Thứ Hai, 11 tháng 5, 2026

Truyện cực ngắn : CA TRỰC MÙA NƯỚC NỔI - Nguyễn Thyanh.




CA TRỰC MÙA NƯỚC NỔI. 

Sống chung với lũ" (thành ngữ miền tây Nam bộ)

Tháng chín năm 1980, nước lên. Ở Tháp Mười, nước lũ về không lên từ từ mà tràn qua bờ kênh như ai lén đổ cả thau nước ra. Chỉ sau một đêm, cái sân trạm xá đã ngập hơn mắt cá, ba gian nhà thành ba cái cù lao.

Bác sĩ An mới ra trường, về công tác được 3 năm, râu mọc lởm chởm vì cả tuần chưa cạo. Anh trực 24/24. Chị Mười là hộ sinh  kỳ cựu từ trước 75, tóc đã điểm bạc. Điện cúp từ hôm trước, máy nổ thì chạch cà ạch cà đụi vì vô nước. Toàn trạm xá chỉ còn bốn cây đèn dầu, một xuồng ba lá cột ở bậc thềm, và giàn loa phát toàn tiếng ếch nhái kêu như vỡ chợ.

Mười giờ đêm, mưa vẫn xối xả. Cửa sau có tiếng gõ mạn xuồng. Một người đàn ông ướt sũng, đội nón lá rách, hì hục đẩy xuồng vào tận hiên: "Bác sĩ ơi, vợ tui sắp đẻ, mà nước ngập tới nóc nhà, không đi đâu được!"

Trên xuồng là một cô gái chừng hai mươi, bụng to vượt mặt, nhăn nhó vì đau, bên cạnh, bà mẹ chồng ôm cái túi vải đựng mấy bộ đồ trẻ con. Nước trong xuồng lấp xấp.

Chị Mười nhìn An: "Đẻ trên xuồng không được đâu, kéo lên giường đi." 

Nhưng giường nào cũng lé đé nước. Cuối cùng, họ trải mấy tấm ván lên hai cái bàn khám, thành một cái "giường" cao khỏi nước.

An soi đèn dầu. Cô gái tên Lành, con của xã đội phó, mang thai con so, đã đau bụng từ chiều. Khám nhanh, cổ tử cung mở trọn, đầu lọt thấp, nhưng tim thai yếu, chỉ còn 90 lần/phút, nhịp không đều.

"Nước ối xấu rồi, phải kẹp ra liền," chị Mười nói nhỏ. Không có máy hút, không có forceps. An nhớ lại bài học ở Sài Gòn: "Khi không có gì, dùng tay mình."

Anh rửa tay bằng nước chín rồi cồn, xỏ găng. Chị Mười giữ đèn, ánh sáng vàng chao theo mưa tạt. Ngoài kia, nước dâng thêm, tràn vào tận mép ván.

An luồn tay, xoay nhẹ đầu bé. Mỗi lần rặn của Lành, nước dưới sàn lại sóng sánh. Mồ hôi An nhỏ xuống nhòe cả mắt. "Ráng đi... ráng một hơi nữa, em, một hơi nữa thôi!"

Đứa bé ra tím ngắt, không khóc. Dây rốn quấn hai vòng. Chị Mười cắt rốn, An dốc ngược bé, vỗ lưng, hút nhớt bằng miệng qua ống cao su - cách làm của những năm không có máy. Một giây, hai giây, ba giây dài như cả một mùa nước. Rồi một tiếng ọ ẹ bật ra, yếu nhưng rõ.

Bà mẹ chồng òa khóc, chắp tay vái lia lịa cái đèn dầu. Bà nghĩ ông bà đang đứng đó ngó, phò hộ cho cháu mình? Lành kiệt sức, nằm thở dốc, nước mắt trộn mồ hôi.

Chưa kịp mừng, máu từ mẹ trào ra xối xả. Băng huyết. Lại băng huyết. An rủa thầm trong bụng - mùa nước nổi năm nào cũng thiếu vitamin K, sản phụ ăn toàn cá linh, rau mác, không có gì cầm máu.

"Ép tử cung!" - vẫn câu nói cũ. An leo hẳn lên miếng ván, quỳ trên giường, dùng cả trọng lượng người ép xuống bụng Lành. Chị Mười chạy đi lấy ống ergotamine cuối cùng trong tủ - khỏi coi đát, kệ, có còn hơn không.

Mười phút ép liên tục, tay An run bần bật. Máu chậm lại, rồi cũng ngừng. Lành mở mắt, thều thào: "Con tui... còn sống hả bác sĩ?"

