( Tượng ở Ba Tri - Bến Tre )
CHUYỆN XƯA MÀ KHÔNG CŨ
Những ngày qua, trên các phương tiện truyền thông, chuyện trọng dụng nhân tài đang trở thành một trong những chính sách quan trọng của nhà nước đương nhiệm.
Trên tinh thần “ôn cố tri tân”, xin nhắc lại bài viết về đề tài này, đóng góp chút hiểu biết về cách sử dụng người tài của tiền nhân, biết đâu lại chẳng có đôi chút ích lợi cho người đời nay!
CÁCH TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI CỦA NGƯỜI XƯA
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, câu nói đó của Thân Nhân Trung đã trở thành bất tử. Cũng trên tấm bia tiến sĩ đầu tiên được khắc năm 1442, vị Thượng thư họ Thân, triều Lê, đã viết: “nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”. Trong xã hội ta ngày nay, khi cuộc sống của không ít người có thực tài còn gặp nhiều trắc trở, thì việc nhắc lại tinh thần đãi ngộ, trọng dụng nhân tài của người xưa cũng là một cách “ôn cố tri tân” vậy.
Lịch sử triều Lý Anh tông (1138-1175) có ghi lại một câu chuyện thật đáng nhớ về nhân vật Tô Hiến Thành. Ông là một đại công thần, từng đánh Đông dẹp Bắc, được phong chức Nhập nội kiểm hiệu Thái phó, Bình chương quân quốc trọng sự, nhận tước vương của vua ban cho. Những ngày cuối đời, ông lâm bệnh nặng, quan Tham tri chính sự là Vũ Tán Đường ngày đêm chăm sóc ông với tất cả lòng tận tụy, còn quan Gián nghị Đại phu Trần Trung Tá vì quá bận việc công nên không đến thăm ông được.
Nhìn thấy tình hình sức khỏe của ông không có cơ may hồi phục, bà Thái hậu đã đến bên giường ông, xin ông đề cử người thay thế. Khi nghe ông đề cử Trần Trung Tá, bà Thái hậu tròn xoe mắt, gặng hỏi:” Tán Đường ngày nào cũng hầu thuốc thang, ông lại không nói đến, thế là tại sao?”; và ông đã khảng khái trả lời: ”Vì Bệ hạ hỏi người nào đáng thay tôi, nên tôi nói là Trung Tá, nếu như bệ hạ hỏi người nào hầu việc ăn uống thì không phải Tán Đường còn ai?...”.
Câu chuyện đó đã trở thành bài học sâu sắc về cách sử dụng nhân tài của người xưa. Người nắm chính sự phải biết phân biệt giữa tình cảm cá nhân, kể cả lòng biết ơn, với trách nhiệm đề bạt, lựa chọn người thật sự có tài, xứng đáng được giao phó trọng trách điều hành việc nước.
Nói đến cách tuyển chọn và trọng dụng người tài, dù là cách nay hàng ngàn năm hay trong thời đại khám phá vũ trụ bây giờ, khoa cử vẫn là phương cách đắc dụng nhất. Khoa thi đầu tiên ra đời tại nước ta vào năm 1075, dưới triều vua Lý Nhân Tông. Đó là kỳ thi Nho học tam trường và người đỗ đầu là Lê Văn Thịnh, sau làm đến chức Thái sư. Từ đó, các điều kiện khoa cử ngày một hoàn thiện, tiến đến việc tổ chức ba khoa thi tiếp liền nhau là thi Hương để lấy Cử nhân và Tú tài, thi Hội để lấy Tiến sĩ (và Phó bàng vào thời nhà Nguyễn), và thi Đình để xếp hạng tiến sĩ . Đình thí là kỳ thi ở bậc cao nhất, dành cho những người đỗ tiến sĩ trong kỳ thi Hội, được tổ chức tại sân cung điện nhà vua, nên còn gọi là Điện thí.
Thời Lê-Trịnh, đầu buổi thi có sự hiện diện của cả vua Lê, chúa Trịnh. Đề bài do nhà vua đích thân ra, thí sinh làm bài với giấy do triều đình cung cấp, có lính mài mực hầu. Giám khảo chấm bài thi là những quan đại thần học cao hiểu rộng trong triều. Sau nghi thức xướng danh tiến sĩ tổ chức tại sân rồng, cũng với sự chứng kiến của vua và chúa, các tân khoa được ban mũ, áo, đai dành cho bậc tiến sĩ và được dự yến vua ban ở công đường bộ Lễ.
