúc đó không có lịch hẹn, không có đồng hồ, chỉ có mặt trời lặn là tín hiệu trở về nhà. 

Nhưng hấp dẫn nhất, vẫn là mấy cái bao lì xì đỏ au. Nhỏ nhỏ vậy mà có võ. Góp từng đồng lẻ, tích tiểu thành đại, cuối Tết tui cũng có một khoản kha khá. Mang về Sài Gòn, đổi thành mấy cuốn truyện tranh và con búp bê đã ngắm nghía suốt cả năm trời. Hạnh phúc khi đó đơn sơ đến lạ, mà sao nhớ hoài không cũ. 

Hơn năm mươi năm trôi qua, ký ức ấy vẫn nằm yên một chỗ trong tui, không phai, không nhòe. Tui đi xa nửa vòng trái đất, mang theo cả mùi rơm rạ, mùi bánh Tết, mang theo cái ngu ngơ của tuổi mới lớn ngày nào. Ngày xưa chỉ mong mau lớn để được tự quyết đời mình. Còn bây giờ, lại thèm được bé lại, được chui vào vòng tay má, nghe má la rầy mà thấy lòng yên ổn. 

Thời gian như chuyến tàu không chờ ai. Nó cứ lăn bánh, kéo tui đi qua hết ga này đến ga khác. May mắn thay, đến tuổi này vẫn còn chỗ ngồi bên cửa sổ để ngắm bình minh, âu cũng đã là một phần thưởng lớn. Ngoảnh mặt lại, chỉ còn hơn ba tuần nữa là Tết Nguyên Đán. Năm con ngựa, cũng là năm tuổi của tui. 

Ngựa ơi, cứ phi đi, nhưng nhớ giữ thăng bằng. Sáu mươi năm lăn lộn với đời rồi, không biết còn chạy nổi bao xa. Nhưng thôi, còn đi được ngày nào, thì cứ đi cho trọn ngày đó.

NHẤT CHI MAI.

21/01/2026

Cuộc sống : TỤC BÓ CHÂN - St trên FB.




 TỤC BÓ CHÂN. 

(VN mình vậy mà ... nhân tính  hơn)

Có nhiều điều, nếu không tận mắt thấy, mình sẽ không tin nó từng tồn tại.

Đôi chân trong bức ảnh này là của một người phụ nữ Trung Quốc. Bà đã bị bó chân từ khi còn là một đứa trẻ. Không vì bệnh. Không vì tai nạn. Mà vì người ta nói vậy mới… đẹp.

Ngày xưa, ở Trung Quốc, con gái khoảng 5–6 tuổi đã bắt đầu bị bó chân. Các ngón chân bị bẻ cong xuống. Có khi xương bị làm gãy. Rồi người ta dùng vải quấn thật chặt, ngày này qua ngày khác, để bàn chân không lớn lên nữa.

Sau vài năm, bàn chân sẽ co lại, nhỏ bất thường. Biến dạng. Cong queo. Người ta gọi đó là “chân hoa sen”.

Càng nhỏ càng đẹp.

Càng nhỏ càng có giá.

Càng nhỏ càng dễ lấy chồng.

Nghe thì có vẻ nhẹ nhàng. Nhưng thực tế thì không nhẹ nhàng chút nào.

Đau. Đau suốt đời.

Nhiều phụ nữ không thể đi xa. Có người đi vài bước là phải dừng lại. Có người già rồi gần như không đi được nữa. Nhưng họ vẫn phải chịu, vì nếu không bó chân, họ có thể sẽ không lấy được chồng. Gia đình họ sẽ bị coi thường.

Có phải tự chị lấy đâu! Chỉ vì áp lực.

Áp lực từ gia đình.

Áp lực từ xã hội.

Áp lực từ cái gọi là “chuẩn mực”.

Tục này bắt đầu từ khoảng hơn 1.000 năm trước, thời nhà Tống. Lúc đầu chỉ có nhà giàu làm. Sau đó lan rộng ra khắp nơi. Nó tồn tại qua nhiều thế kỷ, từ đời này sang đời khác, đến mức người ta coi nó là chuyện bình thường.

Mãi đến đầu những năm 1900, khi xã hội bắt đầu thay đổi, người ta mới nhận ra nó tàn nhẫn thế nào. Năm 1912, chính quyền Trung Quốc chính thức cấm bó chân.

Nhưng cấm là một chuyện. Thay đổi là chuyện khác.

Ở nhiều vùng quê, người ta vẫn tiếp tục bó chân thêm vài chục năm nữa. Những người phụ nữ cuối cùng mang đôi chân bó vẫn còn sống cho tới đầu thế kỷ 21.

Họ là những nhân chứng sống của một thời mà sự đau đớn được coi là cái đẹp.

Ở Việt Nam, tục này hầu như không tồn tại. Người phụ nữ Việt Nam xưa phải làm ruộng, gánh hàng, đi chợ, nuôi con. Nếu bó chân, họ sẽ không thể sống được. Vì vậy, dù bị ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, người Việt không chấp nhận tục này như một chuẩn mực.

Đó là một điều may mắn.

Nhìn vào đôi chân trong bức ảnh, người ta không còn thấy vẻ đẹp nữa. Người ta chỉ thấy dấu vết của một thời mà xã hội có thể khiến con người tự hành hạ mình, chỉ để được chấp nhận.

Nó cũng nhắc mình một điều đơn giản:

Không phải cái gì tồn tại lâu đời cũng là đúng.

Và không phải cái gì được gọi là đẹp, cũng thực sự là đẹp.

Mọi thứ đều tương đối một thời...

Sưu tầm trên FB. 

Tản mạn : NGÀY XƯA HOÀNG THỊ - Lê Văn Thông.

 



NGÀY XƯA HOÀNG THỊ.

Ca khúc " Ngày Xưa Hoàng Thị"  của Phạm Duy được phổ nhạc từ  bài thơ cùng tên của Phạm Thiên Thư 

bài thơ ấy đọc một lần thấy hay và buồn, nhưng khi đọc nhiều lần thì thấy hình ảnh mình trong đó.

Tôi đến với "Ngày Xưa Hoàng Thị "không phải bằng âm nhạc trước, mà bằng thơ của Phạm Thiên Thư. Những câu chữ giản dị như bước chân học trò:


“Em tan trường về

Đường mưa nho nhỏ…”


Chỉ vậy thôi mà mở ra cả một bầu trời tuổi trẻ. Không có lời tỏ tình. Không có một lần nắm tay. Chỉ có một người đi trước và một người lẽo đẽo theo sau. Cái đẹp của bài thơ nằm ở sự ngập ngừng. Cái buồn của bài thơ là không ai dám nói điều mình muốn nói.

Tôi đã từng nghĩ đó chỉ là chuyện của người xưa. Cho đến khi tôi nhận ra mình cũng đã sống một “Ngày Xưa” như thế.

Tôi học ở trường trung học  Lý Thường Kiệt, mỗi buổi chiều tan học tôi đứng chờ em. Không phải đứng xa nhìn theo như  chàng trai trong thơ. Tôi đứng ngay cổng trường, giả vờ buộc lại dây giày hay chỉnh cái cặp, để khi em bước ra thì có thể đi chung trên con đường quen thuộc.

Con đường ấy cũng có nắng vàng và những cơn mưa bất chợt.

Có hôm trời mưa. Hai đứa trú dưới mái hiên lớp học. Mưa rơi lộp bộp xuống sân, nước bắn lên thành từng vòng tròn nhỏ. Em đứng sát bên tôi. Bàn tay em đặt hờ lên thành cửa sổ. Tôi muốn nắm lấy bàn tay ấy. Chỉ cần một lần thôi, tôi ngập ngừng. Tim đập nhanh hơn cả tiếng mưa. Cuối cùng, tôi lại thôi. Chúng tôi chỉ im lặng nhìn ra khoảng sân trắng xóa.

Đọc đến câu:

“Tìm lời mở nói

Lòng sao ngập ngừng”

tôi ngỡ ngàng. Hóa ra mình cũng từng “ngập ngừng” như thế.

Có buổi trưa trời mưa lớn. Tôi cứ đạp xe cạnh em dưới cơn mưa dài dằng dặc. Nước mưa làm tóc em ướt, dính vào má. Tôi lạnh run mà lòng lại ấm. Lúc ấy tôi hiểu vì sao trong thơ có câu “Mưa nhẹ bâng khuâng”. Mưa không chỉ ướt áo, mưa còn làm lòng người xao xuyến.

Có hôm tôi đến nhà em  cùng học bài, em cho tôi ly chè thơm mùi nước cốt dừa và tôi ở lại ăn buổi cơm cùng gia đình em. Bữa cơm đơn sơ mà tôi thấy mình như đã bước vào một mái nhà tương lai. Tôi ngồi ăn mà nghe tim mình rộn rã.

Nhưng tuổi học trò thường không giữ được những ước mơ  ban đầu .

Sau năm đó, tôi  vào đại học. Chúng tôi chia tay không ai dám nói hết lòng mình,cho dù là một lời hứa hẹn. Tôi nghĩ bốn năm đại học không dài. Nhưng đời người thì dài hơn bốn năm rất nhiều.

Em đi lấy chồng.

Tin ấy đến nhẹ như một cơn gió, nhưng đã làm lòng tôi chết lặng  . Tôi không trách em. Tôi chỉ trách mình đã không một lần nói rõ. Nếu ngày đó tôi nắm lấy tay em dưới  mưa, liệu mọi chuyện có khác?

Trong bài thơ, mười năm sau, người xưa tình cờ trở lại:


“Mười năm rồi Ngọ

Tình cờ qua đây…”


Còn tôi, tôi chưa từng có một lần gặp lại em như thế. Chỉ có những lần đi ngang con đường cũ, thấy nắng vẫn vàng mà lòng mình thì đã khác.

Cảm nhận "Ngày Xưa Hoàng Thị" tôi hiểu vì sao bài thơ sống mãi. Nó không chỉ kể chuyện của một cô gái tên Ngọ. Nó kể về tất cả những mối tình đầu không trọn vẹn. Về những bàn tay không kịp nắm. Về những lời không dám nói.

Người ta thường nhớ tình đầu không phải vì đó là mối tình đẹp nhất, mà vì đó là lần đầu trái tim biết thổn thức !

Đến bây giờ, mỗi khi nghe lại giai điệu bài hát năm xưa, tôi vẫn thấy mình của tuổi mười tám đứng dưới mái trường , tay run run mà không dám chạm vào tay em.

Có lẽ, trong mỗi chúng ta đều có một “Hoàng Thị” của riêng mình.

Và có những ký ức đẹp, dù đã đi qua , nhưng vẫn còn mãi mãi trong trái tim ta.

Bài thơ 

Ngày Xưa Hoàng Thị

( Thi sĩ: Phạm Thiên Thư)


Em tan trường về

Đường mưa nho nhỏ

Chim non giấu mỏ

Dưới cội hoa vàng


Bước em thênh thang

Áo tà nguyệt bạch

Ôm nghiêng cặp sách

Vai nhỏ tóc dài


Anh đi theo hoài

Gót giày thầm lặng

Đường chiều úa nắng

Mưa nhẹ bâng khuâng


Em tan trường về

Cuối đường mây đỏ 

Anh tìm theo Ngọ

Dáng lau lách buồn


Tay nụ hoa thuôn

Vương bờ tóc suối

Tìm lời mở nói

Lòng sao ngập ngừng


Lòng sao rưng rưng

Như trời mây ngợp

Hôm sau vào lớp

Nhìn em ngại ngần


Em tan trường về

Đường mưa nho nhỏ

Trao vội chùm hoa

Ép vào cuối vở


Thương ơi! Vạn thuở

Biết nói chi nguôi

Em mỉm môi cười

Anh mang nỗi nhớ


Hè sang Phượng nở 

Rồi chẳng gặp nhau ,

Ơi mối tình đầu 

Như đi trên cát 


Bước nhẹ mà sâu 

Mà cũng hòa mau... 

Tưởng đã phai mầu

Đường chiều hoa cỏ 


Mười năm rồi Ngọ 

Tình cờ qua đây 

Cây xưa vẫn gầy 

Phơi nghiêng dáng đỏ


Áo em ngày nọ 

Phai nhạt mấy màu 

Chân theo tìm nhau 

Còn là vang vọng


Đời như biển động 

Xóa dấu ngày qua 

Tay ngắt chùm hoa 

Mà thương mà nhớ 


Phố ơi! Muôn thuở 

Giữ vết chân tình 

Tìm xưa quẩn quanh 

Ai mang bụi đỏ 


Dáng ai nho nhỏ 

Trong cõi xa vời. 


Tình ơi! Tình ơi!


LÊ VĂN THÔNG. 

Hồi ức : SÁCH ĐÈN THUỞ ẤY - Vũ Thế Thành.

 


SÁCH ĐÈN THUỞ ẤY.

( Tựa của MCHX blog )

Chợ sách Đặng Thị Nhu bị xóa sổ vào giữa thập niên 80, buộc gom sách về cho cơ quan nhà nước quản lý, nên các chủ quầy chạy hết, tản ra các  nơi khác bán sách vỉa hè “lưu động” ở đường Trương Tấn Bửu (Trần Huy Liệu), Hồng Thập Tự (NTMK),… Khi hữu sự, sẵn sàng gom sách ù té chạy. 

Sách bày bán ở các “quầy sách cũ vỉa hè” này không còn phong phú và đa dạng như ở chợ Đặng Thị Nhu (hẻm Cá Hấp). Nhớ hoài, ở chợ ĐTN chỉ 1 quầy duy nhất có quyển “Handbook of Chemical Engineers”, tôi vẫn thường ra đây vờ vĩnh tham khảo sách. Quyển này giá 4 chỉ vàng, đôi lúc mân mê vuốt ve sách hơn cả tình… nhơn. Khi chợ sách dẹp tiệm, tôi đứng ngẩn người giữa chợ trống hoắc, cảm giác như “người tình bỏ ta đi”. 

Hồi đó tương lại mù mịt bế tắc chiều tối là nhậu (rượu Cây Lý) vỉa hè suốt… , thằng bạn ngồi uống với mình tối nay, tối sau có thể đã biến. Nhậu nghiêng ngửa như vậy mà tối về nhà vẫn đọc sách, không đọc không ngủ được… Thời buổi đảo điên đó, chỉ có sách là bè bạn. Đọc đi đọc lại sách của E. M. Remarque, C.V Gheorghiu, A. Solzhenitsyn,...thấy như chính mình trong đó… (Vtt)

Một thời thư viện

Hồi còn học trung học tôi ít khi vào thư viện, thỉnh thoảng mới tạt vào thư viện Hội Việt Mỹ ở đường Mạc Đỉnh Chi.

Thư viện này rộng lớn, có máy lạnh, là nơi trốn nắng lý tưởng, có khi trốn cả mưa nữa. Vào thư viện không phải đọc sách mà để đọc báo…chùa. Thư viện thỉnh thoảng tổ chức triển lãm tranh ảnh, sách báo. Tôi nhớ có lần triển lãm mấy cục đá trên mặt trăng do phi thuyền Apollo 16 hay 17 gì đó mang về. Đá chị Hằng không đẹp, sần sùi, nhưng bài trí trong phòng ánh sáng xanh tím dịu, đẹp lung linh.

Lên đại học, tôi mới vào thư viện thường hơn. Vào thư viện không phải để mượn sách hay tìm tài liệu (dù có thẻ thư viện), mà vào để học. Thi rớt đi lính, rất phiền cho cuộc đời. Thật ra thì không hẳn sợ rớt đi lính – tôi tự tin sức học của mình có thể pass – mà học vì khao khát kiến thức, mơ mộng thành…khoa học gia này nọ. Tôi tin hầu hết các bạn bên ngành khoa học đều có tâm trạng như vậy. Tuổi trẻ thường hoang tưởng trèo cao, càng cao càng té đau. Năm 75 đứt phim, đau điếng.

Khi đầu óc bão hòa, nhét chữ không vào, thì kiếm tờ báo đọc. Hai thư viện tôi thường vào: Đó là thư viện Đắc Lộ ở đường Yên Đổ. Thư viện này nằm trong khuôn viên Trung tâm Đắc Lộ của Dòng Tên. Không chỉ có thư viện mà nơi đây còn có studio làm các show truyền hình về giáo dục cho giới trẻ, có khi hóng chuyện nghe những nhân viên trong đó bàn chuyện làm chương trình khoa học phổ thông, sức khỏe, đời sống cũng thấy hào hứng. Chỉ nghe chứ tôi chưa xem show của họ trên TV bao giờ.

Mấy linh mục Dòng Tên kiến thức uyên bác và phóng khoáng, phóng đến độ bị Vatican đì mấy thế kỷ. Nhưng phóng khoáng lại dễ hòa đồng, giới trẻ thích mấy cha Dòng Tên, bất kể lương giáo. Tu viện có mấy ông cha Tây, tôi lân la tán phét, xổ tiếng Anh,.. Trời đất, có ông cha nói tiếng Việt sõi như người Việt, xài cả tiếng lóng như bọn trẻ. Tôi không nhớ nổi tên cha Tây này, chỉ  quen gọi là cha Sáu.

Sau năm 75, các cha Tây bị trục xuất về nước. Tôi nghe nói cha Sáu có thời gian qua các trại tị nạn ở Malaysia giúp đỡ dân Việt vượt biên ở đó. Hình như cha mất rồi thì phải…

Còn trung tâm Đắc Lộ thì bị tịch thu, làm tòa soạn báo Tuổi Trẻ và nhà in. Sau này nghe nói chính quyền có trả lại cho nhà dòng một phần – một phần to nhỏ thế nào tôi không rõ.

Chán chữ nghĩa thì đạp xe ra cà phê Lá Me đàn đúm bè bạn ở vỉa hè đường Duy Tân, ngắm người đẹp Văn Khoa, Luật khoa, và cả Trưng Vương nữa. Chán hơn nữa thì ra đường Cường Để, ngược về phía bến Bạch Đằng là đoạn đường vắng vẻ êm đềm, với những hàng cây cổ thụ lâu đời, rễ cây mọc trồi cả lên mặt đường.

Hai bên đường là những biệt thự cổ kính: Bên phải nghe nói là tư dinh của đại tướng Lê Văn Tỵ, đan viện Cát Minh, bên trái là Đại chủng viện, nhà nguyện, dòng tu. Con đường này ít người qua lại vì đoạn cuối là căn cứ quân sự Hải quân.

Gửi xe ở Đại học Văn Khoa, rồi thả bộ trên đường Cường Để vào buổi chiều, nghe tiếng ve kêu, tưởng như ngược dòng thời gian cách nay mấy thế kỷ bên Châu Âu. Một đoạn đường yên bình trong thời chiến tranh, êm đềm đến độ có lần tôi làm… thơ. Tôi nhớ mang máng, bài thơ chỉ có hai câu. Đó là bài thơ “tử tế” đầu tiên (và cũng là cuối cùng trong đời tôi). Đừng ai hỏi tôi về hai câu thơ này, tôi quên sạch rồi.

Thư viện thứ hai tôi thường vào là Trung tâm Văn hóa Đức ở đường Phan Đình Phùng, hình như bây giờ là Tòa Lãnh sự Đức. Thư viện này rất yên tĩnh, ít người, nên tôi vào nhiều hơn. Có những chiều mưa, nhìn qua khung cửa kính, thấy bâng khuâng. Thời tuổi trẻ thật đẹp!

Sau 75 là thời phần thư khanh nho, Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn Nho, người ta đốt sách chôn sự thật, chôn cả tự do.

Đường Cường Để đã đổi tên, và giờ đây là con phố ồn ào, náo nhiệt, quán xá, thương xá, cao ốc, xe cộ… Với tôi, đường Cường Để là con đường đẹp nhất Sài Gòn, chỉ còn tìm thấy trong ký ức.

Cà phê Lá Me cũng không còn… Còn nhiều thứ khác nữa cũng không còn, không chỉ con đường hay quán xá, mà cả tinh thần của người Sài Gòn cũng đang mờ dần.

Hơn 45 năm rồi, tôi không còn vào những thư viện năm xưa đó nữa. Thư viện của tôi là các quầy sách cũ ở đường Bùi Quang Chiêu (nay là Đặng thị Nhu), đọc sách chùa cả tiếng đồng hồ, mà chủ quầy chưa bao giờ phàn nàn tên khố rách đến mót chữ. Chợ sách cũ giờ cũng không còn.

Dù chưa một ngày làm quan, tôi bỗng nhớ câu thơ của Nguyễn Khuyến “Sách vở ích gì cho buổi ấy”. Tôi ngộ ra được nhiều điều về con người từ hồi Sài Gòn rơi vào buổi phần thư.


Vũ Thế Thành

Thứ Ba, 17 tháng 2, 2026

Cuộc sống : GIỎ QUÀ ĐẦU NĂM - Lê Văn Thông.

 


GIỎ QUÀ ĐẦU NĂM 


Ở quê tôi – một xóm nhỏ miền Tây nằm nép mình bên con rạch đục phù sa – mỗi dịp Tết đến, người ta không chỉ chờ mai nở, chờ bánh tét chín, mà còn chờ những giỏ quà đầu năm. Giỏ quà quê không sang trọng, thường chỉ có mấy ký đường, hộp trà, ít bánh mứt. Nhưng cái quý nhất không nằm trong bao bì bóng loáng, mà nằm ở tấm lòng người đem tới.

Năm đó, Tết đến với gia đình tôi không bằng mùi thơm của nồi bánh tét, mà bằng mùi thuốc sát trùng còn vương trên áo.

Em trai tôi vốn khỏe mạnh, quen trèo cây dừa cao nhất xóm. Cây dừa nhà tôi mấy chục năm tuổi, thân cao vút, mỗi năm chỉ hái trái bán Tết một lần để có chút tiền sắm sửa. Chiều hai mươi bảy, em trèo lên như mọi khi. Ai ngờ trượt chân. Cái ngã từ trên cao xuống không chỉ làm gãy xương, mà còn làm cả nhà tôi chao đảo.

Bệnh viện, tiền viện phí, những khoản vay mượn chồng lên nhau như những lớp sóng ngoài sông mùa nước lớn. Má tôi thở dài nhiều hơn nói. Ba tôi vốn ít lời, giờ càng lặng lẽ.

Chị gái tôi – người đã lấy chồng trên TP.HCM – nghe tin liền bắt xe về trong đêm. Anh rể đi cùng, tay xách sữa, tay ôm theo ít quần áo. Nhà chồng chị ở thành phố, buôn bán vật liệu xây dựng, cuộc sống khác hẳn miền quê sông nước của chúng tôi. Từ ngày chị lấy chồng, bà con lối xóm hay trêu: “Con nhỏ miền Tây mà làm dâu Sài Gòn, chắc sướng lắm!”

Nhưng chỉ người trong cuộc mới hiểu, làm dâu không phải chuyện sướng hay khổ, mà là chuyện có được thương hay không.

Những ngày cuối năm, thay vì lo sắm Tết, cả nhà tôi thay phiên nhau vào bệnh viện. Chị tôi lặng lẽ rút sổ tiết kiệm dành dụm bấy lâu. Tôi thấy chị đứng ngoài hành lang, nhìn điện thoại thật lâu, rồi lại cất vào túi. Có lẽ chị muốn gọi về nhà chồng, nhưng rồi thôi. Ở quê, người ta quý nhất là sự tự trọng. Giúp thì quý, nhưng mở lời vay mượn lại là chuyện khác.

Chiều ba mươi, khi em trai vừa được xuất viện về nhà nghỉ ngơi, thì ba má chồng chị tôi từ TP.HCM xuống.

Họ đi xe hơi về tận đầu xóm, rồi đi bộ vào vì đường nhỏ. Trên tay chỉ có một giỏ quà: trái cây, hộp trà, mấy đòn bánh tét mua ở thành phố. Giỏ quà nhìn giản dị đến mức mấy cô dì trong xóm khẽ chép miệng: “Nhà thành phố mà…”

Ba má tôi vẫn niềm nở mời nước. Người miền Tây nghèo thiệt, nhưng hiếu khách và hào sảng thì không thiếu.

Cuộc nói chuyện diễn ra nhẹ nhàng. Họ hỏi thăm sức khỏe thằng út, dặn dò nó ráng dưỡng thương. Không ai nhắc đến tiền bạc. Không ai nhắc đến khó khăn.

Tối đó, khi khách đã về, má tôi dọn giỏ quà ra sắp lên bàn thờ ông bà. Trong hộp trà có một phong bì nhỏ. Bên trong là một tấm thẻ ngân hàng và mảnh giấy viết tay:

“Biết gia đình đang lo cho cháu út. Chúng tôi gửi chút tấm lòng, mong anh chị đừng ngại. Người một nhà,khi gặp khó thì cùng gỡ. Đừng để con dâu chúng tôi phải đứng giữa mà buồn.”

Mật khẩu là ngày cưới của chị tôi.

Má tôi cầm tờ giấy mà tay run run. Ba tôi quay mặt đi, giả vờ ho. Chị tôi ngồi bệt xuống nền nhà, nước mắt rơi mà miệng vẫn cười.

Cái hay của người thành phố không phải ở sự giàu có, mà ở cách họ cư xử. Họ không trao tiền trước mặt đông người. Không nói lời khiến ai phải mang ơn. Họ để giỏ quà đầu năm như bao giỏ quà khác, nhưng bên trong là sự thấu hiểu.

Còn cái hào sảng của người miền Tây là ở chỗ: nhận tấm lòng ấy bằng sự biết ơn chân thành, không tự ái, không mặc cảm. Ba tôi gọi điện cảm ơn, nói khi nào xoay xở được sẽ hoàn lại. Đầu dây bên kia chỉ cười: “Khỏi vội anh chị. Lo cho thằng nhỏ khỏe trước đã.”

Đêm giao thừa năm đó, nhà tôi không bắn pháo hoa, không mở nhạc lớn. Nhưng mâm cơm cúng ông bà có thêm một nụ cười nhẹ nhõm. Em trai tôi nằm trên võng, chân bó bột, nhìn ra sân đầy nắng mới.

Tôi chợt hiểu, giỏ quà đầu năm không chỉ là quà. Nó là cách người ta đặt một bàn tay lên vai nhau mà nói: “Có tôi đây.”

Giữa miền Tây gió sông lồng lộng và Sài Gòn xe cộ ồn ào, hai gia đình – một quê, một phố – bỗng thấy gần nhau hơn chỉ vì một sự tử tế.

Và có lẽ, Tết năm ấy, điều đáng nhớ nhất không phải là cây dừa trĩu trái hay mâm bánh tét xanh, mà là tấm lòng được gửi đi và được nhận lại, tròn đầy như vị ngọt của trái dừa quê nhà.


( Lê Văn Thông)

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2026

Phương xa : LÀM THAY ĐỔI... - St trên FB.

 



LÀM THAY ĐỔI LUẬT PHÁP. 

Năm 1961, một người đàn ông chỉ học hết lớp 8 đã cầm bút chì trong phòng giam của mình và vô tình thay đổi lịch sử nước Mỹ mãi mãi.

Clarence Earl Gideon không phải là người đặc biệt. Ở tuổi 51, ông là một người lang thang với mái tóc bạc, làn da sạm nắng và một cuộc đời đầy bất hạnh. Ông lang thang từ thị trấn này sang thị trấn khác, làm những công việc lặt vặt, sống lay lắt qua ngày, thỉnh thoảng lại vào tù vì những tội nhỏ. Ông chưa bao giờ học hết cấp hai. Ông chưa bao giờ có tiền. Và vào ngày 4 tháng 8 năm 1961, khi đứng trước tòa án ở Florida bị buộc tội đột nhập vào một quán bi-a, ông không có luật sư.

Bằng chứng chống lại ông rất mỏng manh – ai đó tuyên bố đã nhìn thấy ông gần quán bi-a Bay Harbor khoảng 5:30 sáng với tiền xu trong túi. Năm đô la tiền lẻ đã bị mất khỏi tòa nhà, cùng với một ít bia và nước ngọt. Chỉ có vậy. Gideon thề rằng mình vô tội, nhưng ai sẽ lắng nghe một người lang thang nghèo khó với tiền án tiền sự?

Khi phiên tòa bắt đầu, Gideon đưa ra một yêu cầu mà ông tin là đơn giản và hợp hiến: "Thưa Thẩm phán, tôi yêu cầu tòa án chỉ định luật sư bào chữa cho tôi trong phiên tòa này."

Câu trả lời của thẩm phán rất lịch sự nhưng lại vô cùng tàn nhẫn: "Ông Gideon, tôi rất tiếc, nhưng tôi không thể chỉ định luật sư bào chữa cho ông trong trường hợp này. Theo luật của tiểu bang Florida, tòa án chỉ có thể chỉ định luật sư bào chữa cho bị cáo khi người đó bị buộc tội phạm tội nghiêm trọng."

Hãy suy nghĩ về điều đó một chút. Hệ thống pháp luật Mỹ – với tất cả sự phức tạp, các quy tắc thủ tục, ngôn ngữ chuyên ngành – lại yêu cầu một người chưa học hết cấp hai phải tự bào chữa cho mình trước các công tố viên được đào tạo bài bản. Họ mong đợi ông hiểu luật chứng cứ, thẩm vấn nhân chứng và bảo vệ quyền hiến pháp của chính mình.

Gideon đã cố gắng hết sức. Ông thẩm vấn nhân chứng. Ông tuyên bố mình vô tội. Nhưng làm sao bạn có thể tự bào chữa cho mình khi bạn không hiểu ngôn ngữ của luật pháp? Bồi thẩm đoàn tuyên bố ông có tội. Vào ngày 25 tháng 8 năm 1961, Thẩm phán Robert L. McCrary đã tuyên án ông mức án tối đa: năm năm tù tại nhà tù tiểu bang Florida.

Hầu hết mọi người sẽ bỏ cuộc. Nhưng Clarence Earl Gideon không phải là người bình thường.

Trong thư viện nhà tù, giữa những cuốn sách luật mà ông hầu như không thể hiểu, Gideon bắt đầu đọc. Dần dần, một cách khó nhọc, ông tự học về Hiến pháp. Ông phát hiện ra lời hứa của Tu chính án thứ Sáu về "quyền được trợ giúp pháp lý". Ông tìm hiểu về sự đảm bảo của Tu chính án thứ Mười bốn về thủ tục tố tụng công bằng. Và ông nhận ra một điều khiến lòng ông đau nhói: hệ thống này về cơ bản đã bị hỏng.

Làm sao công lý có thể tồn tại khi những bị cáo giàu có có luật sư, còn những người nghèo lại phải đối mặt với các công tố viên một mình?

Gideon đã nộp đơn kiến ​​nghị lên Tòa án Tối cao Florida. Họ bác bỏ đơn mà không đưa ra bất kỳ bình luận nào.

Vì vậy, ông lại cầm bút lên. Với nét chữ run rẩy trên giấy viết thư của nhà tù, trên năm trang giấy viết tay với lỗi chính tả không hoàn hảo, ông đã viết một đơn kiến ​​nghị gửi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Ông ký tên. Ông gấp lại. Và vào ngày 8 tháng 1 năm 1962, tiếng nói của một tù nhân nghèo đã đến được tòa án cao nhất nước Mỹ.

Bất chấp mọi khó khăn có thể tưởng tượng được, họ đã lắng nghe.

Tòa án Tối cao nhận được hàng nghìn đơn kiến ​​nghị mỗi năm. Hầu hết đều bị bác bỏ mà không cần xem xét kỹ lưỡng. Nhưng có điều gì đó trong vụ án của Gideon đã gây ấn tượng mạnh. Vào ngày 4 tháng 6 năm 1962, họ đồng ý xem xét đơn kháng cáo của ông. Và vì ông không đủ khả năng thuê luật sư, họ đã chỉ định cho ông một trong những luật sư giỏi nhất nước: Abe Fortas, người sau này sẽ trở thành Thẩm phán Tòa án Tối cao.

Vào ngày 15 tháng 1 năm 1963, Fortas đã đưa ra một lập luận đơn giản nhưng đầy sức thuyết phục: Nếu Clarence Darrow—có lẽ là luật sư hình sự vĩ đại nhất trong lịch sử nước Mỹ—còn cần thuê luật sư khi bị buộc tội, thì làm sao một người chỉ học hết lớp tám có thể tự bào chữa cho mình?

Câu trả lời rất rõ ràng. Ông ấy không thể. Không ai có thể.

Vào ngày 18 tháng 3 năm 1963, Tòa án Tối cao công bố phán quyết: 9 phiếu thuận, 0 phiếu chống. Nhất trí. Thẩm phán Hugo Black, người đã tranh luận cho kết quả này trong hơn hai mươi năm, đã viết bản án. Tòa án tuyên bố rằng quyền được có luật sư là "cơ bản và thiết yếu cho một phiên tòa công bằng". Các tiểu bang phải cung cấp luật sư cho các bị cáo nghèo đối mặt với các cáo buộc nghiêm trọng. Tiền lệ cũ đã bị lật ngược. Và vụ án của Gideon được gửi trở lại Florida để xét xử lại.

Lần này, Gideon có luật sư: Fred Turner. Với sự đại diện chuyên nghiệp, mọi thứ đã thay đổi. Turner đã vạch trần những điểm yếu trong vụ án của bên công tố. Ông tiết lộ rằng nhân chứng chủ chốt của tiểu bang có thể chính là người đã thực hiện vụ trộm. Ông ấy đã chứng minh được sự nghi ngờ hợp lý, trong khi trước đó dường như chỉ có tội lỗi.

Vào ngày 5 tháng 8 năm 1963—tại cùng một tòa án, trước cùng một thẩm phán—bồi thẩm đoàn đã đưa ra phán quyết:

Không có tội.

Sau hơn hai năm ngồi tù vì một tội mà ông không phạm phải, Clarence Earl Gideon đã được tự do.

Nhưng di sản của ông vẫn còn mãi. Nhờ đơn kiến ​​nghị viết bằng bút chì của một người đàn ông, hệ thống tư pháp Mỹ đã thay đổi một cách căn bản. Các tiểu bang trên khắp cả nước phải thành lập các văn phòng luật sư công. Hàng nghìn tù nhân bị kết tội mà không có luật sư đã được xét xử lại. Nguyên tắc rằng công lý không nên phụ thuộc vào sự giàu có đã trở thành luật.

Gideon trở lại cuộc sống bình lặng của mình. Ông kết hôn lần thứ năm. Ông phải vật lộn với các vấn đề sức khỏe. Khi ông qua đời vì ung thư vào ngày 18 tháng 1 năm 1972, ở tuổi 61, ông vẫn nghèo khó. Ban đầu, gia đình ông chôn cất ông trong một ngôi mộ không có bia mộ ở Missouri.

Nhưng nhiều năm sau, ACLU đã đặt một bia mộ bằng đá granit trên ngôi mộ đó. Dòng chữ khắc trên bia mộ được trích từ chính lời của Gideon trong một lá thư gửi cho Abe Fortas: "Mỗi thời đại đều tìm thấy sự cải tiến trong luật pháp vì lợi ích của nhân loại."

Ngày nay, mỗi khi bạn nghe thấy những lời "bạn có quyền được có luật sư, và nếu bạn không đủ khả năng chi trả, một luật sư sẽ được chỉ định cho bạn"—những lời đó tồn tại là nhờ một người đàn ông đã từ chối chấp nhận rằng người nghèo phải đối mặt với công lý một mình.

Clarence Earl Gideon đã chứng minh rằng lực lượng mạnh mẽ nhất để tạo ra sự thay đổi không phải là sự giàu có, địa vị hay học vấn. Đôi khi, đó chỉ đơn giản là lòng dũng cảm để cầm bút lên và viết: "Điều này không đúng."

Và đôi khi, bất chấp mọi khó khăn, thế giới lại đồng ý.

SƯU TẦM TRÊN FB. 

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2026

Truyện năm rắn : DÒNG NƯỚC BÍ ẨN - Huỳnh Văn Huê.

 




Truyện năm con rắn (Ất Tỵ):

DÒNG NƯỚC BÍ ẨN. 

Nơi tận cùng dãy núi mây phủ quanh năm, có một bộ lạc hầu như sống biệt lập với thế gian. Người trong vùng gọi đó là bản Khe Ngàn, vì bốn phía là khe suối chằng chịt, nước từ trên cao đổ xuống như những sợi chỉ bạc giữa rừng già. Núi cao đến mức sáng mở mắt ra đã thấy mây lững lờ trôi ngang mái nhà, chiều đến thì sương giăng kín lối đi, tiếng chim rừng vang lên nghe như vọng từ cõi khác.

Người bản Khe Ngàn sống bằng săn bắn, hái lượm và trồng lúa nương. Họ tin vào thần núi, thần suối, tin rằng mọi sự sống đều có linh hồn. Tù trưởng đời này sang đời khác giữ vai trò cầu nối giữa con người và thế giới vô hình ấy.

Ít ai biết rằng, trên đỉnh ngọn núi cao nhất — nơi mây tụ dày nhất và chưa từng có dấu chân người — tồn tại một sinh vật cổ xưa.

Đó là một con rắn khổng lồ, thân to bằng thân cây…, vảy xám bạc, đôi mắt vàng như lửa âm ỉ. Nó đã tu luyện hàng trăm năm, hấp thụ linh khí đất trời, uống sương đêm, nuốt ánh trăng. Qua năm tháng, nó hóa tinh, biết nói tiếng người, biết mưu tính và khát khao quyền lực của loài người.

Nó tự xưng là Thần Xà nhưng đúng ra chỉ nên gọi là Xà Tinh.

÷    ÷    ÷

   Một đêm trăng tròn, khi cả bản đang say ngủ, tù trưởng Ma Lương giật mình tỉnh dậy vì tiếng gọi vang lên trong đầu. Không phải âm thanh từ tai, mà là tiếng nói trầm đục vọng thẳng vào tâm trí.

“Ma Lương… Ngươi là người được chọn.”

Ông run rẩy bước ra khỏi nhà sàn. Trước mặt ông, trong màn sương trắng, hiện lên một cái bóng khổng lồ uốn lượn. Hai con mắt vàng rực nhìn thẳng vào ông.

“Ta là thần xà ngự trên đỉnh núi. Từ nay, mỗi ngày rằm, hãy dẫn toàn bộ dân bản lên khe suối trên đỉnh để hứng nước thần. Ai uống sẽ được ta che chở.”

Tù trưởng quỳ sụp xuống, trán đập vào đá lạnh. Ông không dám nghi ngờ. Với người bản Khe Ngàn, lời của “thần” là mệnh lệnh tuyệt đối.

Từ đó, mỗi ngày rằm, dân bản bỏ hết việc nương rẫy, nối hàng dài men theo con đường dốc đứng lên đỉnh núi. Ở đó có một khe suối nhỏ, nước trong vắt, lấp lánh dưới ánh trăng.

Họ tin đó là nước ban phúc.

Không ai biết rằng, mỗi đêm trước ngày rằm, Xà Tinh bò đến đầu nguồn, cúi đầu xuống dòng nước, nhả nước dãi độc đã được nó luyện hóa. Chất độc ấy không giết người ngay. Giết người làm chi, không có lợi! Tuyệt vời nhất là độc chất ngấm chậm, làm mờ lý trí, làm con người trở nên ngoan ngoãn, dễ điều khiển, mất dần ý chí phản kháng.

Uống một lần chưa thấy gì. Uống nhiều lần, con người quên mất cách nghi ngờ.

÷    ÷    ÷

   Chỉ sau một thời gian, bản Khe Ngàn đổi khác.

Người ta thôi tranh cãi, thôi đặt câu hỏi. Tù trưởng nói gì cũng gật đầu. Ai trái ý đều bị xem là xúc phạm thần linh. Ánh mắt mọi người trở nên đục, giọng nói đều đều như những cái bóng biết đi.

Chỉ có Tú Lang — một chàng trai trẻ, mồ côi cha mẹ từ nhỏ — là khác.

Tú Lang vốn hay lên rừng một mình, quen quan sát thiên nhiên. Chàng để ý rằng mỗi lần uống nước suối về, đầu óc mình nặng trĩu, tim đập chậm lại, những suy nghĩ sắc bén như bị bọc trong sương mù.

Tới ngày rằm... , Tú Lang không uống. Chàng nép vào một người đến trước, chỉ giả vờ đưa gáo lên môi, rồi lén đổ nước xuống kẽ đá.

Tối hôm đó, Tú Lang tỉnh táo lạ thường. Chàng nghe rõ tiếng côn trùng, nhìn rõ từng đốm sáng trong rừng đêm. Và lần đầu tiên, chàng nghi ngờ.

“Nếu là nước thần, sao lại khiến người ta mê muội?”

Tú Lang bắt đầu lén quan sát đầu nguồn. Một đêm gần đến ngày trăng tròn, chàng trèo lên vách đá gần khe suối. Dù trăng chưa tròn nhưng vẫn đủ sáng để chàng nhìn rõ mọi việc xảy ra , Tú Lang thấy một thân rắn khổng lồ trườn tới, cúi đầu xuống nguồn nước. Miệng nó há rộng, từ trong miệng nó tuôn ra một thứ nước dãi sền sệt đục ngờ ngờ… .

Mùi tanh tưởi bốc lên.

Tú Lang hiểu ra tất cả… .

÷    ÷    ÷

   Thuyết phục người mê muội còn khó hơn đánh nhau với quái vật.

Khi Tú Lang nói với dân bản rằng nước có độc, họ nhìn chàng như nhìn kẻ điên. Có người còn muốn trói chàng lại giao cho tù trưởng.

Tú Lang không bỏ cuộc. Chàng tìm những người mới uống ít, những đứa trẻ uống ít nước, những người già yếu hấp thu kém nên chưa bị ngấm độc sâu. Chàng bảo họ thử không uống một kỳ trăng tròn. 

Vài người làm theo.

Rồi họ tỉnh.

Tỉnh như người vừa thoát cơn mộng dài. Họ nhận ra sự thay đổi trong chính mình. Từ đó, nhóm người tỉnh táo dần lớn lên.

Tú Lang kể cho họ nghe về con Xà Tinh, về đầu nguồn, về nước dãi độc.

Nỗi sợ ban đầu dần biến thành cơn giận như thiêu đốt tâm cang.

“Chúng ta đã trao ý chí của mình cho một con quái vật.”

÷    ÷    ÷

   Đêm rằm kế tiếp, cả bản vẫn lên núi theo lệnh tù trưởng. Nhưng trong số đó, có những người không uống.

Khi trăng lên cao nhất, Xà Tinh xuất hiện. Nó quấn mình quanh những trụ đá lớn, cất tiếng nói vang dội.

“Uống đ…i…i…i…Rồi các ngươi sẽ được b..ì..n..h …a..n…. !”

Biết rằng hôm trước xà tinh đã nhả hết nước dãi ra, và do đó lúc này là lúc nó yếu đuối nhất. Lang bước ra khỏi đám đông. 

“Không. Chúng tôi không cần thứ bình an của ngươi.”

Thần Xà rít lên. Nó nhận ra độc chất đã mất tác dụng với nhiều người dân bản.

Họ — lần đầu tiên sau nhiều năm tháng — tự mình quyết định. Đã chuẩn bị sẵn, họ cầm giáo mác, cuốc xẻng, gậy gộc … .Những thứ tưởng như thô sơ ấy, khi hợp sức, lại trở thành sức mạnh ghê gớm.

Trận chiến diễn ra dữ dội. Xà Tinh mạnh, nhưng nó cô độc. Con người yếu hơn, nhưng họ có ý chí và số đông đoàn kết. 

Cuối cùng, khi trời hửng sáng, thân rắn khổng lồ đổ xuống khe sâu. Tiếng gầm rít tắt lịm, có còn chăng chỉ còn tiếng gió thổi qua khe núi và tiếng nước đổ hiền hòa từ trên cao… .

÷    ÷    ÷

   Người ta lấp đầu nguồn nước cũ, tìm khe suối mới. Nước lại trong, mát, không mùi tanh.

Tù trưởng cũ tự cho mình đã già xin từ chức về an nghỉ.  Dân bản không lập “thần” mới. Họ họp nhau, bàn bạc, tranh luận — những điều từng bị xem là cấm kỵ và nguy hiểm — tìm tù trưởng mới. Khỏi nói cũng biết người được dân bản mong muốn làm tù trưởng là ai .

Tú Lang lúc đầu nhiều lần nhất quyết không nhận làm người đứng đầu. Nhưng trước ý nguyện của dân bản, chàng không thể từ chối. Chàng nói:

“Quyền lực không nên nằm trong tay một người, càng không nên trao cho thứ ta không hiểu. Vì thế tôi chỉ đứng ra cùng một số người tập hợp ý nguyện của dân bản. Nếu như nhóm chúng tôi làm sai, tất cả mọi người có quyền phản đối, truất quyền tất cả chúng tôi. Nếu được như vậy thì tôi xin nhận trách nhiệm… “

Bản Khe Ngàn dần thay đổi. Không còn mê tín mù quáng, nhưng vẫn tôn trọng tuyệt đối việc gìn giữ núi rừng, khe suối… .

Trên đỉnh núi cao, mây vẫn trôi, rừng vẫn xanh lá… . Nhưng từ đó, dân bản  không còn ai cúi đầu trước bóng tối u mê nữa… ./.

HUỲNH VĂN HUÊ ( Cuối năm Ất Tỵ )