Mừng hết lớn.

An gật, không nói nổi. Anh đặt đứa bé da đỏ hỏn lên ngực mẹ. Ngoài hiên, mưa vẫn còn rơi trên mặt nước mênh mông.

Ai cũng nhễ nhại. Chị Mười lôi từ trong tủ ra nồi cơm nguội nấu từ trưa, còn đúng bốn chén, với một dĩa mắm kho quẹt và mấy con cá linh kho lạt - phần ăn trực.

Họ ngồi ngay trên giường, chân thả xuống nước, cùng nhau ăn dưới ánh đèn dầu. Cơm nguội, mắm mặn, cá linh mềm rục xương. Lành không ăn được, bà mẹ chồng vừa bế cháu vừa và cơm ăn ngon lành.

Người chồng, nãy giờ im lặng, bỗng nói: "Mùa nước năm nay lúa nhà tui mất trắng, nhưng trời cho đứa con gái. Tui đặt tên nó là con Thủy, bác sĩ coi được hông?"

An cười, lần đầu sau nhiều giờ căng thẳng: "Thủy là nước mà. Nước lên thì ngập, nhưng nước cũng mang cá về...Tên đó hay chớ."

Ăn xong, An ra hiên, múc một gáo nước lụt rửa tay. Nước đục ngầu phù sa. Anh nhìn ra đồng - mênh mông trắng xóa, chỉ thấy mấy ngọn tràm nhô lên xa xa. Trạm xá lúc này như một hòn đảo nhỏ chỉ chực chìm lỉm giữa biển cả mênh mông

Chị Mười đến ngồi cạnh An, đưa cho anh ly trà nóng rót từ bình thủy: "Mỗi mùa nước, mình lại đỡ thêm vài đứa. Tụi nó lớn lên cũng đâu nhớ mình là ai, nhưng mình sẽ nhớ hoài.."

An gật. Năm 1975 anh làm quen với ánh đèn dầu. Năm 1978 anh học ăn cơm độn rồi cũng quen. Năm 1980, giữa mùa nước nổi, anh học cách đỡ đẻ trên mấy miếng ván kê giữa một biển nước, trong ánh đèn chao nghiêng. Rồi cũng quen.

Đêm hôm đó, An ghi vào sổ trực, mực nhòe đi vì giấy ẩm: "12/9/1980. Sản phụ Nguyễn Thị Lành, 20t, sinh con so, ngạt, băng huyết. Mẹ tròn con vuông. Đặt tên bé Thủy."

Rồi anh viết vào cuốn nhật ký treo trên vách, viết cho riêng mình: Nước nổi không làm chết bà con Tháp Mười. Chỉ làm người ta gần nhau hơn. Đêm nay, ăn cơm nguội với cá linh trên mặt nước, mà ngon lạ lùng - có lẽ vì đó là bữa cơm của những người vừa cùng nhau giữ được một mầm sống, giữa mùa nước dâng.

NGUYỄN THYANH. (FB) 

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2026

Thời gian : VÉ SỐ HẾT HÀNG,... - Hong Khuu.

 




VÉ SỐ HẾT HÀNG, VÉ VỀ “NGÀY XƯA” AI BÁN?

Có những câu hỏi vừa bật ra khỏi môi là nghe cái “bụp” — trái tim rớt thẳng xuống đáy bao tử, nặng trịch như ai cột cục đá mài vô sợi gân cổ. Kỳ thiệt nghen, đời người lạ lùng, càng đau lại càng muốn nhớ — giống y như kẻ ghiền ớt, biết cắn vô là sặc sụa mà vẫn cứ ham chấm thêm miếng nữa cho nó đã cái nết phong trần.

“Bao giờ cho đến ngày xưa?”

Mới thốt lên thôi mà nguyên một bầu trời ký ức nó ụp xuống đầu. Mà cái mưa ký ức này ngộ lắm — mưa toàn tiếng dép sa-bô gõ “cộp cộp” trên nền gỗ, tiếng pháo đì đùng xé toạc màn đêm ba mươi, tiếng má khua nồi chén loảng xoảng dưới bếp hòa với tiếng ba ho khan ngoài hiên. Cái tiếng ho mỏng dính, liêu xiêu — mỏng hơn cả làn khói nhang đêm giao thừa. Hồi đó tui không biết rằng mình đang ký ức hóa từng tiếng động nhỏ đó, khắc từng tiếng từng tiếng vào tâm khảm mang theo suốt cả đời người còn lại.

Chị em tui hồi nhỏ giống như bầy chim sẻ đói nằm chen chúc trong cái ổ rơm rách nát. Cái ổ nghèo tới mức gió lùa qua vách nghe rõ mồn một hơn cả tiếng người — vậy mà đứa nào đứa nấy cũng nôn lớn, nôn mọc lông mọc cánh để bay. Bay khỏi mái nhà thấp lè tè. Bay khỏi những bữa cơm chan nước tương mà phải giả bộ húp sùm sụp như thể đó là mỹ vị trần gian, cho má bớt tủi lòng.

Hồi đó cứ tưởng ngoài đời là thiên đường.

Ai dè lớn lên mới thấu: đời rộng thiệt đó, mà lòng người lạnh hơn nước đá cây. Và cái thiên đường mình ham bay tới, thật ra chỉ là một căn phòng trống không mùi má, không tiếng ba.

Có những đêm đứng giữa phố thị đèn hoa, xe cộ chạy ào ào như nước lũ, tự nhiên sống mũi cay xè — không phải vì khói xe, mà vì nhớ. Nhớ cái quạt máy quay “cọt kẹt” như ông già hen suyễn. Nhớ cái nền gỗ ọp ẹp, mỗi lần bước qua là kêu “cót két” như đang than thở giùm cho phận người. Nhớ cái thứ ấm áp kỳ lạ mà chẳng có thể tìm được cho dù bất kỳ nơi đâu trên thế gian này. Nhà không có nổi cây quạt tốt — vậy mà người ôm người ngủ, nghe nó mát làm sao!.

Ông bà nói đâu có sai: “Con người có tổ có tông, như chim có tổ, như sông có nguồn.” Sông chảy vạn dặm cũng nhớ đầu nguồn. Người bay cao cỡ nào, tới hồi bị đời quăng quật te tua như cọng lục bình mùa nước nổi, mới hiểu — cái tổ rơm rách nát năm nào mới là thứ thuốc an thần ngon lành nhất thế gian. Không cần toa, không cần tiền. Chỉ cần bước vào là hết bệnh.

Tấm hình mùng Hai Tết Tân Dậu 1981.

Năm đó tui mười lăm tuổi — cái tuổi con gái bắt đầu biết soi gương lâu hơn soi bài tập. Cái tuổi mà mặc được bộ đồ mới là thấy đời mình sáng rực như đèn chớp hội chợ, hễ ai khen một câu là trong bụng nở như bắp rang. Sau bao năm Tết tản mác vì cái nghèo đeo đẳng không chịu buông tha, năm đó cả nhà mới được quây quần. Đủ mặt, đủ tiếng cười, đủ hơi người — mà hễ đủ người là Tết tự nhiên thành “Tết thiệt”, dù nhà chẳng có gì ngoài mấy đòn bánh tét và một tấm chiếu mới.

Nói tới bánh tét là tui phải kể.

Ba tui gói bánh kiểu “cha truyền con nối” mà hổng giống ai hết trơn — đòn bành ky bự chảng như khúc củi đình, nhân đậu xanh để sống nhăn răng. Tới hồi cắt ra, mỡ màng đậu đỗ đổ lộn tùng phèo như công trình thầu bỏ trốn. Hồi đó tui sợ bánh của ba, né còn hơn né người yêu cũ thiếu nợ. Nhìn sang bánh nhà hàng xóm mà thèm: nhỏ gọn, ráo hoảnh, đẹp như con gái nhà giàu đi lễ chùa đầu năm.

Vậy mà bây giờ, tui thèm cái đòn bánh “banh chành” đó tới đứt ruột.

Có những món ăn ngon đâu phải vì vị giác. Mà vì cái người ngồi tỉ mẩn gói cho mình ăn… giờ đã ngao du tận miền mây trắng xa xôi.

Hồi đó chụp hình gia đình là một sự nghiệp gian nan trần ai khoai củ. Phải kéo nhau ra tận tiệm Tân Việt Mỹ ngoài Thị Nghè — mà ba má tui thì ngán đi xa hơn ngán thiếu gạo, nên bác Ba Tặng thành “phó nhòm bất đắc dĩ” của thời cuộc.

Nhìn cái áo tui mặc trong hình mới ghê: hoa lá hẹ nở rộ từ vai xuống eo, màu mè như thể mùa Xuân uống nhầm rượu đế rồi té vào tấm vải. Vậy mà mặc vào là thấy mình đẹp cỡ minh tinh Hồng Kông chứ chẳng chơi! Con gái mà — hồi đó đâu cần đẹp thiệt, chỉ cần tin mình đẹp là đủ vui nguyên cái Tết. Suốt đời này tui chưa thấy ai mặc cái áo giống vậy. Chắc ông trời đặt may đúng một bộ rồi dẹp mẫu luôn — cái áo đó chỉ thuộc về con nhỏ mười lăm tuổi trong tấm hình đó, và mãi mãi là vậy.

Còn đôi sa-bô đầu tiên trong đời. Mang vào nghe “cộp cộp” mà lòng nở hoa dữ thần. Tối ngủ còn để ngay đầu giường, lâu lâu hé mắt ngó coi nó còn đó không — như thể sợ hạnh phúc cũng biết bỏ đi giữa đêm.

Căn nhà ngày xưa sàn gỗ mục loang lổ như bị thời gian gặm nhấm từng miếng. Cái gác thấp lè tè tới mức đưa tay lên là đụng cây đà ngang nghe “cốc” một cái muốn giác ngộ nhân sinh. Bên trái là bộ bàn gỗ gụ. Bên phải là cái divan trải chiếc chiếu cói mới tinh — món “vũ khí” trình làng mỗi dịp Xuân về của má.

Má tui kỳ lắm nghen. Nhà có thể nghèo, chớ Tết nhất định phải có cái gì mới: cái chiếu mới, bộ đồ mới, hay hũ dưa món mới muối. Như thể má muốn nói với mùa Xuân — và với cả năm đứa con đang nhìn — rằng: “Nhà mình nghèo thiệt, chớ chưa bao giờ đầu hàng.”

Tui hiểu điều đó mãi về sau. Hiểu rồi, ngồi nhớ lại mà mắt cay xè không biết tại sao.

Có ba má để thương, có anh chị em để cãi lộn rồi tối ngủ quên sạch. Có cái cảm giác “má còn dưới bếp, ba còn ngoài hiên” — thứ cảm giác mà sau này mất rồi mới biết nó quý hơn vàng mười. Mà lạ, hồi đó mình không biết đang hạnh phúc. Hạnh phúc nó thường vậy — chỉ lộ diện khi đã thành ký ức.

Nhớ nhất là cú ba “gài” thằng em út: “Ăn nửa trái mới cay, ăn nguyên trái ngọt ngay hà con!” Thằng nhỏ tin thiệt, nuốt nguyên trái ớt hiểm. Ba giây sau mặt nó đỏ như trái gấc chín, nước mắt nước mũi chảy ròng ròng, nhảy tưng tưng như bị điện giật — giữa tiếng cười giòn tan vỡ ra khắp nhà.

Cái tiếng cười đó. Tui vẫn nghe được. Vẫn còn nguyên trong tai. Mà người tạo ra nó thì không còn nữa.

Trong tấm hình, thằng anh lớn mặt sưng sỉa vì đang đỏ bài bị kêu về chụp hình, mắt nhìn ống kính như “viên đạn lên nòng.” Con em gái sún răng thì cười tươi nhứt nhà. Ngẫm lại, tấm hình đó ai cũng thiếu cái gì: người thiếu tiền, người thiếu vui, người thiếu răng… Chỉ có tình thương là dư dả. Chỉ có tình thương là không ai thiếu.

Ba má tui đi bên nhau gần 57 năm. Như cặp máy dầu cũ kỹ nổ “lụp bụp” mà bền tới phát sợ. Nuôi năm cái “tàu há mồm” thời bao cấp, thiếu trước hụt sau, vậy mà vẫn cắn răng cho con học tới nơi tới chốn.

Ba má chẳng để lại vàng bạc. Chỉ để lại con chữ. Chỉ để lại cái nết tử tế để tụi tui bước vào đời mà không cần cúi mặt với ai.

Mà thiệt tình, đó mới là thứ gia tài không bao giờ mất giá.

Giờ ba đã thành người thiên cổ.

Người ta nói:

“Còn cha còn mẹ thì hơn,

Không cha không mẹ như đờn đứt dây.”

Cây đàn của tui giờ một dây đã đứt rồi. Dây còn lại — tiếng nó ngân lên sao mà chông chênh, sao mà buồn thảm. Không phải không có âm thanh. Mà là âm thanh đó nó thiếu, nó lạc, nó cứ vang lên giữa khoảng trống mà không có gì đỡ lấy.

Đêm giao thừa, tui nhớ tiếng còi tàu Tân Cảng hú dài như tiếng nấc của thời gian rời bến. Nhớ dáng ba lụi cụi thắp nhang, khói nhang quấn lấy lưng ổng — như thể định mệnh đang ôm lấy một đời người lam lũ, không muốn buông.

Hồi đó tui cứ nghĩ dáng ba thắp nhang sẽ còn đó mãi. Ai mà biết được — có những điều mình thấy ngày nào cũng thấy, tới một ngày không thấy nữa mà không hề được báo trước.

Có những cuộc chia tay không có hồi chuông cảnh báo. Có những người mình tưởng sẽ gặp hoài — tới lúc họ đi rồi mới hiểu: trên đời có những cuộc tái ngộ mà không con đường nào dẫn tới được.

Tui thèm được làm con nhỏ 15 tuổi năm nào.

Mặc cái áo hoa lá hẹ quê mùa. Mang đôi sa-bô gõ “cộp cộp” khắp xóm. Ăn lại đòn bánh tét nát đội hình của ba. Nghe má càm ràm. Thấy anh em cãi chí chóe rồi ngủ khì bên nhau như bầy mèo con. Ngồi canh nồi bánh đêm ba mươi, mắt khói cay mà không chịu vào nhà vì sợ bỏ lỡ một giây nào đó của đêm đó.

Hồi đó nghèo thiệt.

Mà sao lòng người giàu quá.

Bây giờ đủ thứ hết…

Lại thiếu đúng những người mình muốn gặp nhứt.

Nếu đời có bán vé quay về — tui hổng cần trẻ lại, hổng cần giàu thêm. Tui chỉ xin được làm con của ba má thêm một lần nữa thôi.

Được gọi một tiếng “Ba ơi” mà còn có ba để gọi.

Chỉ vậy thôi.

Mà sao nghe xa dữ thần.

Ngày xưa ơi… nếu có rảnh, ghé tui chơi một bữa nghen. Tui vẫn ngồi đây, vẫn nhớ, vẫn chừa sẵn trong lòng một cái ghế — cho những người đã cũ, cho những ngày không bao giờ trở lại.

Còn bạn… có bao giờ giữa một đêm yên lặng, tự nhiên nghe nguyên một trời tuổi thơ ngồi khóc trong tim mình chưa?

HONG KHUU (FB) 

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2026

Cuộc sống : CHIẾC XE ĐẠP CŨ - St trên FB.

 


CHIẾC XE ĐẠP CŨ 

Hồi đó, tôi làm thợ sửa xe đạp ở một con hẻm nhỏ gần chợ huyện.

Tiệm của tôi chỉ là cái mái tôn thấp lè tè, trước treo cái bảng gỗ đề nguệch ngoạc: “Sửa xe – Vá ruột – Thay thắng”. Mưa xuống là nước tạt ướt hết nửa sạp. Nắng lên thì nóng như cái lò.

Tôi sống một mình.

Cho tới một buổi chiều, có một bà cụ dắt theo con bé chừng tám tuổi tới tiệm.

“Chú ơi, vá giùm bánh xe. Mai nó phải đi học.”

Con bé gầy nhom, mặc bộ đồng phục đã sờn cổ. Nó không nói gì, chỉ ôm cái cặp trước ngực.

Tôi vá xe xong, bà cụ lục túi hồi lâu, đếm từng đồng tiền lẻ. Thiếu hai ngàn.

Tôi lắc đầu:

“Thôi khỏi. Khi nào có thì trả.”

Bà cụ cảm ơn rối rít. Con bé ngẩng lên nhìn tôi lần đầu tiên.

Ánh mắt nó sáng mà buồn lạ.

Từ đó, chiều nào nó cũng ghé tiệm tôi ngồi làm bài tập. Bà nó bán rau ngoài chợ tới tối mới về, nên nó đợi ở đây cho khỏi lang thang.

Tôi không biết dạy toán, chỉ biết pha cho nó ly nước mát.

“Chú ơi, chữ này đọc sao?”

Nó chìa tập ra.

Tôi đánh vần chậm rãi. Nó cười, hai cái răng cửa sún.

Nó tên là Vy.

Có hôm trời mưa lớn, tiệm dột tứ tung. Tôi lấy cái thau hứng nước. Vy ngồi nép vô góc, vẫn cặm cụi viết.

Tôi hỏi:

“Sao con không nghỉ học cho đỡ cực?”

Nó lắc đầu.

“Con muốn làm cô giáo. Sau này dạy lại cho mấy bạn không có tiền học thêm.”