Tuy vậy, việc sử dụng người tài thời xưa không máy móc dựa vào kết quả khoa cử. Các Trạng nguyên, Bảng nhãn khi ra làm quan không được giao ngay cương vị nhất, nhị phẩm triều đình như nhiều tác giả các kịch bản, tuồng hát vẫn phóng đại. Đời vua Lê Thánh Tông, năm 1472, triều đình định lệ tuyển bổ các tiến sĩ, theo đó trạng nguyên được bổ hàm chánh lục phẩm, bảng nhãn hàm tòng lục phẩm, thám hoa hàm chánh thất phẩm, đệ nhị giáp hàm tòng thất phẩm, và đệ tam giáp hàm chánh bát phẩm. Điều đó chứng tỏ rằng dù được trọng thị trong xã hội, người đỗ đạt trong khoa cử vẫn phải có một thời gian nhất định trong hoạn trường để chứng tỏ tài năng và phẩm hạnh của mình rồi mới thăng bổ vào các địa vị cao.
Xã hội xưa cũng nhận thức rõ rằng khoa cử dù hết sức cần thiết, cũng không phải là con đường tiến thân duy nhất của nhân tài xứ sở. Từ rất sớm, tiền nhân đã biết trọng dụng người tài qua phương thức tiến cử. Ngay trong thời kỳ đầu tiên của triều đại nhà Lê, vào tháng 10 âm lịch năm 1429, vua Lê Thái Tổ (1428-1433) đã ban lời chiếu định rằng các đại thần văn võ từ tam phẩm trở lên, mỗi người đều tiến cử một người, hoặc ở trong triều, hoặc ở thôn quê, hoặc đã làm quan, hoặc chưa làm quan. Nhà vua cũng định rõ cách thưởng phạt đối với với kẻ tiến cử người tài: nếu cử được người có tài bực trung thì thăng tước hai bậc, nếu cử được người tài đức đều giỏi, hơn hết mọi người thì được thưởng hậu. Câu cuối cùng của lời chiếu “Còn như kẻ sĩ hàn vi ở chốn hương thôn, cũng chớ lấy ngọc bán rao làm xấu hổ mà để trẫm phải than về thiếu người tài”, nói lên thành tâm của bậc quân vương đối với kẻ sĩ, dù nghèo hèn cũng không nên vì thế mà để đất nước mất đi một người tài.
Đời vua Lê Huyền tông (1663-1671), nhà vua định việc tiến cử rõ ràng hơn: quan nhị phẩm được cử 4 người; từ tam đến ngũ phẩm được cử 3 người; từ lục đến bát phẩm được cử 2 người; “Cử được người xứng đáng thì được khen thưởng. Nếu thấy người được bảo cử phụ lòng người cử, làm càn những việc tham lam đen tối thì cho nói trước ra, khỏi phải tội lây; nếu giấu giếm không nói cũng phải tội như người ấy” (Phan Huy Chú – Lịch triều hiến chương loại chí – Tập I-Quan chức chí – NXB Khoa học Xã hội – Hà Nội 1992, trang 581).
Cuối đời nhà Lê, năm 1786, Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ mang quân ra Bắc “phù Lê diệt Trịnh”, khi tình hình đã tạm ổn, ông nghĩ ngay đến một danh sĩ nức tiếng đương thời là La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp. Trong hai năm 1786-1787, Nguyễn Huệ gửi liên tiếp ba thư mời phu tử ra giúp. Thư nào nhận được, phu tử cũng tìm cách thoái thác, lời lẽ trang nhã, tương kính, song rành mạch, dứt khoát.
Là một tướng quân đầy mưu trí, dũng cảm, hàng vạn người quy phục dưới tay, lại bị một kẻ sĩ cự tuyệt lời mời, Nguyễn Huệ không lấy thế làm giận, khi đã là Bắc Bình vương, rồi Quang Trung hoàng đế, ông vẫn trì chí gửi thư, gửi chiếu mời La Sơn phu tử tới hội kiến hay góp ý về việc nước. Cuối cùng phu tử cũng xiêu lòng, một vài lần đến gặp ông hay trả lời thư hỏi kế sách của ông.
Trong lúc ở Bắc hà, Nguyễn Huệ tỏ lòng trân trọng Nguyễn Thiếp, thì trong Nam, sau khi lấy lại đất Gia Định, chúa Nguyễn Ánh đã vời xử sĩ Võ Trường Toản đến hội kiến và mời ra làm quan. Theo nội dung bi văn do cụ Phan Thanh Giản soạn khắc trên mộ bia Võ Trường Toản thì cụ Võ đã từ chối lời mời ra làm quan. Việc đó không làm phật lòng Nguyễn Ánh, năm 1792, cụ Võ qui tiên, được tin, chúa Nguyễn đã tỏ lòng tiếc thương và ân tứ hiệu “Gia Định Sùng Đức Võ tiên sinh” .
Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh là hai kẻ thù không đội trời chung, song tấm lòng trân trọng người tài của họ như chỉ có một. Dưới triều Nguyễn, việc tiến cử người tài được tiếp tục khuyến khích, tưởng thưởng, song phép vua sẵn sàng chế tài nếu như quan lại triều đình làm sai, cử người thiếu tài, thiếu đức vào bộ máy công quyền.
Năm 1831, triều Minh Mạng, chính Nguyễn Công Trứ, Tham tri Hình bộ, đã rơi vào trường hợp này. Sử chép rằng, trước đó ông cùng Hiệp trấn Nam Định Nguyễn Nhược Sơn có tiến cử một người là Phi Quý Trại ở Nam Định làm Huyện thừa huyện Tiền Hải. Về sau, Tả thị lang bộ Hộ là Hoàng Quýnh từng làm việc ở Nam Định, biết Trại không có tài năng gì, chỉ lo lợi riêng mà cầu cạnh, bèn dâng sớ hặc.
Trong sớ tấu, sau khi nêu rõ chứng cứ, Hoàng Quýnh viết: ”…hoàng thượng cũng chưa từng lấy tình thân ái mà cho riêng ai. Hai gã kia (chỉ Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Nhược Sơn - LN) nghĩ thế nào mà dám lấy quan tước của triều đình làm cái quà của mình để thù đáp riêng. Xin trị tội để ngăn chặn con đường cầu cạnh, mà răn những kẻ bề tôi dối vua làm riêng”. Nhà vua lệnh cho Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Nhược Sơn tấu trình rồi giao cho đình thần nghị xử. Cuối cùng, Công Trứ từ chức Tham Tri (tòng nhị phẩm, như Thứ trưởng ngày nay) bị giáng xuống Tri huyện Kinh huyện (lục phẩm); Nguyễn Nhược Sơn từ Hiệp trấn (chánh tam phẩm) bị giáng xuống Tri huyện Tiền hải (lục phẩm), riêng Quý Trại bị phạt 100 trượng, cho về dân (Đại Nam thực lục chánh biên – NXB Khoa học – Hà Nội 1964, trang 200).
Thực tế lịch sử cũng cho thấy thời xưa, việc trọng hiền tài không phải là độc quyền của giai cấp thống trị, mà nền giáo dục theo khuôn phép thánh hiền đã hun đúc trong tâm hồn kẻ sĩ một tinh thần tôn trọng người tài. Vụ án danh sĩ Cao Bá Quát tự ý sửa chữa bài thi của thí sinh là một tiêu biểu của tinh thần trọng tài đó. Năm 1841, với chức danh hành tẩu bộ Lễ, họ Cao được bổ làm sơ khảo trường thi Hương Thừa Thiên, ông cùng một sơ khảo khác là Phan Nhạ thấy có mấy quyển bài thi viết rất hay mà tiếc thay người sĩ tử sơ suất để phạm trường qui, bài sẽ phải bị loại, chưa kể tác giả của nó còn có thể bị tội hình.
Thương cho những người học trò có tài nhưng không may, Cao Bá Quát quyết liều cứu họ. Theo qui lệ trường thi, giám khảo không được sử dụng chung màu mực đen của thí sinh, ông bàn cùng Phan Nhạ lấy thỏi mực son màu đỏ dùng chấm bài hơ lên đèn cho ra muội đen rồi lấy đó mà sửa chữa mấy chữ phạm qui. Việc làm của hai người bị một viên giám sát trường thi bắt gặp và đàn hặc, cả hai bị tống giam, chờ xử tử, may mà vua Thiệu Trị cho chuyển thành án trảm giam hậu.
Làm việc này chắc chắn rằng Cao Bá Quát không vì tư lợi, vì với cách rọc phách bài thi ngày xưa, giám khảo không hề biết người viết bài là ai. Họ Cao chỉ vì tiếc cho cái tài của những người học trò lỡ phạm trường qui mà sẵn lòng đánh đổi cả tính mạng của mình để cứu họ. Hành động của ông được xem là vi phạm phép nước, nhưng về mặt đạo lý, nó phản ánh một tâm hồn cao thượng biết yêu thương và trân trọng người tài.
Lê Nguyễn
10.10.2026

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét