Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2026

Vui chút : ĐI HỐT THUỐC - Lê Xuân Sang.

 


      ĐI HỐT THUỐC

Dì năm chuộng thuốc bắc. Hể người nhà có bịnh gì, kể cả dì mỗi lần có bịnh là dì chạy u ra  tiệm thuốc bắc của thầy A.Xỉn người Hoa ở đầu hẽm để hốt thuốc. 

Một hôm thằng Tí, con dì không biết ăn trúng cái gì mà đêm đó nó bị té re, chảy ngay ống điếu.

Sáng sớm nóng ruột, dì tức tốc chạy ngay ra đầu hẽm "cầu cứu"thầy Xỉn:

- thầy ơi, thầy làm ơn làm phước hốt cho thằng nhỏ nhà tui mấy thang thuốc, nó bị "bắn xái"nặng lắm từ hôm tới giờ. Ờ mà thầy hốt cho hay đó nha. Thầy mà "hốt" hay thì thầy muốn "ăn" bao nhiêu thì ăn .

Thầy A.Xỉn nghe xong tự nhiên....xỉu luôn!  Hehe 😃

LÊ XUÂN SANG.

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2026

Vui không cười : TESLA ĐÃ ĐẾN VIỆT NAM - Thanh Mai.

 



TESLA ĐÃ ĐẾN VIỆT NAM 

Xe tự lái Tesla đến ngã tư, con AI trên xe đờ đẫn suy nghĩ xem giờ đi thế nào…

Dữ liệu từ camera quanh xe liên tục cảnh báo va chạm, tiếng “ tít tít “ báo động kêu liên hồi, dây an toàn tự động cứ thít chặt rồi nhả, ròi thắt chặt, túi khí phập phùng chờ bung ra tựa như bầu ngực thiếu nữ GenZ buổi đầu đi date. Hệ thống các mô tơ phụ nóng ran, nhiệt độ chạm ngưỡng cảnh báo cháy nổ. Ảnh vệ tinh truyền về là cả một trời bế tắc, AI suy nghĩ, căng hết cả chip.

Cứ mỗi một giây trôi qua, AI nó vẽ ra một triệu phương án đi chuyển khác nhau, kèm theo đó là 10 triệu tình huống có thể có va chạm/ giây. 

“ Một bác đi xe lead trùm áo kín người đang lao đến, cảnh báo nguy hiểm”, AI nó kinh hãi so sánh vụ khủn.g bố tương tự bên Baghdad. Ấy nhưng không, chị bẻ tay lái điệu nghệ khi bánh xe chị chỉ cách thân xe Tesla có 17cm. 

“ Xe bus khổng lồ đang tới, cảnh báo thoát hiểm khẩn cấp”, AI nó phân tích về tình huống một chiếc xe bus hùng dũng lao lên, nhưng may quá, chiếc xe bus tài tình dừng ngay trước mũi xe Tesla 21cm. 

“ Một chiếc ba bánh chở bình ga và thanh sắt dài “ , cảnh báo nguy hiểm …

…

Sau 90 phút hồi hộp lo lắng, cuối cùng AI nó cũng tìm thấy một hướng có thể giúp xe di chuyển thêm 38 cm. Nó vừa định lệnh cho bánh xe tiến lên 38 cm, thì bỗng có một đối tượng tạt đầu băng qua, xe phanh dúi dụi để tránh va chạm. Dây an toàn xiết chặt căng cứng, túi khí GenZ lại phập phùng chờ bung xõa…

AI hoảng hồn, chip trên xe xử lý trong một phần triệu giây, vậy mà đối tượng tạt đầu kia vẫn chiếm chỗ nhanh hơn. Nó kinh hoàng nể phục bộ vi xử lý của người Kinh.

Hết cơn hoảng hồn, nó chuyển sang tức giận. Chip đang nóng thì chớ, nó bấm còi và bật, tắt gạt nước ngắn - dài theo tín hiệu mã Morse, truyền đi thông điệp:

- Đồng chí tham gia giao thông ngu quá. 