Tôi nghe mà mắc cười.

“Làm cô giáo giàu hông?”

Nó suy nghĩ một hồi:

“Không giàu tiền. Nhưng chắc giàu vui.”

Con nít nói chuyện kỳ ghê.

Rồi một hôm, Vy không tới nữa.

Ngày đầu tôi nghĩ chắc nó bệnh.

Ngày thứ hai, tôi chạy ra chợ hỏi.

Người ta nói bà nó té xe, nằm viện trên tỉnh. Không có tiền đóng viện phí, nên xin về. Bệnh nặng thêm.

Tôi lật đật chạy tới căn nhà trọ cuối xóm.

Vy ngồi trước cửa, mắt đỏ hoe.

“Chú…”

Chỉ kêu được một tiếng vậy rồi khóc.

Bà cụ mất sau đó hai ngày.

Căn phòng trọ nhỏ xíu, không còn ai thân thích. Họ hàng xa dưới quê nghèo quá, không lên được.

Tôi đứng nhìn con bé loay hoay gấp quần áo của bà bỏ vô cái bao ni lông. Nó làm rất cẩn thận, như sợ làm đau ai đó.

Tối hôm đó, tôi nói:

“Con qua ở tạm tiệm với chú. Để tính.”

Vy không khóc. Nó chỉ gật đầu.

Từ ngày có nó, tiệm sửa xe bớt lạnh.

Buổi sáng tôi chở nó đi học bằng chiếc xe đạp cũ. Buổi chiều nó ngồi học bài, rồi quét tiệm phụ tôi. Khách tới, nó lễ phép:

“Dạ chú đợi chút, ba con đang sửa.”

Tôi giật mình mỗi lần nghe chữ “ba”.

Tôi chưa từng có gia đình. Không vợ, không con. Vậy mà tự nhiên có đứa nhỏ gọi mình như vậy.

Năm Vy học lớp 9, nó học giỏi nhất trường.

Thầy hiệu trưởng tới tiệm, nói nó có cơ hội lên tỉnh học trường chuyên. Nhưng chi phí ăn ở cao.

Tối đó, tôi không ngủ.

Tôi mở cái hộp thiếc dưới gầm giường — tiền dành dụm bao năm. Tôi tính mua cái sạp lớn hơn, mở tiệm đàng hoàng.

Sáng hôm sau, tôi nói:

“Con đi đi.”

Vy sững người:

“Còn ba?”

Tôi cười.

“Ba ở đây sửa xe cả đời được. Nhưng con không thể ngồi đây vá ruột xe hoài.”

Nó khóc, lần đầu tiên kể từ ngày bà mất.

Ngày đưa nó lên tỉnh, tôi dặn:

“Có cực cũng đừng bỏ học.”

Nó ôm tôi rất chặt.

“Ba đừng bệnh.”

Tôi về lại con hẻm cũ. Tiệm vẫn vậy, mái tôn vẫn dột. Chỉ khác là buổi chiều không còn ai hỏi tôi đánh vần nữa.

Nhiều năm trôi qua.

Tôi già đi thấy rõ. Tay run hơn, mắt mờ hơn.

Vy vẫn gọi điện đều. Nó học đại học sư phạm. Rồi ra trường. Rồi được giữ lại trường dạy.

Ngày nó mời tôi lên dự lễ nhận bằng khen “Giáo viên trẻ xuất sắc”, tôi mặc cái áo sơ mi duy nhất, ủi phẳng phiu.

Ngồi dưới hội trường, nghe người ta xướng tên nó, tôi không dám vỗ tay mạnh. Sợ người ta nhìn thấy bàn tay chai sạn của mình.

Trên sân khấu, nó nói trong bài phát biểu:

“Em có được ngày hôm nay là nhờ một người ba không sinh ra em, nhưng nuôi em bằng tất cả những gì ông có.”

Cả hội trường quay xuống tìm tôi.

Tôi cúi đầu.

Có những đứa con không cùng máu mủ. Nhưng nó cho mình một mái nhà trong lòng.

Và tôi nghĩ, đời người, nếu mình sửa được một “chiếc xe” lạc đường… thì cũng đáng lắm rồi. 

Tối đó về lại tiệm, tôi mở cái hộp thiếc cũ. Bên trong chỉ còn vài tờ tiền lẻ và một tấm hình Vy hồi nhỏ, răng sún, cười toe.

"Vy, ba thương con !"  .

Tôi khóc như như chưa từng bao giờ được khóc.

SƯU TẦM.