Thứ Năm, 30 tháng 4, 2026

Vui vẻ : ĐI NGHỈ MÁT - St trên FB.

 



ĐI NGHỈ MÁT 

- Hôm nay lễ, có đi nghỉ mát không?

- Có. Sài Gòn nóng quá! Chịu hết nổi.

- Đi Đà Lạt hay đâu?

- Không, Đà Lạt mùa này cũng nóng. Dân cư ngày càng đông đúc. Chạy xe từ Sài Gòn lên đó mất cả ngày.

-Vũng Tàu gần hơn, có biển.

- Hic, biển thì đông người, nắng rát da. Tắm xong đen như cột nhà cháy. Ăn uống ngày lễ Vũng Tàu cũng khó khăn, vô nhà hàng phải chờ đợi lâu.

- Vậy chỗ anh đang ở tốt hơn à? Không nóng, giá rẻ và đồ ăn ngon nữa hả?

- Chứ sao, phải biết lựa chỗ tốt. Mát mẻ, 25 độ. Chỗ ở tiện nghi, không ồn ào. Ăn uống cũng rẻ như ngày thường. Có đồ ăn sáng, cà phê miền phí. Các chương trình ngăm cảnh tự chọn. Phục vụ ca nhạc tại chỗ. Không tốn kém bao nhiêu.

- Chà nghe đã vậy? Giới thiệu giúp anh em cái đi.

- Trong phòng ngủ của tui chứ đâu.

ST TRÊN FB. 

Cười chút : TÌNH NGAY LÝ GIAN - St trên FB.

 



TÌNH NGAY LÝ GIAN.

Có ông nông dân nọ ngồi lù lù trong quán rượu, nốc tì tì từ sáng sớm.

​Một ông khách đi ngang qua thấy lạ quá mới hỏi:

— Này bác gì ơi! Trời đẹp thế này sao không đi làm mà ngồi đây nốc rượu cho say bét nhè ra thế?

​Ông nông dân ngước mắt lên, thở dài cái thượt:

— Đời mà bác... có những chuyện trên đời không tài nào giải thích nổi đâu...

​— Có gì mà nghiêm trọng thế? Kể nghe coi!

​— Thì đấy, sáng nay tôi ra chuồng vắt sữa bò. Vừa mới vắt xong đầy một xô thì con bò dở hơi ấy nó giơ chân trái lên đạp một phát, đổ sạch sành sanh.

​— Ôi giời, chuyện vặt, bò nó đạp tí có sao đâu!

​— Vâng, nhưng tôi đã bảo rồi, có những chuyện không thể giải thích nổi...

​— Thế rồi sao nữa?

​— Thì tôi lấy dây xích luôn cái chân trái nó vào cột cho chắc ăn. Xong đâu đấy tôi ngồi xuống vắt tiếp... Vừa vắt xong xô thứ hai, nó lại giơ cái chân phải lên sút một phát, xô sữa lại đi đời!

​— Thật luôn? Con bò này gấu nhỉ!

​— Thế mới nói... Có những chuyện đố ai mà giải thích nổi...

​— Thế bác xử nó thế nào?

​— Tôi lấy dây trói nốt cái chân phải nó vào cái cột bên kia. Thế là xong nhé, hết đường quậy. Tôi ngồi xuống vắt lần thứ ba... Mọi chuyện đang ngon lành cành đào... thì đùng một cái, con bò chết tiệt ấy nó quất cái đuôi một phát như roi điện, xô sữa lại đổ sạch lần nữa!

​— Thôi xong, gặp tôi là tôi cũng phát điên với nó đấy...

​— Chính thế! Tôi mới nói là có những chuyện không thể giải thích nổi mà bác...

​— Rồi bác làm gì nó?

​— Khổ nỗi lúc đấy hết sạch dây nhợ rồi... bí quá tôi mới tháo phắt cái thắt lưng đang mặc ra, để cột cái đuôi nó lên xà nhà.

Nhưng mà khổ thân tôi, vừa mới giơ hai tay lên cột cái đuôi xong... thì cái quần của tôi nó tụt bố nó xuống đất...

​— Thế rồi sao nữa bác?!

​— Thì... đúng lúc đấy bà vợ tôi đẩy cửa bước vào chuồng bò...

Đấy bác xem, đúng là trên đời có những chuyện... có giải thích bằng trời vợ tôi cũng không thèm tin! 🤣🤣🤣

​ST TRÊN FB. 

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

Vui cười : CƯỜI CHÚT... - St trên FB.

 



CƯỜI CHÚT... 

Một anh ngoài Bắc đi công tác ở Huế . Anh tìm đến một quán bún bò nổi tiếng ở chợ Đông Ba . Vừa ngồi xuống ghế , cô chủ quán nhanh nhảu.

Anh ăn lồn xồn hỉ ?

Có nghĩa là một bát thập cẩm 

Anh ta cứng họng ngồi xuống rồi hỏi lại .

Lồn xồn là sao ?

Là những cái ni , cái tê cô chỉ vào từng thau thức ăn .

OK vậy cho tôi một bát .

Thấy ngon , hôm sau anh lại đến , vốn tính hài hước anh gọi to .

Chủ quán ! cho anh một bát lồn xồn , rồi anh đứng cười tủm tỉm ngắm cô gái xinh đẹp .

Cô chủ quán ngước mắt nhìn lên hỏi .

Đụ thử hỉ ?

Anh phá lên cười .

Đụ thật chứ đụ thử đâu .

🤣🤣🤣🤣🤣🤣🤣🤣🤣🤣

ST TRÊN FB. 

Cuộc sống : TÌNH NGƯỜI - St trên mạng.

Một thiếu niên ở Chicago liên tục đột nhập vào trung tâm thể dục X-Sport Fitness Center và sử dụng thiết bị ở đó. Ban quản lý đã cảnh báo cậu ta rằng họ sẽ báo cảnh sát. Nhưng cậu ta vẫn tiếp tục tìm cách đột nhập vào. Cuối cùng, cảnh sát đã được gọi đến để giải quyết vụ việc. Cảnh sát Mario Valenti biết được rằng cậu bé 15 tuổi này trước đây từng là thành viên của trung tâm, nhưng mẹ cậu không còn đủ khả năng chi trả phí thành viên nữa. Và tất cả những gì cậu muốn làm chỉ là chơi bóng rổ ở đó. Nhưng thay vì buộc tội cậu bé về tội đột nhập, viên cảnh sát đã bỏ ra 150 đô la tiền túi của mình để mua cho cậu bé một thẻ thành viên có thời hạn khoảng 4 tháng. Khi chủ sở hữu trung tâm thể dục liên hệ với trụ sở chính của công ty về những gì đã xảy ra, các quan chức ở đó đã rất cảm động trước lòng tốt của viên cảnh sát, nên họ đã gia hạn thẻ thành viên cho cậu bé thêm hai năm nữa. Viên cảnh sát Valenti nói: “Cuối cùng, điều quan trọng không phải là lòng biết ơn. Hầu hết chúng tôi làm công việc này để giúp đỡ mọi người, chứ không phải để làm hại họ. Công việc này có thể mang tính tiêu cực. Phần lớn công việc là giải quyết những người tốt đang gặp phải một ngày tồi tệ, vì vậy bạn không thấy được mặt tốt nhất của mọi người… Tôi thà để cậu ấy chơi bóng rổ còn hơn là để cậu ấy lang thang ngoài đường và có thể gặp rắc rối.”

Thơ: ĐÔI BỜ - Quang Dũng.

 



ĐÔI BỜ

𝐐𝐮𝐚𝐧𝐠 𝐃ũ𝐧𝐠


Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai?

Sông xa từng lớp lớp mưa dài

Mắt kia em có sầu cô quạnh

Khi chớm heo về một sớm mai?


Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự

Bên này em có nhớ bên kia

Giăng giăng mưa bụi qua phòng tuyến

Quạnh vắng chiều sông lạnh bến tề


Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa

Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ

Thoáng hiện em về trong đáy cốc

Nói cười như chuyện một đêm mơ


Xa quá rồi em người mỗi ngả

Bên này đất nước nhớ thương nhau

Em đi áo mỏng buông hờn tủi

Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?


1948

Cuộc sống :HỌC MARKETING - St trên FB.

 


HỌC MARKETING. 

Xưa tui hỏi sư phụ, marketing ở nước nào giỏi nhất, ổng nói Mỹ. Starbucks có trồng cà phê đâu mà lượng tiêu thụ khủng. Apple cũng có nhà máy nào đâu, nhưng hễ ra ĐT mới là người ta xếp hàng. Rồi Coca, Pepsi, McDonald's, phim Hollywood....cũng hốt bạc. Cả trăm năm.

Ở châu Á, có 2 đệ tử của Mỹ trong lĩnh vực này là Hàn và Thái. Hàn thì dùng X còn Thái thì dùng Y (X dùng cái đẹp để tạo làn sóng yêu mến cực độ, còn Y dùng cái vui vẻ ma mị khiến người ta thấy thoải mái). X dùng trong hàng hoá công nghiệp hoặc dịch vụ giải trí (phim ảnh, ca hát...) còn Y thì dùng trong du lịch, ẩm thực. Thầy tui còn nói thêm, marketing là nghệ thuật, nên đầu tiên phải có sense (năng khiếu, trời cho), sau do người có nghề thực tế đào tạo thêm (tương tự thi thanh nhạc, phải có chất giọng đã, thi đậu vào nhạc viện, thầy cô ở đó sẽ giúp cho hát đúng kỹ thuật). Học marketing trong ĐH, ít ai ra trường làm tốt, do không xét năng khiếu đầu vào. Và người dạy không phải là người làm nghề xuất sắc. Ngành này, không phải cứ học là biết làm. Có tốt nghiệp ngành marketing ĐH Harvard thì cũng không có ý nghĩa gì cả. Nhưng ở Mỹ, có những trung tâm, những công ty đào tạo marketing theo hướng thực làm, họ chỉ tuyển người có năng khiếu.

Vì muốn coi họ làm marketing ra sao, tui sang Mỹ học 1 khoá ngắn hạn, do các sếp lĩnh vực mkt các tập đoàn hướng dẫn (chuẩn đầu vào để qua vòng loại thì chỉ cần IELTS 6.5, tui thì cứ 2-3 năm thi 1 lần để không quên kiến thức, tương tự là HSK 4 nếu bạn thích học 1 khoá ngắn hạn ở Trung Quốc). Cá tính tui chịu chơi chứ không phải giàu sụ, tích luỹ đủ tiền để cho 1 mục đích gì đó thì xài cho hết xong làm lại. Người Mỹ họ làm marketing tốt nên mình phải trả rất cao tiền chất xám của họ. Họ bắt tui gửi audition, thể hiện năng khiếu. Tui phải quay clip 2 phút, viết 1 đoạn nhỏ mong muốn học, gọi điện nói chuyện cỡ 15 phút, xét đầu vào coi có tư chất, có cá tính không thì mới có thư mời nhập học. Tui quay mình đang ngồi quán cà phê vỉa hè, rồi đi Hạ Long, đi Mỹ Sơn quay ghép vô, nội dung gì giờ quên mẹ. Chỉ nhớ là khùng khùng, coi cười muốn rụng răng.

Sang bển, vào lớp mới thấy người Hàn, người Thái, người Nhật, người Hoa, người Ả Rập....học nhiều. Lớp mỗi tui Việt Nam. Cứ 1 buổi trên lớp là 1 buổi lang thang ra siêu thị, để coi người nghèo họ mua gì; ra shopping mall coi người trung lưu mua gì; lên khu nhà giàu coi người siêu giàu xài tiền ra sao; đi khách sạn nhà hàng đông khách (tức năng lực marketing tốt) để ăn uống, quan sát. 3 tuần đó học từ sáng tới khuya, tui phải uống thêm 1 đống thuốc chức năng để khoẻ dẻo dai như viên chứa nhung hươu của Nhật, sâm Peru mới đủ sức chạy theo bọn nó. Ngoài học phí, học viên ai cũng xài tiền ác liệt, marketing còn gọi là "nghệ thuật đốt tiền". Người ngoan hiền vở sạch chữ đẹp, thụ động, kỹ tiền bạc, ít dám tiêu xài, ăn chắc mặc bền, cá tính mỏng thì HOÀN TOÀN KHÔNG làm được nghề này.


2. Một bữa, lớp đi 1 bãi biển (không nổi tiếng mấy) ở Mexico, viết bài hoặc làm clip giới thiệu mời khách tới (chính quyền địa phương đặt hàng công ty media của một thầy đứng lớp). Tụi tui ở đó 2 ngày 1 đêm, tự do tìm hiểu. Tui chọn viết chứ làm clip í ẹ quá, viết xong nộp thì 3 giám khảo đều chê. Họ nói người ta đọc mày viết xong sẽ lập tức đến xem vì tò mò. Nhưng sẽ thất vọng. Góc nhìn của mày là góc nhìn của người có mắt nghệ thuật, người dân thường không được thế, họ tới và không nhìn ra "những con sóng lấp lánh những đồng tiền vàng dưới ánh nắng" thì sẽ cho là nói xạo, là "lùa gà" ("gà" luôn sợ bị lừa, thấp thỏm cẩn trọng ghê lắm). Mày miêu tả không sai, nhưng mày là người xông xênh tiền nong, ưng là móc ra xài cho hết xong tính tiếp, khác đại đa số người trong xã hội. Mày viết cảnh đi bộ quanh thị trấn, tạt vào quán bar với những ly Tequila sóng sánh, những ly bia 12 độ viền bột ớt, những điều xì gà Cohiba lâng lâng đầu óc và ngắm đại dương, tao nghe cũng thèm. Mấy người dám bỏ cả mấy trăm đô 1 lần uống rượu và hút xì gà như mày (chỉ có làm cái thứ 3 miễn phí là ngắm đại dương, ăn hải sản vô cũng trả giá từng con cua con cá). Họ ngắm cảnh 1 hồi cũng chán, tự dưng sẽ tiếc tiền, sẽ cho rằng mày quảng cáo sai sự thật, đòi đền bù. Làm marketing phải làm sao đó để đại đa số người trong xã hội móc ví ra mua hàng vì thấy cần thiết phải mua, chứ không phải chỉ cho 1 nhóm người chịu chơi. Với nhóm luôn miệng nói người khác lùa gà, thực ra là nhóm dễ bị lùa nhất. Phù thuỷ marketing, tức marketer cao tay ấn thì gà hay  đại bàng gì cũng "bẫy", cũng "dụ" cũng "lùa" được hết, mà họ còn vui vẻ chui vô chuồng, cười nói vui vẻ, móc bóp móc ví không tiếc. Còn tiếp

*Các bé làm kinh tế tóm tắt sau khi đọc xong, để bắt đầu có tư duy cơ bản về marketing nhen. Ai chọn nghề thì đọc đi đọc lại vài lần. 

ST TRÊN FB. 

Hồi ức : TUI LÀM LUẬN VĂN... St trên FB.





TUI LÀM LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 

Luận văn tốt nghiệp ngành sinh lý động vật của tui hồi đó… trời đất ơi, nó giống như một cuộc phiêu lưu mà nhân vật chính là tui, vai phản diện là mấy con gà, mấy cục tuyến giáp của heo, và cái số phận long đong của một đứa sinh viên nghèo. Lúc đó tui chỉ mong sao cho mau mau tốt nghiệp, lượm cho lẹ cái “vũ khí” đại học để có đủ điều kiện mà tậu một cái cần câu cơm sang chảnh một chút chớ cứ để cái bụng đói nó đánh lô tô hoài thì chịu sao thấu!

Cái đề tài nghe oai dữ thần: “Bước đầu ứng dụng premix sinh học vào việc nâng cao sản lượng trứng gà”. Nghe như phim khoa học viễn tưởng, mà thiệt ra thì đơn giản lắm — cái “premix sinh học” đó không gì khác hơn là tuyến giáp heo xay thành bột, trộn vô cám, rồi cầu trời khấn Phật cho gà đẻ sung. Nhận đề tài này là chấp nhận đi bất cứ nơi đâu số phận cần. Và quẻ xăm ấy khiến tui lặn lội lên tận trại gà giống thịt Hồng Sanh ở Thuận An - Bình Dương, với hành trang bao gồm một bụng mộng mơ và hai con mắt lơ ngơ. Vừa đi vừa tự hỏi: “Ủa, học đại học chi mà giờ thành cô bé chăn gà phiên bản lỗi vậy trời?”

Muốn có nguyên liệu chế “linh đơn” thì phải vô lò mổ Vissan. Tui đứng nhìn người ta hành quyết mấy lão Trư mà cám cảnh phận mình… vừa thắt theo vừa tự hỏi: “Mai mốt tới phiên mình bị đời xẻ thịt không ta?”. Nhưng thôi — heo còn chịu được, mình chịu được. Tuyến giáp được trường đem về xay, sấy, chế thành cái thứ bột mà nghe tên sang trọng hết biết: premix sinh học. Tui trộn vô thức ăn, trộn kiểu như bà phù thủy tập sự nêm phép. Mỗi hạt cám là một câu cầu nguyện, mỗi quả trứng là một lời hồi đáp. Mà tiếc cái, ông Trời trả lời theo kiểu… “seen không rep”.

Tui với nhỏ bạn vác lều chỏng lên trại, đóng đô ròng rã ba tháng trời — y như hai nàng công chúa bị đày ra đảo hoang. Sáng đổ cám, trưa dọn phân, ngày ba lần lượm trứng, lượm luôn may rủi của đời. Phục vụ tận răng, chăm sóc tận cánh. Lũ vũ công hai cánh thì cứ đẻ đều, còn tui thì cứ đuối dần. Có bữa đứng giữa chuồng, tui tự hỏi: “Rốt cuộc ai nuôi ai vậy?” Tiếng gáy ban đêm là chuyện bình thường — chỉ có tui thức đêm đếm số liệu mới là bất thường.

Cơm trại thì miễn phí, nhưng nguyên liệu chính là… gà chết. Tui nhìn dĩa thịt mà lòng run như cầy sấy: “Ăn vô có chết theo nó không?”. Rồi tự trấn an: “Người ta ăn được thì mình ăn được. Chưa thấy ai ăn gà chết mà phải đi chôn tới lần thứ hai”. Vậy là ăn. Ăn ngon là đằng khác. Đói mà, cái bao tử nó át luôn cái nỗi sợ.

Tui tá túc nhà một anh công nhân có phong cách sống rất nhất quán: “Sáng sỉn, chiều sai, tối loay hoay, ngày mai nhậu tiếp”. Vợ chồng ảnh coi chuyện đấm đá như cơm bữa, báo hại hai đứa sinh viên phải nhảy vô làm trọng tài bất đắc dĩ. Có bữa tui lãnh nguyên một chưởng lạc hướng, mắt nổ hào quang như pháo giao thừa — thấy cả dải ngân hà giữa ban ngày ban mặt. Thiệt tình, tui chỉ muốn nghiên cứu sinh lý, chớ đâu có nhu cầu tu nghiệp môn bạo lực gia đình!

Nhưng cũng nhờ vậy mà thân với mấy anh chị công nhân. Trưa Chủ nhật, khi mấy sếp về thành phố dưỡng già, tụi tui làm chủ một cõi. Hái măng rừng luộc ăn với hột gà luộc chấm nước mắm— chu choa, nó ngon thấu trời xanh! Ngon kiểu “ngon vì đói”, chớ không phải ngon vì sang. Cái thị trấn đó buồn như một câu thơ bị bỏ quên. Hai đứa sinh viên nửa quê nửa tỉnh, đi đứng lóng ngóng như Tư Ếch lạc giữa Sài Gòn. Nhưng trong cái buồn đó, tụi tui vẫn nuôi một giấc mơ — mơ ngày đề tài thành công, đời mình xán lạn như đèn pha, dù lúc đó chẳng thấy được một ánh sáng nào ở cuối đường hầm.

Rồi cú “twist” của cuộc đời cũng tới. Số liệu nhảy ra, mà nhảy kiểu… phản chủ. Lũ vũ công hai cánh ăn “linh đơn” không những không đẻ nhiều hơn mà còn đẻ ít lại! Lý thuyết đứng bên này, thực tế đứng bên kia, còn tui đứng giữa như cây cầu khỉ sắp gãy. Tui nhớ lời đồn: hồi trước có anh sinh viên bên Nông Lâm vì cháy đề tài mà đi treo cổ. Nghe mà lạnh xương sống. Cái nghèo đang hực hực như lửa sau lưng, cái bằng tốt nghiệp là vòi cứu hỏa — không xịt ra nước là đời coi như xong phim.

Tui với nhỏ bạn nhìn nhau, thở dài cái “tặc”. Rồi thôi — tụi tui “phù phép”. Số liệu được trang điểm, kết quả được dỗ dành. Một lô ăn thức ăn thường, một lô ăn premix Bình Thắng, một lô ăn đồ “chế” của tui. Tất cả đẹp như mơ — đẹp tới mức chính tụi tui cũng suýt tin. Tặc lưỡi một cái, tui thà làm “tội đồ” với mấy con gà còn hơn làm “anh hùng” mà thất nghiệp — chỉ mưu cầu bảo vệ cái “sinh lộ” của mình.

Hồi đó tin học còn xa lạ lắm, tui đâu biết đánh máy. Phải mướn người ta gõ, rồi đem cho thầy sửa tới sửa lui muốn ná thở mới ra được bản hoàn chỉnh để “lên sóng”. Thầy cô dặn tụi tui là lúc bảo vệ cứ coi Hội đồng như “mấy củ khoai” cho bớt run. Nói thiệt, nhìn mấy vị học hàm học vị đầy mình mà tui đâu có làm được! Tui chỉ biết vặn mình sang chế độ “trơ” kiểu bất cần đời. Kiểu như: tui đã chạy máy hết cỡ rồi đó, mọi việc tùy thuộc vào cái “dao phay” của mấy ông bà coi chặt cỡ nào thì chặt! Cuối cùng, luận văn qua trạm trót lọt. Hú hồn chim én! Tui thở phào mà hồn vía còn mắc kẹt đâu đó giữa mấy chuồng gà. Miễn leo được lên bờ tốt nghiệp, chuyện gì tính sau!

Những năm sau, mỗi lần nhớ lại, lòng tui lấn cấn như ăn cá mắc xương. Không ai biết, không ai hay — nhưng lương tâm thì biết, mà nó nhớ dai hơn mấy con gà nhớ giờ ăn cám.

May sao, thời gian — ông thầy khó tính mà công bằng — đã dạy tui một bài học khác. Sau này tìm hiểu kỹ, tui mới thấy cái thí nghiệm “thiên tài” hồi đó thực ra là một cú dại dột có khoa học chống lưng. Tuyến giáp heo nhét vô cơ thể gà chẳng khác nào bắt chúng chạy marathon khi còn đang mang dép lào. Bị ép “tăng ga” vô tội vạ nên tàn nhanh hơn — đẻ sớm, vỏ mỏng, tuyến giáp tự thân đình công vì bị “đồ ngoại” lấn lướt. Cái gọi là “phép màu” đó thực ra là một cú đẩy không phanh.

Vậy nên, nghĩ lại, tui thấy mình sai mà… cũng hên. Hai cái sai — thực nghiệm sai và số liệu ma — hoá ra lại thành một cái đúng: tui có được cái bằng mà không phá hoại khoa học, chỉ phá hoại vài con gà xấu số. Cái sai đó chết yểu trong xấp giấy, không kịp lan ra ngoài đời làm hại ai. Còn mấy con gà tội nghiệp đã “hy sinh cho khoa học nửa mùa” — chắc tụi nó đang nhìn tui từ đâu đó, lắc đầu cười: “Con nhỏ này, học hành gì kỳ cục vậy con?”

Giờ đây, tui nhìn lại cái luận văn đó — nó nằm im lìm như một bí mật cũ. Vô dụng? Ừ, có thể. Nhưng nó dạy tui một điều mà không trường nào dạy được: có những con đường, đi lạc một lần mới biết đâu là đường về. Và đôi khi, chính cái sai trẻ người non dạ đó lại là bài học trung thực nhất trong cả một đời người.

Nếu có ai hỏi tui: “Có muốn làm lại không?”

Tui sẽ cười — cười kiểu miền Nam, nhẹ hều mà sâu hun hút:

“Thôi… cho tui chăn gà lại được rồi. Chớ đừng bắt tui chăn lương tâm nữa — con vật đó nó dai sức lắm, mà không có cái chuồng nào nhốt cho yên được đâu!”

Còn mấy anh chị, có hồi nào lỡ tay “múa gậy vườn hoang” rồi sau này nhìn lại mới thấy mình vừa bậy vừa hên không? Kể tui nghe chơi cho vui cửa vui nhà coi!

HONG KHUU (FB)

Thơ : CÂU CHUYỆN HỌC TRÒ - Phan Hòa.

 



CÂU CHUYỆN HỌC TRÒ


Có bao giờ em nhắc đến tháng Tư?

Nơi ký ức một thời hoa phượng đỏ

Tà áo trắng đi về ngang đầu ngõ

Nón bài thơ che hở nửa vầng trăng!


Em bây giờ còn nhớ tháng Tư chăng?

Quyển lưu bút có một trang lạ lắm

Chỉ mình em thích lật ra nhìn ngắm

Nét chữ “con trai”, nét chữ một người.


Có một lần em nhặt cánh phượng rơi

Nhờ anh ghép cho mình con bướm đỏ

Anh gật đầu ghé tai em nói nhỏ

Nhặt giùm anh cánh nữa... để thành đôi.


Chuyện ngày xưa, giờ cũng đã xa rồi

Quyển lưu bút bồi hồi nơi góc tủ

Tà áo trắng quên đường về chốn cũ

Đôi bướm hồng không thể kết tơ duyên!


Tháng Tư về... ký ức vẫn còn nguyên

Nhưng xa lắc nơi bến bờ dĩ vãng

Thuở học trò - câu chuyện tình lãng mạn

Có bao giờ em nhắc lại... không em...?


Phan Hoà

Đời sống : TIẾNG VIỆT THỜI NAY - GS Nguyễn Tuấn.

 


TIỂNG VIỆT THỜI NAY 


Hôm nay, tôi nhận được một email của một người Sài Gòn mở đầu bằng chữ “Kính gởi …” (thay vì ‘kính gửi’). Mát dạ ghê nơi! Và, làm tôi có cảm hứng thổ lộ vài tâm tình về tiếng Việt ngày nay. 

 Tôi là người lớn lên với Tiếng Việt thời trước 1975, tức là Tiếng Việt trong Tự Lực Văn Đoàn của những Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam, v.v. Đó cũng là tiếng Việt của các tiền bối như Hoàng Xuân Hãn, Phạm Quỳnh, và sau này là Mai Thảo và nhóm tạp chí Bách Khoa lừng danh một thời. Đó cũng chính là Tiếng Việt thời 1945 và sau này được gìn giữ ở trong Nam. 

Thời đó, chúng tôi nói và viết Tiếng Việt theo thứ tự tự nhiên. Chẳng hạn như chúng tôi được dạy là 'hôi thúi' (hay 'hôi thối') vì một vật thể khi bị chết đi, nó đi từ 'hôi' mới đến 'thúi.' Chúng tôi nói 'khai triển' (khai trương rồi mới phát triển). Các thầy dạy cho biết đó là cách nói của người Việt được coi là thuận với thiên nhiên. 

 Do đó, ngày xưa, Tiếng Việt chúng ta được cấu trúc theo công thức tự nhiên đó. Có thể tìm thấy những chữ thường ngày như: bảo đảm, đơn giản, thành hình, khai triển, ít nhiều, v.v. 

 Thế nhưng sau 1975, những chữ đó đột nhiên bị đảo lộn thành: đảm bảo, giản đơn, hình thành, triển khai, nhiều ít, v.v. Những chữ này có cùng nghĩa như những chữ trên, nhưng nó chỉ đảo ngược cách nói/viết.  

 Tại sao có sự đảo ngược này? 

 Câu trả lời đơn giản là do Tàu hoá. Thật vậy, rất nhiều chữ sau này được dùng theo cách dùng của người Tàu. Chẳng hạn như người Tàu hay nói ngược với chúng ta. Thay vì nói 'bảo đảm', họ nói 'đảm bảo'. Chúng ta nói 'khai triển', họ thì 'triển khai'. Vân vân. 

 Thật ra, những chữ như 'bảo đảm', 'khai triển', 'đơn giản', v.v. đều xuất phát từ chữ Hán. Nhưng các vị tiền bối chúng ta nói ngược với họ, có lẽ một phần là theo lẽ tự nhiên, và quan trọng hơn là không bị Tàu hoá.  

Tiếng Việt ngày nay rất ư là hỗn tạp và phức tạp. Hỗn tạp là thứ lai căng (như ‘tuổi teen’), và phức tạp là làm cho tối nghĩa (ví dụ như ‘một cá thể trâu’). Mới đây còn có 'topping' nữa chứ! Loại tiếng Việt này làm đau đầu những người thuộc thế hệ tôi, và làm nhói tim những ai còn quan tâm đến sự trong sáng của tiếng Việt.

Hôm qua, cô tiếp viên sau khi tính toán tiền ăn xong rồi nói:

"Dạ, phần của mình là 56 ngàn ạ"

Tôi muốn ghẹo cô ấy, nên giả bộ hỏi "'mình' là ai vậy con?" Cô ta bẽn lẽn nói "Dạ, con quen miệng ạ". Tôi lại chọc: người miền Nam không nói "ạ". 

Rồi còn những cách dùng sai nghĩa nữa, mà tiêu biểu là 'liên hệ' và 'liên lạc'. Chẳng hiểu từ đâu mà ngày nay ở trong nước ai cũng dùng chữ 'liên hệ' theo ý nghĩa contact của tiếng Anh. "Anh cần thêm bất cứ điều gì, cứ liên hệ qua số điện thoại ...". Đáng lí ra phải là 'liên lạc'.

 'Liên hệ' theo tôi hiểu là quan hệ huyết thống, máu mủ ruột thịt trong gia đình, tiếng Anh là 'relate'. Còn 'Liên lạc' có nghĩa là tiếp xúc giữa các cá nhân, tiếng Anh là 'contact'. Rõ ràng như vậy, mà chẳng hiểu sao đi đâu cũng thấy 'liên hệ'. Tôi nghi là cũng do Tàu hoá mà ra. 

Lại nói đến chữ 'khả năng' cũng bị đổi nghĩa. 'Khả năng' có nghĩa là năng lực để làm một việc gì (tiếng anh là capacity). Vậy mà ngày nay người ta dùng chữ 'khả năng' theo cái nghĩa 'có thể' (probable): 'Chiều nay trời có khả năng mưa'. Trời ơi! Sao không nói "Chiều nay trời có thể mưa"? Lại một cách Tàu hoá?

Khó ưa nhứt là chữ ‘Việt Kiều’. Tôi nghĩ giới báo chí không chịu tìm hiểu nghĩa nên dùng chữ không đúng. ‘Kiều’ có nghĩa là người ngoài đến sanh sống nơi mình cư trú. Do đó, chúng ta mới có Hoa Kiều, Pháp Kiều. Tôi là người Việt về thăm quê thì mắc mớ gì mà gọi tôi là ‘Việt Kiều’?! Đáng lí ra nên gọi là ‘Kiều Bào’. 

Chói tai nhứt là nghe cách đánh vần ngày nay. Lúc nào cũng Bờ Cờ Sờ ... nghe thiệt khó vô. Đó là cách phát âm đánh vần thời Bình dân Học vụ (thời 1930-1940) để giúp cho người mù chữ làm quen với chữ cái trong tiếng Việt, chớ đâu phải cách đánh vần chánh thức. Đâu có ai dùng nó để chỉ A Bê Xê (ABC) đâu. Các nhà ngôn ngữ học cũng đã nói cách đánh vần Bờ Cờ Sờ là sai. Vậy mà ngày nay trên đài truyền hình, đài phát thanh oang oang Bờ Cờ Sờ! 

 Có lần tôi thấy sốc khi nghe một đồng nghiệp Pháp nói với tôi rằng tiếng Pháp ở Paris ngày nay là loại hỗn tạp, còn tiếng Pháp ở Québec (Canada) mới là ‘chuẩn’. Chẳng biết nhận xét đó đúng hay sai, nhưng tôi có cảm giác nó hợp với tiếng Việt ngày nay: tiếng Việt ở hải ngoại mới chuẩn hơn tiếng Việt ở trong nước.

•GS Nguyễn Tuấn

Hồi ức : ÔNG THẦY VIỆT VĂN - Vũ Thế Thành.

 



ÔNG THẦY VIỆT VĂN…

Tôi hận ông thầy Việt văn lớp 11. Ổng chơi không đẹp khi bắt tụi tôi học thuộc lòng bài thơ “Kẻ Sĩ” của Nguyễn Công Trứ. Đó là bài hát nói gieo vần vô kỷ luật nhất mà tôi từng biết, chả vần chả điệu, lòng thòng, Hán nhiều hơn Nôm.

Đây này, trích thử vài câu nghe chơi:

“… Cầm chính đạo để tịch tà cự bí

Hồi cuồng lan nhi chướng bách xuyên…”

 Mà tôi theo ban toán, chứ có phải văn chương đâu, nội hiểu được ý nghĩa bài thơ đó cũng đáng nể rồi, giờ còn bắt học thuộc lòng nữa, coi sao được. Tôi tính “tố phé” ổng. Thế này, lớp 40 học sinh, mỗi tuần 4 giờ Việt văn, 2 lần lên lớp. Tôi có 75% thoát hiểm, lỡ dính thì coi như Trời hại. Nhưng ổng tỉnh bơ: “Tôi sẽ gọi từng người cho đến hết lớp”. Ổng còn thêm: “Ai không thuộc, tôi sẽ cho cơ hội lần sau, và lần sau nữa cho đến khi… có điểm”. Thế là rõ! Ổng quyết tâm… chơi tụi tôi đến cùng. 

Không còn chọn lựa nào khác, đành ôm hận, lảm nhảm đến méo mỏ cái bài thơ thổ tả đó cho đến khi thuộc lòng.

Cơ hội rửa hận đến khi ổng ra đề luận: “Bạn nghĩ gì về tình thầy trò ngày nay?”. Từ hồi biết mặt chữ, tôi chưa bao giờ “múa bút” sướng như thế. Nào là, thời xưa học một thầy, học để làm quan, và chỉ học nghề… văn. Thời nay, học đủ thứ, cần gì học nấy, học để hành nghề. Thời đại khoa học, ai học trước người đó là… «thầy», bởi vậy mới có chuyện đi học luyện thi, mới có thầy giáo “cua” học trò,… Đại loại bài luận văn là một “bản cáo trạng” về thầy. Tôi khoắng bút như một nghệ sĩ, cho đến khi gần hết giờ, chấm xuống hàng, kết luận: Nên xem thầy giáo như người anh coi bộ nhẹ nhàng hơn khi nhìn dưới khía cạnh đạo đức. Thiệt là hả giận! Tôi viết với tư thế “tử vì đạo”, ăn trứng vịt cũng được. Không thành danh thì cũng thành… ma.

Bài luận được 16 điểm. Hôm phát bài, ông thầy cười cười: “Tôi không đồng ý với em nhiều điểm, nhưng vẫn cho em số điểm cao nhất”. Thiệt chưng hửng! Tôi mơ hồ hình như ổng chơi trên... cơ mình, nhưng “cái tôi” khốn nạn đã đẩy tôi đi quá xa, khoác lác hả hê với bè bạn: Cái hận “Kẻ Sĩ” đã rửa xong.

Ổng còn nhiều chiêu kỳ quái khác. Tú Xương thì học trò đứa nào chẳng khoái. Lẽ ra phải chia sẻ chút đỉnh với đám học trò mới lớn bằng những câu thơ 

“Cao lâu thường ăn quỵt

thổ đĩ lại chơi lường”

 hay ít ra cũng thông cảm với bọn hoc trò đang chuẩn bị bước vào vòng ân oán của thi cử

“Đau quá đòn hằn, rát hơn lửa bỏng”

Hổ bút hổ nghiên, tủi lều tủi chõng…

… Thi là thế, học hành là thế, trò chuyện cùng ai?

Người một nơi, hồn phách một nơi, than thân với bóng!”

 Không! Ổng phang bài:

“Trên ghế bà Đầm ngoi đít vịt.

Dưới sân ông Cử ngửng đầu rồng”.

 Ổng giảng say sưa, bằng giọng bi ai, phẫn hận về thời Nho mạt, về danh lợi, về nhân phẩm, ổng truyền lửa cho đám học trò đang há hốc miệng ngồi nghe,  xả suốt 2 giờ đồng hồ. Hình như ổng đang dạy tụi tôi kiến thức để làm người, chứ không phải kiến thức để đi thi. Ổng đâu ngán cháy giáo án. Mà hồi đó làm gì có giáo án. Bài soạn của ông là xấp giấy A4 gấp đôi, chẳng bao giờ thấy ổng mở ra. Ổng chỉ mở… sổ điểm.

Đời cứ thế trôi đi… Những năm cuối thập niên 70, đầu 80, đời sống khó khăn thế nào khỏi cần kể. Tôi làm ở một trung tâm nghiên cứu ở Sàigòn. Ban ngày khoác áo blouse vào phòng lab cứ như là…viện sĩ. Tối về mượn xích lô của thằng bạn, cảo vài vòng kiếm thêm. Một buổi tối trời mưa, ế độ. Tôi táp vào quán nhậu ven đường (cái lều nhậu thì đúng hơn) gần Ngã Tư Bảy Hiền. 

Hồi đó khu này còn hoang vắng lắm. Quán cũng ế độ, chỉ có mình ông chủ đang trầm ngâm bên ly rượu. Tôi kêu một xị, ngồi trông ra đường, nghe tiếng mưa lằng nhằng trên mái nhà, rầu thúi ruột… Chợt nghe tiếng ngâm ê a của ông chủ quán từ phía sau. Lời ngâm nghe quen quen…, rồi tự nhiên tôi cũng cất tiếng ngâm theo:

“…Lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng tất

Hiêu hiêu nhiên điếu Vị, canh Sằn

Xe bồ luân dầu chưa gặp Thang,Văn.

Phù thế giáo một vài câu thanh nghị.

Cầm chính đạo để tịch tà cự bí.

Hồi cuông lan nhi chướng bách xuyên…”,

 và cứ thế cho đến hết bài “Kẻ Sĩ”.

Một khoảng im lặng. Tôi quay lại, không ai bảo ai, cả hai nâng ly mời nhau. Trong sự nghiệp cụng ly của tôi, chưa bao giờ tràn ngập những “tiếng nói không lời” như lần đó.

Chủ quán trạc ngoài 30, cao học Luật, công chức chế độ Sàigòn. Sau 75, đi cải tạo 4 năm, về mở “lều nhậu” tiêu sầu. Chúng tôi cà kê chuyện đời, chuyện người, chuyện số phận đẩy đưa… Rượu đến mềm môi. Bài thơ “Kẻ Sĩ” thưở còn đi học tưởng đã trôi vào quên lãng, bỗng thức dậy trong một đêm mưa, có người đồng điệu, ngân nga như tiếng chuông đeo đẳng đời người.

Đất nước thời mở cửa, kinh tế thị trường nửa khép nửa hở. Kiếm sống bằng năng lực thì ít, nhưng bằng quyền lực hay dựa hơi quyền lực thì nhiều. Luật lờ mờ, nhưng lệ rõ ràng. Làm ăn là phải biết điều, gọi văn vẻ là… thỏa hiệp. Thỏa hiệp đủ thứ, không thỏa hiệp không được. Giới hạn thỏa hiệp tới đâu, tùy thuộc vào nguyên tắc sống (tôi không dám dùng chữ “nguyên tắc đạo đức”) của mỗi người. Cái giới hạn này mong manh, tự mình hạ thấp giới hạn xuống, rồi tự biện minh với bao lời  hoa mỹ, đi ngược lại “xu hướng thời đại” là không thức thời. Dối người, dối mình, đạo đức giả hồi nào chẳng hay.

Kẻ Sĩ thời nay lộn ngược rồi: Thương, Công, Nông, Sĩ. Ai chẳng khoái tiền, khoái danh. Cám dỗ vô cùng! Đạo lập thân làm sao giữ lấy cương thường? Mỗi lần như thế, tiếng chuông đêm mưa ở cái “lều nhậu” lại vang lên, làm nhức nhối kẻ bị mang tiếng là… gàn dở, toát mồ hôi với cái lưới “đầu rồng đít vịt”.

Trong Kinh thánh có chuyện kể, đứa con út đòi cha chia gia tài, rồi tìm đến phương trời xa vui chơi thỏa thích. Người cha chiều nào cũng tựa cửa đứng trông con về. Rồi thằng con về thật. Nó đã phung phí hết tiền, bây giờ đói rách trở về nhà cha xin chén cơm thừa. Nhưng người cha mừng rỡ, đã mặc áo mới cho nó, làm tiệc linh đình mừng con mình trở về.

Văn hào Pháp, André Gide cũng có câu chuyện “Đứa con hoang đàng” tương tự, chỉ khác khúc cuối: Đang giữa tiệc mừng, thằng con lững thững bỏ về phòng, nhìn xa xa qua khung cửa sổ, nhớ đến cuộc chơi thâu đêm suốt sáng cùng chúng bạn. Nó đang mơ một chuyến đi khác. Trở về chỉ là chuyện bất đắc dĩ. Hồi đó, đọc đến đoạn này, tôi bật cười sảng khoái “Phải thế mới được!”

Thưa thầy Việt văn, thằng đệ (tử) giờ đây đầu bạc chân mỏi, ngày Nhà Giáo năm nay xin hầu thầy cho đến tận cùng bữa tiệc để khoanh tay nói lời tạ lỗi, trước khi phản xạ tung hô theo đám đông: “Biết ơn thầy cô”.


•Vũ Thế Thành

Hồi ức : VỀ LẠI CON ĐƯỜNG XƯA MÁU LỬA - Nguyễn Ngọc Luật.

 



(CÓ NHỮNG NGÀY KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

Người ta thường nói hãy quên đi quá khứ để sống an nhiên trong hiện tại. Xét chung chung thì ta thấy khá đúng, vì nếu một người cứ bị ám ảnh bởi quá khứ và luôn đắm chìm trong quá khứ thì người đó sẽ đánh mất cuộc sống hiện tại.

Thế nhưng một sự kiện trong quá khứ mà chính nó đã làm đảo lộn số phận của hàng triệu người, của cả một gia đình và quan trọng nhất là nó làm thay đổi số phận của chính mình thì dù bao nhiêu năm tháng đi qua nhưng cũng khó mà quên đi được!

Tôi muốn nhắc lại những ngày tháng Tư định mệnh, nó không phải là ngày 30/4/75 mà nó là những ngày 26,27,28,29,30/4/72. Những ngày đau thương đối với dân Quảng Trị, cũng là những ngày tạo nên một tên đường đi vào lịch sử: ĐẠI LỘ KINH HOÀNG của một: MÙA HÈ ĐỎ LỬA. 

Bài bút ký này tôi viết khá lâu và đã đăng lại nhiều lần, nhưng cứ mỗi lần tháng Tư, quá khứ đau thương lại ùa về và  tôi lại muốn đăng thêm lần nữa, như là hoài niệm về ký ức đau buồn của một thời tuổi trẻ, bài bút ký có tên) :


VỀ LẠI CON ĐƯỜNG XƯA MÁU LỬA. 


Sau năm 1975 theo cuộc thế nổi trôi, dòng đời phiêu bạt, bỏ quê hương để đi biền biệt, tôi lênh đênh trôi dạt về tận miền Đông Nam Bộ làm thân kẻ xa xứ. Dòng sông tuổi thơ, mảnh vườn có hoa cải vàng mùa xuân, có hương hoa sầu đông thoang thoảng trong đêm trường lạnh giá, có mái tranh nghèo ấp ủ những năm tháng hoa niên, có cánh đồng lúa xanh rờn lộng gió, có cánh diều tuổi thơ bay cao trên nền trời xanh ngắt…Tất cả chỉ còn là ký ức mù sương, tất cả chỉ còn là kỷ niệm nhạt nhòa trong tâm trí. Gần hết cuộc đời tôi sống tha hương giửa đất phương Nam hai mùa mưa nắng. Có những trưa hè oi ả nơi xứ người chợt nhớ da diết tiếng kẻo kẹt võng đưa, tiếng ru à ơi ngọt ngào của mẹ, tiếng chim rồng rộc ríu ra ríu rít trên đọt tre già nơi lũy tre sau vườn. Có những đêm đông bình yên, ấm cúng ở đất phương Nam mà nhớ những ngày đông tháng giá gió rít từng cơn, mưa rơi rã rít trên mái tranh nghèo một thời xa lắc…Những âm thanh, hình  ảnh của quá khứ hầu như đã chất đầy trong tiềm thức có dịp là bùng phát mãnh liệt khiến lòng tôi cảm thấy ray rứt không yên. Tôi tự nhủ với lòng phải về thôi, dòng sông quê, con đường làng rợp bóng tre xanh nơi chôn dấu biết bao nhiêu kỷ niệm một thời thơ ấu đang chờ đợi bước chân tôi về.

Mùa hè năm nay thầy trò trường Nguyễn Hoàng tổ chức họp mặt kỷ niệm sáu mươi năm thành lập trường, thế là bạn bè từ quê nhà liên tục réo gọi, tình quê thôi thúc. Lại thấy đường đời của mình cũng đã xế bóng, cơ hội về quê không nhiều nên mặc dù nợ áo cơm luôn đeo đẳng không rời, tôi vẫn sắp xếp một chuyến về. Tôi xem chuyến về này như là một chuyến hành hương về đất Tổ, thế nên từ phương Nam tôi quyết định xuống xe tại Huế và ghé nhà đứa con gái đang sinh sống tại đây mượn chiếc xe máy để về quê.

Đoạn đường Huế-Quảng Trị dài 60km là một con đường ghi nhiều kỷ niệm, ghi dấu thời thơ ấu của tôi, vui có, buồn có, êm đềm cũng có mà kinh hoàng cũng có,  nên có dịp đi lại con đường xưa một mình một ngựa trên chiếc xe máy tà tà ngắm cảnh vật hai bên đường khiến tôi thấy thú vị làm sao! Thời tiết quê nhà tháng sáu nắng nhạt nhưng hơi oi bức, gió chiều nhè nhẹ. Cho dù nhà cửa, phố xá hai bên đường so với ngày xưa đã khang trang hơn nhiều nhưng đã quen với cảnh phố xá tấp nập, xe cộ ngược xuôi chen nhau trên đường của những thành phố phương Nam nên tôi vẫn cảm thấy đường sá xe cộ có phần  thưa thớt, nhịp sống hình như chậm rãi và có phần uể oải, nét đặc thù của các tỉnh nhỏ  miền Trung.

Càng đi ra càng thấy cảnh vật hoang sơ hơn, nhà cửa thưa thớt, tuềnh toàng không dấu được cái nghèo khó đang ngự trị nơi đây. Qua khỏi địa phận tỉnh Thừa Thiên, qua khỏi những  khu nhà tương đối sầm uất, nhộn nhịp là đến vùng hoang hóa với những  cồn cát chạy dài, cây cối khô cằn, còi cọc, ngoại trừ những đám bạch đàn, dương liễu do người trồng và chăm sóc còn lại hầu hết là cây xương rồng, sim, móc và những cây cối mọc hoang dại. Người ta nói dân Quảng Trị thật thà chất phác, thật quá đúng! Thật thà đến nỗi không biết dấu cái nghèo cái khó của xứ sở mình mà đem trình nó ngay trên đường quốc lộ  cho bàn dân thiên hạ biết. Những khách phương xa có dịp đi ngang qua địa phận tỉnh Quảng Trị nhìn thấy cảnh vật hai bên đường chỉ thấy toàn là cát với cát chạy dài ngút mắt đều chép miệng than.

 - Đất đai cằn cổi như thế này không biết người dân Quảng Trị làm gì mà sinh sống!?

Hoặc chí ít họ cũng nghĩ rằng đất đai khô cằn sỏi đá như thế thì dân Quảng Trị nghèo là phải!

Tôi qua khỏi cầu Bến Đá thì trời đã về chiều, thời tiết có phần mát mẻ hơn, nắng chiều nhạt nhòa trùm lên cảnh vật, gió hiu hiu thổi, một miền quê yên ả, thanh bình khá tỉnh lặng. 

  Thế nhưng đi lại trên đoạn đường này những hồi ức xa xưa chợt về, lòng tôi bổng cảm thấy trào dâng một nỗi buồn, một nỗi lo sợ mơ hồ phủ kín tâm hồn. Chao ôi! Đoạn đường này bốn mươi năm về trước vào những ngày tháng Tư của “mùa hè đỏ lửa” tôi cũng như biết bao nhiêu người dân Quảng Trị đã vượt qua với nỗi kinh hoàng cùng cực. Vào những ngày mà bom đạn chiến tranh, chết chóc đã áp sát vào thị xã thì người dân Quảng Trị vội vàng rời bỏ nhà cửa thu dọn của nả để chạy vào Huế lánh nạn, chúng tôi đã chạy qua một quãng  đường ngắn trong lằn đạn pháo từ những làng mạc hai bên đường bắn ra xối xả. Người chết nằm la liệt, người bị thương rên la thảm thiết, người còn sống thì chạy thục mạng về phía Thừa Thiên, sự hoảng loạn, kinh hoàng cùng cực khiến ai cũng lo chạy tháo thân, mặc cho những tiếng kêu cứu của những người bị thương, mặc cho những đứa bé ngơ ngác kêu khóc bên xác mẹ. Sau này khi cuộc sống tạm thời ổn định trong trại tạm cư ở Đà Nẵng những hình ảnh kinh hoàng của con đường đầy máu lửa cứ ám ảnh mãi trong tâm trí. Tôi đã viết trong nhật ký:

“… Trên đường lánh nạn hình ảnh cảnh loạn ly làm tê tái lòng người, từng đoàn người, từng đoàn xe tấp nập di chuyển trên đường quốc lộ 1 đông nghịt dài mấy cây số. Nào người đi bộ, người bồng bế, gồng gánh và đủ thứ xe cộ chen chúc nhau. Xe hàng thì chất đầy của cải và người ta bu kín ngoài bàn đạp, ngồi trên mui, xe máy chở ba, bốn người, xe xích lô chất đầy người với rương hòm, giỏ xách, xe đạp chở hai, ba người ì à ì ạch tiến lên phía trước. Tất cả tạo thành một khối hổn loạn di động trên con đường nhựa nóng bỏng. Đàng sau về phía thị xã và vùng ven là những đụn khói đen cao ngất trời, những tiếng nổ ầm ầm của đại bác, những tràng liên thanh của súng máy nghe vang rền khiến cho lòng người thêm hoảng loạn. Đoàn người đông như kiến cỏ đó khi vào tới khỏi cầu Dài ngang địa phận xã Hải Trường (Đoạn đường dài mấy cây số sau này được đặt một cái tên nghe khủng khiếp: Đại Lộ Kinh Hoàng) thì chựng lại vì tiếng súng ở các xóm ven lộ bắn ra. Rồi thì cảnh náo loạn xảy ra, xe cộ tăng tốc phóng tối đa về phía trước, còn người thì ba chân bốn cẳng chạy bán sống bán chết, họ vất hết gồng gánh, bao bì để chạy. Cảnh tượng thật là hổn loạn, xe cộ chà lên người, người đạp lên người, mạnh ai nấy chạy về phía trước, ai chết nằm đó, ai bị thương kêu la cũng mặc, người ta lo cho mạng sống của mình và bỏ mặc họ cho số phận. Đoạn đường từ Quảng Trị vào Huế chỉ 60km mà chúng tôi đi suốt ngày mới tới, bằng mọi cách đu lên xe nào có thể đu được, xe hàng, xe nhà binh, xe tải…bất kỳ xe nào cũng lên đại, cuối cùng thì chúng tôi cũng vào đến Huế vào lúc 6giờ tối thành phố đã lên đèn…”