Nhưng thông điệp chưa kết thúc, thì người tạt đầu kia vén khẩu trang xuống và chửi:

- Đmm, mày biết bố mày là ai không?

…

Mic thu âm trên xe thu được dữ liệu. Con AI trên xe miên man phân tích câu chửi, nhưng câu này ngoài sự hiểu biết của nó. Nó gửi tín hiệu qua Starlink về cho AI máy chủ của Tập đoàn Tesla:

- “Mày biết bố mày là ai không?” Đây là câu hỏi hay câu khẳng định? Nếu là câu hỏi thì nó đang hỏi bố mình, hay nó hỏi nguồn gốc bố của nó? Nếu là câu khẳng định, thì nó đang khẳng định điều gì? 

Con AI của tập đoàn chạy hết công suất rà soát dữ liệu tìm câu trả lời. Hệ thống làm mát bằng nước biển quá tải, nước biển sôi lên ùng ục, cá tôm chết nổi trắng bờ biển bang Texas kéo dài đến vịnh Mexico. 

Một lúc sau, AI máy chủ nó đáp:

- Tao bất lực với câu nói này. Tốt nhất mày nên bảo Elon Musk rút quân đi.

Còn AI trên xe thở dài:

- Tao cũng mệt mỏi quá rồi, bộ vi xử lý của chúng ta thua xa cái đầu người Kinh. 


THANH MAI.

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2026

Đời sống : GÁC CU "THÚ NGU"... - Ngô Văn Tuấn.

 



GÁC CU “THÚ NGU" TAO NHà

 Dân gian ta có câu “Ở đời có bốn cái ngu: Làm mai, lảnh nợ, gác cu, cầm chầu”. “Nghề” gác cu được xếp vị trí thứ 3 tức “đệ tam ngu”. Mấy cái ngu như làm mai, lảnh nợ thì hệ qủa đã rõ ràng, còn như gác cu, dù là “tam ngu”nhưng xem ra cái ngu này đã khiến nhiều người mê mẩn , quên ăn, quên ngủ. Có người còn bảo đây là cái ngu tao nhã, ngu phong lưu, cái ngu mà rất ít người học được.

Nhà tôi ở làng Phước Bình Tân An, La Gi Bình Thuận.  Nhà vườn rộng, trồng tòan  mít với đào. Sáng nào thức dậy quét lá cũng nghe tiếng cu gáy rân vườn. Buổi trưa treo võng nằm hóng gió, lại cũng thẫn thờ với tiếng gáy chim cu. Nghe riết rồi quen, rồi ghiền, bữa nào thức dậy thấy vắng tiếng chim,nghe nó buồn buồn, quạnh hiu sao ấy.

Tôi đã vậy ,cạnh nhà lại có thêm chú em Ba Ánh bị nghiện nặng thú gác cu. Hai anh em hể bận thôi, rảnh là mang lồng , đem cu mồi đi nhữ. Dòng sông Dinh vào mùa hè chim chóc líu lo. Những rẫy mít, rừng bụi là nơi cu hò hẹn trao tình, tiếng gáy, tiếng gù cứ như có ma lực cuốn hút khó cưởng.

Lại nói về cu: Cu có nhiều loại, cu đất, cu cườm, cu ngói, cu xanh…Ở nông thôn Việt Nam ai mà chẳng từng nghe cu gáy. Tiếng chim cu cũng đã đi vào thơ ca rất dịu dàng , đằm thắm : “ Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao/ Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ/ Mà đôi lứa đứng bên vườn tình tự…”

Thế đấy cái tiếng gáy của loài cu nó rạo rực , tình tứ là vậy. Với người bình thường tiếng gáy chỉ là tiếng gáy thôi. Nhưng với những người trót dại theo thú gác cu, thì mỗi tiếng gáy đều có âm điệu khác nhau. Có con giọng kìm, có con giọng thổ, rồi thổ đòng , thổ sấm, rồi gáy một hậu, hai hậu, ba hậu, càng nhiều hậu càng thuộc loại quý hiếm khó tìm. Cu gáy để gọi tình, gáy để giao chiến tranh giành bạn “gái”, gáy để tranh giành lãnh thổ. Mỗi lần như vậy 2 con cu trống trấn thủ ở hai nhành cây khác nhau, rồi trổ tài thi thố. Tiếng gáy chúng khi khoan, khi nhặc, khi thôi thúc, khi giục gĩa, trong giới nhà nghề gọi là chiêu, thúc, gù , dặm. Lúc này  chị cu mái chỉ lặng im theo dõi đợi người chiến thắng. Cuộc chiến chỉ kết thúc trong hai trường hợp : Chịu không nỗi tiếng gáy của đối thủ đành chấp nhận thua cuộc bay đi, hoặc phải qua một cuộc tử chiến bằng cánh, bằng mỏ, bằng chân với những miếng đòn hiểm hóc . Những người mê cu được xem một trận quyết đấu của 2 chàng cu gáy là sướng đến tê người.

Để có được một anh cu mồi đích thực “dũng sĩ “có tiếng gáy vừa gợi tình vừa kiêu hãnh, người mê gác cu phải bỏ công sức tìm kiếm cho dù gía cả có cao đến bao nhiêu. Cu gáy “dũng sĩ” phải có tướng tá oai vệ, lông mượt xám, chân đỏ như son, bộ cườm đều đặn, đầu nhỏ, mỏ đinh, giọng gáy phải vừa hấp dẫn vừa kiêu hãnh, gáy không bị hụt, gáy một chập, một chập rồi lại một chập. Cu gáy màu xám nhạt có giọng thổ(trầm), cu  xám nâu giọng kìm (cao). Giống cu cườm là giống  cu gáy tốt nhất . Trong cuộc sống hoang dã những anh cu này luôn đóng vai trò đầu đàn, sẳn sàng nghênh chiến với bất cứ “kẻ thù” nào dám xâm nhập lãnh địa. Khi được bắt về thuần dưỡng làm cu mồi, dù ở trong lồng , cu gáy cũng phải giữ nguyên được bản chất, nếu buồn rầu, nhớ rừng, nhớ bạn mà bỏ gáy hoặc tiếng gáy bị hụt, mất hết thần khí thì trở thành cu dạt, chỉ còn tác dụng nhổ lông nấu cháo. Nuôi cu mồi cũng rất công phu, ngoài những điều kiện về tướng mạo, sắc lông giọng gáy, tiếng gù như đã nói. Người nuôi chim mồi phải chọn lồng thích hợp. Chim mồi thường được nuôi bằng lồng hình quả đào. Thân lồng nửa dưới to, trên nhỏ, diện tích chỉ vừa đủ để chim xoay. Nuôi lồng nầy chim chóng thuần và rất tiện lợi khi mang chim đi. Chim mồi không ưa lồng rộng, bởi khi chúng giật mình nhảy hay bị toát đầu. Thức ăn cho chim cu thì cha ông ta đã đúc kết “ Chim cu ăn đậu, ăn mè. Bồ câu ăn lúa, Chích chòe ăn khoai.”.  Riêng chim cu non phải lấy gạo ngâm, rồi cho vào túi, túi có khoét lổ để chim non rúc ăn, vì loài cu non không há miệng đòi ăn như những loài chim khác.  

Đi gác cu đúng là “đệ tam ngu”, nhưng là thú ngu tao nhã, ngu phong lưu. Ai đã trót nghiện thì khó lòng dứt bỏ, ngay cả trong giấc ngủ cũng nằm mơ nghe tiếng gáy chim cu. Đi gác cu cao lắm chỉ hai người, đông thêm sinh ồn ào hỏng việc. “Đồ nghề” rất đơn giản, chỉ cây sào để móc đưa lồng cu mồi lên nhành cây đúng vị trí . Lồng cu hay còn gọi là lụp được đan bằng thép cứng rất công phu, phía sau lồng được che kín, chung quanh ngụy trang bằng cành lá .Phía trước “cung điện” của anh cu mồi là phần bẫy để sập những anh cu hiếu chiến xông vào trận địa.

Sau khi phát hiện nơi có nhiều chim cu . Người gác cu chọn vị trí để treo lồng, lồng treo phải đúng thế, đúng những cành cây có chim cu hay đậu. Khi trận địa đã bày xong, người gác cu tìm chỗ kín đáo ẩn mình chờ đợi. Đây là thời gian hồi hộp nhất, mọi cử động phải hết sức nhẹ nhàng, thời điểm quyết định dù có bị kiến cắn, muỗi đốt cũng phải bấm bụng chịu đựng, chỉ cần tiếng động nhẹ, cu phát hiện được sẽ bay đi ngay. Trên chiếc lồng treo cao, con cu mồi thiện chiến  láo liên một lúc rồi cất tiếng gáy xung trận, lúc đầu còn chầm chậm, sau giục gĩa liên hồi. Tử những vòm cây xa xa, cu đầu đàn phát hiện “lảnh thổ” của mình có kẻ xâm lượt, hắn gầm gừ, rồi gáy vang đáp trả. Cuộc đọ khẩu cứ như vậy kéo dài cho đến khi chủ nhà tức khí phải quyết một phen sinh tử. Từ cành cây đối diện hắn bay thẳng vào trận địa, vậy là hết, cái thanh cài đánh bật, chiếc bẫy sụp xuống, cuộc đời oanh liệt hắn khép lại từ đây.

Thường thì những con cu bị bại trận, không phải con nào cũng bị đem ra mổ thịt làm mồi ngay. Chúng được chủ nhân xem xét lại rất kỷ, những con có tiếng gáy tốt, thiện chiến được tuyển làm cu mồi, chỉ có cu dạt mới bị đem ra chế biến. Kể thì hấp dẫn, nhưng để bẫy được con cu không phải dễ chút nào, cu là loài rất nhạy, rất tinh khôn. Có khi đi gác cả tuần lễ , mười ngày vẫn không có con nào. Có phải vì thế mà người xưa mới nói, “nghề” giữ cu thuộc loại “đệ tam ngu” chăng ?!

Thịt cu thuộc nhóm đặc sản qúy hiếm, một con cu ướp muối ớt nướng bán cho dân nhậu gía đến năm mươi nghìn đồng. Gía cao, được nhiều người ưa chuộng, nên thay vì đi gác cu để tìm thú vui tao nhã, người ta dùng lưới để bẫy  hàng loạt về bán cho thực khách. Với đà săn bắt như thế này, không biết rồi đây nông thôn Việt Nam có còn chim cu để ai đó được một lần “ngu” mà tìm thú vui tao nhã này !                                    

 NGÔ VĂN TUẤN

Nước Việt : CHUYỆN XƯA MÀ KHÔNG CŨ - Lê Nguyễn.

 

( Tượng ở Ba Tri - Bến Tre )

CHUYỆN XƯA MÀ KHÔNG CŨ


    Những ngày qua, trên các phương tiện truyền thông, chuyện trọng dụng nhân tài đang trở thành một trong những chính sách quan trọng của nhà nước đương nhiệm.

    Trên tinh thần “ôn cố tri tân”, xin nhắc lại bài viết về đề tài này, đóng góp chút hiểu biết về cách sử dụng người tài của tiền nhân, biết đâu lại chẳng có đôi chút ích lợi cho người đời nay!


CÁCH TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI CỦA NGƯỜI XƯA 

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, câu nói đó của Thân Nhân Trung đã trở thành bất tử. Cũng trên tấm bia tiến sĩ đầu tiên được khắc năm 1442, vị Thượng thư họ Thân, triều Lê, đã viết: “nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”. Trong xã hội ta ngày nay, khi cuộc sống của không ít người có thực tài còn gặp nhiều trắc trở, thì việc nhắc lại tinh thần đãi ngộ, trọng dụng nhân tài của người xưa cũng là một cách “ôn cố tri tân” vậy.