Một ngày sau đó thị xã Quảng trị chìm trong lửa đạn và những người dân còn lại vội vàng bồng bế nhau chạy vào Huế. Nhưng quốc lộ 1 đã bị khóa chặt, tại cầu Dài đến cầu Bến Đá bom đạn liên hồi nổ trên đường, người chết trên đường như rạ, một đoàn xe của bệnh viện Quảng Trị chở bệnh nhân lánh nạn đi ngang qua đã bị bắn cháy người trong xe dù người lành hay người bệnh cũng đều bị chết hết. Số người còn kẹt lại phía Quảng trị đã bỏ quốc lộ 1 chạy xuống đường làng theo ngả làng Thanh Hương để vào Thừa Thiên rồi vào Huế (tôi có một người chị chạy theo đường nay mấy ngày sau mới vào tới Huế, tả tơi, rách nát, kiệt sức phải vào nằm bệnh viện).

Nỗi ám ảnh về “Đại Lộ Kinh Hoàng” như một vết dao cắt sâu vào tim tôi, nó cứ hiển hiện trước mắt mỗi khi tôi nghĩ đến. Hình ảnh người chết, bị thương la liệt trên đường, đứa bé bơ vơ hoảng loạn bên xác người mẹ đã chết trên vũng máu cứ đeo đẳng tôi hoài. Những ngày tháng sống ở trại tạm cư Đà Nẵng tình cờ tôi có đọc được một bài thơ của tác giả Nguyễn Khắc Linh Vũ đăng trên báo Chiến Sỹ Cộng Hòa, bài thơ thật cảm động tôi đã chép vào nhật ký của mình. Bài thơ có tên:

 CHO EM BÉ MIỀN TRUNG

 Em bé miền Trung ơi!

 Chiều buông nắng tắt

 Em về đâu bom đạn ngập trời rơi.

 Em về đâu giữa những lớp xác người

 Bên những đống sắt mang tên từ phương trời xa lạ.

 Em bé miền Trung ơi!

 Gió lùa lên thật lạnh

 Em về đâu mà mà ánh mắt ngu ngơ

 Đạn dưới chân đi sao em mãi chần chờ

 Hay em thấy đằng kia chiếc cầu đã gãy?!

 Em bé miền Trung ơi!

 Em về đâu? Về đâu? Bốn bề rực cháy

 Cháy từ La Vang, Thạch Hãn, Nhan Biều

 Cháy trên Hồ Đắc Hanh, cháy về “Dãy phố buồn thiu”

 Sao em không khóc mà ngước nhìn ngơ ngác

 Em bé miền Trung ơi! 

 Nắng vàng kia đã tắt

 Bên xác mẹ nằm nhuộm máu cong queo

 Bên xác xe tăng mang tên từ phương trời xa lạ.

 Đêm hãi hùng…

 Trên đất chết…

 Em về đâu? Về đâu? Em bé miền Trung?!

          (Nguyễn Khắc Linh Vũ)

Tôi không quen  biết tác giả Nguyễn Khắc Linh Vũ, không biết anh có chứng kiến cảnh tượng thảm khốc trên “Đại Lộ Kinh Hoàng” ngày ấy không mà sao thơ anh như người trong cuộc, đau khổ, xót xa, tội nghiệp biết bao nhiêu cho thân phận những người dân vô tội, những em bé ngơ ngác bên xác mẹ nằm chết cong queo khi hoàng hôn buông xuống trên “Đại Lộ Kinh Hoàng”, một hình ảnh đau thương của cuộc chiến tranh tàn khốc trên quê hương. Cám ơn anh Nguyễn Khắc Linh Vũ đã chia sẻ nỗi khổ, niềm đau của người dân Quảng Trị thuở loạn ly, thơ anh tôi đã trân trọng cất giữ trong nhật ký đã bốn mươi năm nay đọc lại vẫn thấy cảm xúc dâng trào, xót xa, ngậm ngùi…

 Năm 1974 tại nơi đây đã tổ chức một lễ đại trai đàn chẩn tế, bạt độ cầu nguyện cho những oan hồn đã ngã xuống trên “Đại lộ Kinh Hoàng” và cũng đã dựng một đài tưởng niệm mang tên “Chiêu Linh đài” có tượng Bồ Tát Địa Tạng tay cầm hạt minh châu, tay cầm thiền trượng đứng cứu vớt những sinh linh vô tội thoát khỏi cảnh giới tối tăm, địa ngục, ngạ quỷ vất vơ vất vưởng để vãng sanh về miền tịnh cảnh. Không ai biết chắc hiệu quả của sự cầu nguyện như thế nào nhưng tôi nghĩ một lễ đại trai đàn hoành tráng được tổ chức với sự nhất tâm cầu nguyện của hàng ngàn người như thế, một đài tưởng niệm được dựng lên cũng phần nào làm ấm lòng những linh hồn vô tội đã ngã xuống trên đoạn đường này!

Tôi dừng xe lại bên đường trước “Chiêu Linh đài” không có một nén nhang để đốt lên tôi đành cúi đầu mặc niệm tưởng nhớ những đồng bào đã nằm xuống nơi đây. Bốn mươi năm về trước tôi và quý vị cùng đồng hành trên con đường này, cùng trải qua những giây phút kinh hoàng bom rơi, đạn lạc nhưng may mắn cho tôi đã thoát chết còn quý vị thì vĩnh viễn nằm lại nơi đây. Ngày xưa khi cùng quý vị vượt qua đoạn đường máu lửa này tôi chỉ là một cậu con trai mới lớn đang chuẩn bị thi Tú Tài, sau bốn mươi năm tôi trở lại nơi đây thì tôi đã là một người như chợ chiều xế bóng! Cảnh xưa như những thước phim quay chậm lại hiện về với cảnh tượng kinh hoàng có cả âm thanh gào rú của bom đạn, tiếng kêu la thất thanh của người bị trúng đạn và tôi tưởng chừng như có em bé lem luốc đứng nhìn ngơ ngác bên xác mẹ nằm trên vũng máu, nước mắt tôi lại ứa ra…

 Nắng chiều hoang hoải, những tia nắng cuối ngày nhuốm màu vàng vọt, không gian buồn ảm đạm. những cọng bông cỏ tranh trắng xóa phất phơ trong gió chiều, tiếng lá bạch đàn xào xạc, những cây xương rồng gai góc cắm trên những cồn cát chạy dài. Tất cả tạo nên một khung cảnh đìu hiu của vùng đất chết.

 Ngoài kia là quốc lộ 1 với những chuyến xe ngược xuôi vào Nam ra Bắc. Cuộc sống vẫn âm thầm tiếp nối, dòng đời vẫn âm thầm trôi chảy nhưng… nói như Héraclite“Không ai tắm hai lần trong cùng một dòng sông”./.

                 Nguyễn Ngọc Luật

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026

Nhạc : MƯA CHIỀU CƯ XÁ - Trần Thế Châu.

( Bài hát của bạn học thời sinh viên HVQGNN SÀI GÒN Tuy có nhờ A.I nhưng lời nhạc và giai điệu vẫn là chọn lựa của "tác giả"... )