       Lịch sử triều Lý Anh tông (1138-1175) có ghi lại một câu chuyện thật đáng nhớ về nhân vật Tô Hiến Thành. Ông là một đại công thần, từng đánh Đông dẹp Bắc, được phong chức Nhập nội kiểm hiệu Thái phó, Bình chương quân quốc trọng sự, nhận tước vương của vua ban cho. Những ngày cuối đời, ông lâm bệnh nặng, quan Tham tri chính sự là Vũ Tán Đường ngày đêm chăm sóc ông với tất cả lòng tận tụy, còn quan Gián nghị Đại phu Trần Trung Tá vì quá bận việc công nên không đến thăm ông được. 

      Nhìn thấy tình hình sức khỏe của ông không có cơ may hồi phục, bà Thái hậu đã đến bên giường ông, xin ông đề cử người thay thế. Khi nghe ông đề cử Trần Trung Tá, bà Thái hậu tròn xoe mắt, gặng hỏi:” Tán Đường ngày nào cũng hầu thuốc thang, ông lại không nói đến, thế là tại sao?”; và ông đã khảng khái trả lời: ”Vì Bệ hạ hỏi người nào đáng thay tôi, nên tôi nói là Trung Tá, nếu như bệ hạ hỏi người nào hầu việc ăn uống thì không phải Tán Đường còn ai?...”.   

     Câu chuyện đó đã trở thành bài học sâu sắc về cách sử dụng nhân tài của người xưa. Người nắm chính sự phải biết phân biệt giữa tình cảm cá nhân, kể cả lòng biết ơn, với trách nhiệm đề bạt, lựa chọn người thật sự có tài, xứng đáng được giao phó trọng trách điều hành việc nước. 

      Nói đến cách tuyển chọn và trọng dụng người tài, dù là cách nay hàng ngàn năm hay trong thời đại khám phá vũ trụ bây giờ, khoa cử vẫn là phương cách đắc dụng nhất. Khoa thi đầu tiên ra đời tại nước ta vào năm 1075, dưới triều vua Lý Nhân Tông. Đó là kỳ thi Nho học tam trường và người đỗ đầu là Lê Văn Thịnh, sau làm đến chức Thái sư. Từ đó, các điều kiện khoa cử ngày một hoàn thiện, tiến đến việc tổ chức ba khoa thi tiếp liền nhau là thi Hương để lấy Cử nhân và Tú tài, thi Hội để lấy Tiến sĩ (và Phó bàng vào thời nhà Nguyễn), và thi Đình để xếp hạng tiến sĩ . Đình thí là kỳ thi ở bậc cao nhất, dành cho những người đỗ tiến sĩ trong kỳ thi Hội, được tổ chức tại sân cung điện nhà vua, nên còn gọi là Điện thí. 

      Thời Lê-Trịnh, đầu buổi thi có sự hiện diện của cả vua Lê, chúa Trịnh. Đề bài do nhà vua đích thân ra, thí sinh làm bài với giấy do triều đình cung cấp, có lính mài mực hầu. Giám khảo chấm bài thi là những quan đại thần học cao hiểu rộng trong triều. Sau nghi thức xướng danh tiến sĩ tổ chức tại sân rồng, cũng với sự chứng kiến của vua và chúa, các tân khoa được ban mũ, áo, đai dành cho bậc tiến sĩ và được dự yến vua ban ở công đường bộ Lễ. 

     Tuy vậy, việc sử dụng người tài thời xưa không máy móc dựa vào kết quả khoa cử. Các Trạng nguyên, Bảng nhãn khi ra làm quan không được giao ngay cương vị nhất, nhị phẩm triều đình như nhiều tác giả các kịch bản, tuồng hát vẫn phóng đại. Đời vua Lê Thánh Tông, năm 1472, triều đình định lệ tuyển bổ các tiến sĩ, theo đó trạng nguyên được bổ hàm chánh lục phẩm, bảng nhãn hàm tòng lục phẩm, thám hoa hàm chánh thất phẩm, đệ nhị giáp hàm tòng thất phẩm, và đệ tam giáp hàm chánh bát phẩm. Điều đó chứng tỏ rằng dù được trọng thị trong xã hội, người đỗ đạt trong khoa cử vẫn phải có một thời gian nhất định trong hoạn trường để chứng tỏ tài năng và phẩm hạnh của mình rồi mới thăng bổ vào các địa vị cao. 

     Xã hội xưa cũng nhận thức rõ rằng khoa cử dù hết sức cần thiết, cũng không phải là con đường tiến thân duy nhất của nhân tài xứ sở. Từ rất sớm, tiền nhân đã biết trọng dụng người tài qua phương thức tiến cử. Ngay trong thời kỳ đầu tiên của triều đại nhà Lê, vào tháng 10 âm lịch năm 1429, vua Lê Thái Tổ (1428-1433) đã ban lời chiếu định rằng các đại thần văn võ từ tam phẩm trở lên, mỗi người đều tiến cử một người, hoặc ở trong triều, hoặc ở thôn quê, hoặc đã làm quan, hoặc chưa làm quan. Nhà vua cũng định rõ cách thưởng phạt đối với với kẻ tiến cử người tài: nếu cử được người có tài bực trung thì thăng tước hai bậc, nếu cử được người tài đức đều giỏi, hơn hết mọi người thì được thưởng hậu. Câu cuối cùng của lời chiếu “Còn như kẻ sĩ hàn vi ở chốn hương thôn, cũng chớ lấy ngọc bán rao làm xấu hổ mà để trẫm phải than về thiếu người tài”, nói lên thành tâm của bậc quân vương đối với kẻ sĩ, dù nghèo hèn cũng không nên vì thế mà để đất nước mất đi một người tài. 

      Đời vua Lê Huyền tông (1663-1671), nhà vua định việc tiến cử rõ ràng hơn: quan nhị phẩm được cử 4 người; từ tam đến ngũ phẩm được cử 3 người; từ lục đến bát phẩm được cử 2 người; “Cử được người xứng đáng thì được khen thưởng. Nếu thấy người được bảo cử phụ lòng người cử, làm càn những việc tham lam đen tối thì cho nói trước ra, khỏi phải tội lây; nếu giấu giếm không nói cũng phải tội như người ấy” (Phan Huy Chú – Lịch triều hiến chương loại chí – Tập I-Quan chức chí – NXB Khoa học Xã hội – Hà Nội 1992, trang 581).

      Cuối đời nhà Lê, năm 1786, Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ mang quân ra Bắc “phù Lê diệt Trịnh”, khi tình hình đã tạm ổn, ông nghĩ ngay đến một danh sĩ nức tiếng đương thời là La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp. Trong hai năm 1786-1787, Nguyễn Huệ gửi liên tiếp ba thư mời phu tử ra giúp. Thư nào nhận được, phu tử cũng tìm cách thoái thác, lời lẽ trang nhã, tương kính, song rành mạch, dứt khoát. 

      Là một tướng quân đầy mưu trí, dũng cảm, hàng vạn người quy phục dưới tay, lại bị một kẻ sĩ cự tuyệt lời mời, Nguyễn Huệ không lấy thế làm giận, khi đã là Bắc Bình vương, rồi Quang Trung hoàng đế, ông vẫn trì chí gửi thư, gửi chiếu mời La Sơn phu tử tới hội kiến hay góp ý về việc nước. Cuối cùng phu tử cũng xiêu lòng, một vài lần đến gặp ông hay trả lời thư hỏi kế sách của ông.  

    Trong lúc ở Bắc hà, Nguyễn Huệ tỏ lòng trân trọng Nguyễn Thiếp, thì trong Nam, sau khi lấy lại đất Gia Định, chúa Nguyễn Ánh đã vời xử sĩ Võ Trường Toản đến hội kiến và mời ra làm quan. Theo nội dung bi văn do cụ Phan Thanh Giản soạn khắc trên mộ bia Võ Trường Toản thì cụ Võ đã từ chối lời mời ra làm quan. Việc đó không làm phật lòng Nguyễn Ánh, năm 1792, cụ Võ qui tiên, được tin, chúa Nguyễn đã tỏ lòng tiếc thương và ân tứ hiệu “Gia Định Sùng Đức Võ tiên sinh” . 

     Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh là hai kẻ thù không đội trời chung, song tấm lòng trân trọng người tài của họ như chỉ có một. Dưới triều Nguyễn, việc tiến cử người tài được tiếp tục khuyến khích, tưởng thưởng, song phép vua sẵn sàng chế tài nếu như quan lại triều đình làm sai, cử người thiếu tài, thiếu đức vào bộ máy công quyền. 

      Năm 1831, triều Minh Mạng, chính Nguyễn Công Trứ, Tham tri Hình bộ, đã rơi vào trường hợp này. Sử chép rằng, trước đó ông cùng Hiệp trấn Nam Định Nguyễn Nhược Sơn có tiến cử một người là Phi Quý Trại ở Nam Định làm Huyện thừa huyện Tiền Hải. Về sau, Tả thị lang bộ Hộ là Hoàng Quýnh từng làm việc ở Nam Định, biết Trại không có tài năng gì, chỉ lo lợi riêng mà cầu cạnh, bèn dâng sớ hặc. 

      Trong sớ tấu, sau khi nêu rõ chứng cứ, Hoàng Quýnh viết: ”…hoàng thượng cũng chưa từng lấy tình thân ái mà cho riêng ai. Hai gã kia (chỉ Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Nhược Sơn - LN) nghĩ thế nào mà dám lấy quan tước của triều đình làm cái quà của mình để thù đáp riêng. Xin trị tội để ngăn chặn con đường cầu cạnh, mà răn những kẻ bề tôi dối vua làm riêng”. Nhà vua lệnh cho Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Nhược Sơn tấu trình rồi giao cho đình thần nghị xử. Cuối cùng, Công Trứ từ chức Tham Tri (tòng nhị phẩm, như Thứ trưởng ngày nay) bị giáng xuống Tri huyện Kinh huyện (lục phẩm); Nguyễn Nhược Sơn từ Hiệp trấn (chánh tam phẩm) bị giáng xuống Tri huyện Tiền hải (lục phẩm), riêng Quý Trại bị phạt 100 trượng, cho về dân (Đại Nam thực lục chánh biên – NXB Khoa học – Hà Nội 1964, trang 200).

     Thực tế lịch sử cũng cho thấy thời xưa, việc trọng hiền tài không phải là độc quyền của giai cấp thống trị, mà nền giáo dục theo khuôn phép thánh hiền đã hun đúc trong tâm hồn kẻ sĩ một tinh thần tôn trọng người tài. Vụ án danh sĩ Cao Bá Quát tự ý sửa chữa bài thi của thí sinh là một tiêu biểu của tinh thần trọng tài đó. Năm 1841, với chức danh hành tẩu bộ Lễ, họ Cao được bổ làm sơ khảo trường thi Hương Thừa Thiên, ông cùng một sơ khảo khác là Phan Nhạ thấy có mấy quyển bài thi viết rất hay mà tiếc thay người sĩ tử sơ suất để phạm trường qui, bài sẽ phải bị loại, chưa kể tác giả của nó còn có thể bị tội hình.   

       Thương cho những người học trò có tài nhưng không may, Cao Bá Quát quyết liều cứu họ. Theo qui lệ trường thi, giám khảo không được sử dụng chung màu mực đen của thí sinh, ông bàn cùng Phan Nhạ lấy thỏi mực son màu đỏ dùng chấm bài hơ lên đèn cho ra muội đen rồi lấy đó mà sửa chữa mấy chữ phạm qui. Việc làm của hai người bị một viên giám sát trường thi bắt gặp và đàn hặc, cả hai bị tống giam, chờ xử tử, may mà vua Thiệu Trị cho chuyển thành án trảm giam hậu. 

      Làm việc này chắc chắn rằng Cao Bá Quát không vì tư lợi, vì với cách rọc phách bài thi ngày xưa, giám khảo không hề biết người viết bài là ai. Họ Cao chỉ vì tiếc cho cái tài của những người học trò lỡ phạm trường qui mà sẵn lòng đánh đổi cả tính mạng của mình để cứu họ. Hành động của ông được xem là vi phạm phép nước, nhưng về mặt đạo lý, nó phản ánh một tâm hồn cao thượng biết yêu thương và trân trọng người tài.

Lê Nguyễn

10.10.2026